Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 01 năm 2026
- 05/02/2026 14:20
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Một năm 2026, các địa phương trong tỉnh tập trung thu hoạch cây rau màu vụ đông, làm đất và chuẩn bị các điều kiện phục vụ sản xuất vụ xuân, đồng thời tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn đàn gia súc, gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Đối với cây lâu năm, nhà vườn tiếp tục thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực, đặc sản của tỉnh như cam, bưởi. Hoạt động nuôi trồng thủy sản được duy trì, các cơ sở chủ động thu hoạch và chuẩn bị cho vụ nuôi mới, góp phần giữ vững nhịp độ sản xuất đầu năm. Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau: 1.1. Nông nghiệp a) Trồng trọt Cây hằng năm Sản xuất vụ đông năm 2026: Theo báo cáo của ngành chức năng, hiện toàn tỉnh đã kết thúc gieo trồng các loại cây vụ đông. Ước tính diện tích gieo trồng một số cây vụ đông như sau: cây ngô 7.335 ha, tăng 1,0% (tăng 73 ha); rau các loại 30.885 ha, tăng 1,87% (tăng 567 ha); khoai lang 2.475 ha, tăng 1,21% (tăng 30 ha); lạc 136 ha, tăng 1,55% (tăng 2 ha); đậu tương 631 ha, tăng 1,32% (tăng 8 ha);... Đến thời điểm này, khoảng 41.500 ha cây vụ đông đã cho thu hoạch, tập trung chủ yếu ở các nhóm cây như: ngô, khoai tây sớm và rau màu các loại. Thời gian qua, nhìn chung thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất vụ đông, kết hợp với việc chủ động bố trí thời vụ và áp dụng các biện pháp kỹ thuật đã giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cơ bản ổn định. Các địa phương tiếp tục đẩy mạnh mở rộng diện tích cây vụ đông trên đất hai vụ lúa, tận dụng tối đa quỹ đất nông nghiệp nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất và gia tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích. Vụ đông năm 2026, các địa phương trong tỉnh tập trung khuyến khích nông dân phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, nâng cao chất lượng nông sản, đẩy mạnh các mô hình sản xuất rau an toàn, rau VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp, hợp tác xã và thương lái nhằm hình thành chuỗi cung ứng ổn định, hạn chế rủi ro về đầu ra cho sản phẩm. Vụ xuân năm 2026: Cùng với việc gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch cây vụ đông, thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hiện kế hoạch gieo trồng vụ xuân năm 2026. Năm nay, toàn tỉnh phấn đấu gieo cấy 95.500 ha lúa xuân. Hiện các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ cày ải, nạo vét thủy lợi nội đồng, lấy đủ nước đổ ải phục vụ làm đất, gieo cấy lúa, chủ động nguồn cung giống lúa, phân bón. Theo kế hoạch đổ ải của tỉnh, lịch lấy nước đổ ải chia làm 2 đợt: đợt 1 từ này 01/01/2026 - 25/01/2026; đợt 2 từ ngày 26/01/2026 - 15/02/2026. Toàn tỉnh phấn đấu 100% diện tích có đủ nước phục vụ gieo cấy lúa xuân, bảo đảm khung thời vụ. Cây lâu năm Năm 2025, sơ bộ tổng diện tích các loại cây lâu toàn tỉnh đạt 24.635 ha, tăng 1,09% (tăng 266 ha) so với năm trước. Sự gia tăng diện tích chủ yếu tập trung ở nhóm cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Thời điểm cuối năm 2025 và đầu năm 2026, điều kiện thời tiết nhìn chung tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Các nhà vườn hiện đang tập trung thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực như cam, bưởi, đặc biệt là các sản phẩm đặc sản của địa phương như cam đường canh, bưởi Diễn. Đây cũng là thời điểm các nhà vườn tích cực chuẩn bị cây cảnh và hoa phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Hoạt động sản xuất và kinh doanh cây cảnh diễn ra sôi động, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn mở rộng tiêu thụ ra các địa phương lân cận, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân. b) Chăn nuôi Hiện nay, đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định. Dịch bệnh Tả lợn châu Phi đã qua 21 ngày không phát sinh ổ dịch mới. Tuy nhiên, diễn biến thời tiết thay đổi bất lợi, tạo điều kiện cho các loại mầm bệnh phát triển, lây lan và gây bệnh. Cùng với đó, nhu cầu vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ động vật và sản phẩm động vật tăng mạnh để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán và lễ hội xuân nên nguy cơ phát sinh dịch bệnh trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 vẫn ở mức cao. Để bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi phục vụ thị trường dịp Tết và duy trì phát triển ổn định trong năm mới, ngành chức năng khuyến cáo người chăn nuôi không chủ quan, lơ là trước diễn biến dịch bệnh. Các hộ chăn nuôi cần thực hiện nghiêm các biện pháp vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi; bảo đảm môi trường thông thoáng, giữ ấm cho đàn vật nuôi; cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và thường xuyên theo dõi sức khỏe đàn gia súc, gia cầm để kịp thời phát hiện bệnh. Đồng thời, khi phát hiện dấu hiệu bất thường, người chăn nuôi cần thông báo ngay cho cơ quan thú y để có biện pháp xử lý kịp thời. Ước tính tại thời điểm 31/01/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 12.126 con, tăng 0,15%; đàn bò 84.098 con, tăng 0,34%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.035.971 con, tăng 2,05%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.776 nghìn con, tăng 3,64% (trong đó: đàn gà đạt 17.322 nghìn con, tăng 2,07%) so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng Một dự báo sẽ tăng mạnh để bảo đảm nguồn cung phục vụ dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. c) Lâm nghiệp Tháng Một, tình hình sản xuất lâm nghiệp của Hưng Yên không có biến động lớn. Các số liệu thống kê về diện tích rừng trồng mới tập trung, số vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá không phát sinh trong kỳ báo cáo. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Một năm 2026 ước đạt 608 m³, giảm 0,33%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 9,5 nghìn cây, giảm 4,04% so với cùng kỳ năm 2025. d) Sản xuất thủy sản Trong tháng Một, sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Một ước đạt 8.808 tấn, tăng 2,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.362 tấn, tăng 2,92%; tôm 104 tấn, tăng 2,97%; thủy sản khác 3.342 tấn, tăng 2,74%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Các cấp, các ngành tăng cường chỉ đạo, quản lý vùng nuôi tập trung và các điểm nuôi cá lồng trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng, nhằm bảo đảm an toàn môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các đối tượng nuôi lồng chủ yếu gồm cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen, trong đó tập trung nhiều ở nhóm cá lăng, cá chép, cá trắm và diêu hồng. Hoạt động nuôi hàu cửa sông tiếp tục được duy trì với quy mô khoảng 2.110 bè, tập trung tại khu vực cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Một ước đạt 17.313 tấn, tăng 3,16% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 6.392 tấn, tăng 2,63%; tôm 93 tấn, tăng 2,78%; thủy sản khác 10.828 tấn, tăng 3,48%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Một tăng 0,09%, trong đó: khai khoáng giảm 1,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,36%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,78%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,24%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 18,97%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 17,46%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 9,47%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 3,11%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 2,76%; thức ăn cho gia cầm tăng 2,41%; khí tự nhiên dạng khí tăng 1,72%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 1,69%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 1,44%; điện sản xuất tăng 1,31%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 2,35%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 5,32%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 30,28%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 26,54%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 24,27%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 21,38%; tôm đông lạnh giảm 18,60%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 3,0%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 14,58%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 15,56%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 14,37%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng giảm 8,95%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Một tăng 15,64%, trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 10,96%; chế biến, chế tạo tăng 16,64%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và hơi nước tăng 6,83%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý lý rác thải, nước thải tăng 12,37%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: mạch điện tử tích hợp tăng 94,61%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 39,72%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 37,30%; tôm đông lạnh tăng 37,25%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 34,02%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 32,46%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 30,48%; Nitơrat Amoni tăng 29,59%; quần áo các loại tăng 27,64%; mạch in khác tăng 24,05%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 23,98%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 23,47%; nước khoáng không có ga tăng 20,46%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 9,51%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 10,48%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 37,56%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 81,25%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 39,99%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 6,40%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 5,61%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 2,02%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 1,17%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 11,42%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng Một, tỉnh Hưng Yên tập trung đẩy mạnh các dự án hạ tầng giao thông và khu công nghiệp, với trọng tâm là hoàn thiện mạng lưới kết nối vùng và phát triển đô thị, tiêu biểu là khởi công các công trình giao thông quan trọng, hình thành thêm cụm công nghiệp mới, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển bứt phá. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Một năm 2026 ước đạt 2.209 tỷ đồng, tăng 7,14%, tương ứng tăng 147 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 5,13% vốn kế hoạch năm. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.242 tỷ đồng, tăng 12,78%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 967 tỷ đồng, tăng 0,68%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/01/2026, toàn tỉnh có 965 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.246,54 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/01/2026, có 5 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 23,78 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 198 dự án, vốn đăng ký là 6.178,31 triệu USD, chiếm 35,82% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 368 dự án, vốn đăng ký 4.475,55 triệu USD, chiếm 25,95% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 213 dự án, vốn đăng ký 2.302,83 triệu USD, chiếm 13,35% tổng vốn đăng ký. 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một toàn tỉnh ước đạt 27.810 tỷ đồng, tăng 2,63% so với tháng trước và tăng 15,19% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Một năm 2026 ước đạt 14.648 tỷ đồng, chiếm 52,67% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 5,21% so với tháng trước. Trong đó, các nhóm ngành tăng cao so với tháng trước như: lương thực, thực phẩm tăng 2,57%; hàng may mặc tăng 11,29%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,98%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 26,48%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 14,83%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 6,33%; xăng, dầu các loại tăng 4,74%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 3,05%; hàng hóa khác tăng 7,65%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 4,36%. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tháng Một tăng 13,65%. Trong đó, tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so cùng kỳ năm trước và tăng mạnh là các nhóm hàng như: lương thực, thực phẩm tăng 15,12%; hàng may mặc tăng 25,01%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,64%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 25,17%; xăng dầu các loại tăng 8,69%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 20,05%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 56,58%; hàng hóa khác tăng 14,86%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 9,15%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Một ước đạt 1.230 tỷ đồng, tăng 8,17% so với tháng trước và tăng 14,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 35 tỷ đồng, tăng 2,82% so với tháng trước và tăng 13,94% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.194 tỷ đồng, tăng 8,34% so với tháng trước và tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Một ước đạt 6 tỷ đồng, giảm 6,74% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Hiện là thời điểm giáp Tết Nguyên đán, người dân đang tập trung lao động, sản xuất, kinh doanh, chuẩn bị cho dịp Tết, nên nhu cầu đi du lịch có biến động giảm so với tháng trước. Cùng thời điểm này năm 2025 đang là Tết Nguyên đán Ất Tỵ nên nhu cầu đi du lịch của người dân giảm, vì vậy doanh thu dịch vụ lữ hành tháng Một năm nay tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Một ước đạt 11.926 tỷ đồng, giảm 0,87% so với tháng trước và tăng 17,16% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: Dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 10.652 tỷ đồng tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 482 tỷ đồng, giảm 9,76% so với tháng trước và tăng 9,05% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 183 tỷ đồng, giảm 4,98% so với tháng trước và tăng 5,76% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 222 tỷ đồng, giảm 8,09% so với tháng trước và tăng 5,47% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 321 tỷ đồng, giảm 4,90% so với tháng trước và tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng Tháng Một năm 2026 là tháng giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng dần, tập trung chủ yếu ở các mặt hàng lương thực, thực phẩm và dịch vụ phục vụ Tết. Các cấp, các ngành đã chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa, tăng cường quản lý và bình ổn giá cả nên thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không xảy ra tình trạng khan hiếm. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Một tăng nhẹ - tăng 0,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước, nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 2,57%; còn lại 09 nhóm có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,60%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,55%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; bưu chính viễn thông tăng 0,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,47%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,47%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Một tăng 1,99%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,14% (lương thực giảm 2,25%; thực phẩm tăng 3,42%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,47%); đồ uống và thuốc lá tăng 4,35%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,78%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,67%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,17%; bưu chính viễn thông tăng 0,30%; giáo dục tăng 1,11%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,50%; riêng nhóm giao thông giảm 4,99%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 01/2026 tăng 3,60% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng thế giới duy trì xu hướng tăng trước những biến động của thị trường tài chính và kinh tế quốc tế, làm gia tăng vai trò của vàng như kênh tích trữ an toàn. Trong nước, chênh lệch cung - cầu vàng miếng vẫn ở mức cao, cùng với tâm lý nắm giữ vàng của người dân tăng, đã khiến giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến chung của thị trường thế giới. Hiện giá vàng đang ở mức cao nhất trong mấy tháng trở lại đây, bình quân tháng 01/2026, giá vàng xấp xỉ 15.930.800 VNĐ/chỉ. Tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định. Bên cạnh đó, chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đã góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 01/2026 giảm 0,35% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.265 VNĐ. 6. Hoạt động vận tải Tháng Một là tháng giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 nên nhu cầu đi lại của người dân, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và nhu cầu về kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng, đặc biệt là nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Một ước đạt 2.372 tỷ đồng, tăng 4,67% so với tháng trước và tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Một ước đạt 5,8 triệu lượt người vận chuyển và 586 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 1,61% về lượt người vận chuyển, tăng 1,24% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 10,66% về lượt người vận chuyển, tăng 21,54% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 399 tỷ đồng, tăng 4,47% so với tháng trước và tăng 7,82% so cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Một ước đạt 6,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.678 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt tăng 4,31% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 3,02% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 10,88 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 5,82% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.759 tỷ đồng, tăng 4,87% so với tháng trước và tăng 14,64% so cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Một ước đạt 189 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 6,24% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Một ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 14,49% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Một ước đạt 8.379 tỷ đồng, tăng 23,28% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 7.824 tỷ đồng, tăng 23,31%; thuế xuất nhập khẩu 555 tỷ đồng, tăng 22,81%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 126 tỷ đồng, tăng 34,77%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 837 tỷ đồng, tăng 8,30%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 3.629 tỷ đồng, tăng 13,49%; thu thuế thu nhập cá nhân 413 tỷ đồng, tăng 35,05%; các khoản thu về đất 2.306 tỷ đồng, tăng 37,07%;... b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Một ước đạt 1.555 tỷ đồng, giảm 50,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 363 tỷ đồng, giảm 71,63%; chi thường xuyên 1.191 tỷ đồng, giảm 35,21%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 7 tỷ đồng, giảm 66,82%; chi giáo dục, đào tạo 444 tỷ đồng, giảm 39,57%; chi sự nghiệp y tế 22 tỷ đồng, giảm 72,11%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 6 tỷ đồng, giảm 72,93%; chi đảm bảo xã hội 356 tỷ đồng, tăng 20,01%; chi quản lý hành chính 294 tỷ đồng, giảm 48,55%;... Nguyên nhân chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Một giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước do hiện nay các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước đang xử lý nốt các khoản chi của năm 2025, có ít đơn vị chi cho năm 2026. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/01/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 311.500 tỷ đồng, tăng 0,71% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 309.400 tỷ đồng, tăng 0,71% và chiếm 99,33% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 2.100 tỷ đồng, tăng 0,57% và chiếm 0,67%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/01/2026 đạt 266.000 tỷ đồng, tăng 0,41% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.500 tỷ đồng, tăng 0,39%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 73.500 tỷ đồng, tăng 0,46%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 259.500 tỷ đồng, tăng 0,37%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 6.500 tỷ đồng, tăng 1,96%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 172.220 tỷ đồng, tăng 0,13% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 112.600 tỷ đồng, tăng 0,18%; xuất khẩu 1.630 tỷ đồng, tăng 0,62%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.455 tỷ đồng, tăng 0,01%; công nghiệp hỗ trợ 5.345 tỷ đồng, tăng 0,09%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 190 tỷ đồng, ổn định so với thời điểm 31/12/2025. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/01/2026 là 1.900 tỷ đồng (chiếm 0,71% dư nợ tín dụng), ổn định so với với thời điểm 31/12/2025. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI1. Lao động việc làm Năm 2025, nhìn chung các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động khắc phục khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, tiền lương và thu nhập ổn định cho người lao động; thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu, điều chỉnh thang lương, bảng lương phù hợp. Ngoài tiền lương, nhiều doanh nghiệp thực hiện các chế độ phụ cấp, hỗ trợ cho người lao động. Không phát sinh tình trạng nợ lương. Tiền lương bình quân năm 2025 của người lao động trong các doanh nghiệp đạt 7.500.000 đồng/người/tháng, thu nhập bình quân đạt 8.000.000 đồng/người/tháng; mức tiền lương cao nhất 300.000.000 đồng/người/tháng. Về tiền thưởng Tết năm 2026, thưởng Tết Dương lịch bình quân khoảng 500.000 đồng/người, cao nhất 25.000.000 đồng/người; thưởng Tết Âm lịch bình quân từ 6.500.000 đến 8.000.000 đồng/người, cao nhất 300.000.000 đồng/người. Tuy nhiên, vẫn còn một số doanh nghiệp chưa xây dựng kế hoạch thưởng do khó khăn về nguồn lực. Đến thời điểm hiện tại, trong tỉnh không xảy ra tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể. Trong tháng 01/2026, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.191 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 2.059 lượt người lao động; tổ chức 01 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 34 người lao động. 2. An sinh xã hội Công tác người có công: Công tác thực hiện chế độ ưu đãi, chăm sóc người có công trong tỉnh được tổ chức triển khai kịp thời, toàn diện. Đã tiếp nhận khoảng 1.300 lượt hồ sơ, tham mưu giải quyết khoảng 1.400 lượt; 100% hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 về việc tặng quà cho người có công với cách mạng. Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 817/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về Quy định về quà tặng của tỉnh Hưng Yên nhân dịp Tết Nguyên đán và ngày Thương binh - Liệt sĩ đối với đối tượng chính sách người có công với cách mạng; cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Công tác hộ nghèo, hộ cận nghèo: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2025 tỉnh Hưng Yên: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 10.335 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 0,99%; tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh 12.134 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 1,16% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Mặt trận Tổ quốc tỉnh phân bổ 8,268 tỷ đồng từ Quỹ “Vì người nghèo” để tặng quà cho 10.335 hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh. Mỗi suất quà trị giá 800.000 đồng, gồm 500.000 đồng tiền mặt và 300.000 đồng tiền nhu yếu phẩm thiết yếu, góp phần giúp các gia đình vơi bớt khó khăn, đón Tết cổ truyền ấm áp, đủ đầy. Bên cạnh đó, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh sẽ phối hợp cùng các cơ quan, doanh nghiệp và nhà hảo tâm thông qua nguồn xã hội hóa để mở rộng đối tượng hỗ trợ đến các hộ cận nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đối tượng bảo trợ xã hội, bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn. Chuẩn bị khoảng 1.500 suất quà để các đồng chí Lãnh đạo tỉnh thăm và tặng quà tại cơ sở. Công tác Người cao tuổi: Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, UBND tỉnh cấp kinh phí là 54.250.700.000 đồng để tặng quà (bằng tiền mặt) chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi ở các mốc tuổi: 70, 75, 80, 85, các cụ ở tuổi 91 đến 99, tròn 100, trên 100 tuổi. Công tác trẻ em: Trích Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh tổ chức các hoạt động chăm lo cho trẻ em nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Cụ thể: tổ chức Chương trình “Mùa xuân cho em” tại Làng trẻ em SOS Thái Bình; tổ chức thăm, tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các trường giáo dục chuyên biệt, cơ sở bảo trợ xã hội; tổ chức thăm, tặng quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn tại cộng đồng. Số lượng từ 500 - 600 lượt trẻ em. 3. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Trong tháng, toàn tỉnh tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền cổ động chào mừng 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946 - 06/01/2026); chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội diễn ra từ ngày 19/01 - 23/01/2026) và chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026). Bảo tàng tỉnh trưng bày chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”, “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”; đón, phục vụ 1.638 khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh. Thư viện tỉnh: Tỉnh tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sách báo nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương bằng nhiều hình thức, trọng tâm là chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; viết 02 bài giới thiệu sách kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; 01 bài giới thiệu sách chuyên đề “Phố Hiến, lịch sử - văn hóa” nhân dịp tổ chức “Hội thảo khoa học - thực tiễn về phục dựng, tái hiện, hồi sinh di sản Phố Hiến gắn với kiến tạo hệ sinh thái du lịch sáng tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay” đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh. Nhà hát Chèo Hưng Yên đã tổ chức 04 buổi nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 110 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 55 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân. Tối ngày 24/01/2026 tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh (trước Trung tâm Thông tin - Hội nghị tỉnh Hưng Yên) đã diễn ra Chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa nổ tầm thấp chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) và chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng. Chương trình được tổ chức nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân, góp phần động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng và hướng tới các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. b) Hoạt động thể dục thể thao Tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch đào tạo, huấn luyện, thi đấu năm 2026. Tổ chức đánh giá, thải loại, tuyển vận động viên bảo đảm sĩ số. Tổ chức đào tào, huấn luyện, chuẩn bị lực lượng vận động viên các môn sẵn sàng tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế. Tổ chức kiểm tra y học, kiểm tra thể lực chung, chuyên môn đối với VĐV các môn thể thao trong giai đoạn chuyển tiếp 2025-2026; xây dựng lực lượng vận động viên tham dự Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. c) Hoạt động du lịch Tỉnh xây dựng bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên: Logo huy hiệu cài áo, túi du lịch Hưng Yên, ảnh đẹp du lịch, móc treo chìa khoá; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam ghi hình 02 phim quảng bá du lịch Hưng Yên trong chương trình Around Việt Nam: “Theo dấu linh thiêng hào khí Đông A”, “Hành trình về miền đất linh thiêng Hưng Yên”; xây dựng Kế hoạch “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026”; xây dựng Kế hoạch tham gia Hội chợ mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam, Đông Anh, thành phố Hà Nội; vận động doanh nghiệp đăng ký tham gia giới thiệu ẩm thực, sản phẩm OCOP tại chương trình Vui Xuân Bính Ngọ - Sắc màu văn hóa Hưng Yên tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam; phối hợp quản lý đất đai tại khu du lịch sinh thái Cồn Vành. Tỉnh đặt 14 bảng quét QR-Code thông tin du lịch tại các điểm trên địa bàn tỉnh; duy trì hoạt động Cổng thông tin du lịch thông minh; viết tin, bài đăng tải trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube về các hoạt động du lịch trong tỉnh thu hút hơn 3.000 lượt truy cập. 4. Hoạt động y tế Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa đông; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng Một, toàn tỉnh không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Cụ thể: Bệnh do liên câu lợn 0 ca; SXH 09 ca; Sởi 06 ca; Tay chân miệng 31 ca; Ho gà 01 ca; Lao phổi 30 ca; Viêm gan B 28 ca; Viêm gan C 06 ca; VN virut khác 0 ca; Adeno 0 ca; Cúm 874 ca; Lỵ 0 ca; Quai bị 0 ca; Thủy đậu 0 ca; Tiêu chảy 0 ca; Covid 01 ca. 5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng qua (từ ngày 26/12/2025 đến ngày 25/01/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 09 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 03 vụ với số tiền xử phạt 141 triệu đồng. So với tháng 12/2025, số vụ vi phạm giảm 09 vụ, giảm 50,0%; số vụ đã xử lý giảm 01 vụ, giảm 25,0%; số tiền xử phạt giảm 286,50 triệu đồng, giảm 67,02%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 18 vụ, giảm 66,67%; số vụ đã xử lý giảm 18 vụ, giảm 85,71%; số tiền xử phạt giảm 1.047,58 triệu đồng, giảm 88,14%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 06 vụ cháy, không có vụ nổ (phường Đường Hào xảy ra 01 vụ; xã Yên Mỹ 01 vụ; xã Nguyễn Văn Linh 01 vụ, xã Như Quỳnh 01 vụ, xã Nam Cường 01 vụ, xã Lạc Đạo 01 vụ); không có người chết và bị thương do cháy. Giá trị thiệt hại về tài sản do cháy là 857 triệu đồng. 6. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông (đều là tai nạn đường bộ), làm chết 28 người, làm bị thương 37 người. So với tháng 12 năm 2025, số vụ tai nạn giảm 07 vụ, giảm 12,50%; số người chết giảm 03 người, giảm 9,68%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 9,76%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 9,26%; số người chết giảm 03 người, giảm 9,68%; số người bị thương tăng 10 người, tăng 37,04%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 11 và 11 tháng năm 2025
- 19/12/2025 09:57
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Mười Một, các địa phương trong tỉnh khẩn trương thu hoạch xong diện tích lúa mùa còn lại; tổ chức gieo trồng, chăm sóc cây rau màu vụ đông; đồng thời tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng lâu năm và bảo đảm an toàn cho đàn gia súc, gia cầm. Kết quả cụ thể như sau: a) Trồng trọt Cây hằng năm Vụ mùa: Đến nay, toàn tỉnh đã kết thúc thu hoạch lúa mùa. Theo đánh giá từ các địa phương, năng suất gieo trồng lúa mùa ước đạt 59,21 tạ/ha, tăng 34,55% (tăng15,20 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 572.710 tấn, tăng 31,99% (tăng 138.809 tấn) so với vụ mùa năm 2024. Ước tính năng suất gieo trồng và sản lượng gieo trồng một số cây hằng năm vụ mùa như sau: năng suất ngô 58,17 tạ/ha, tăng 30,31% (tăng 13,53 tạ/ha), sản lượng ngô 17.337 tấn, tăng 25,75% (tăng 3.551 tấn); năng suất đậu tương 21,94 tạ/ha, tăng 3,95% (tăng 0,83 tạ/ha), sản lượng đậu tương 1.149 tấn, tăng 0,18% (tăng 2 tấn); năng suất rau các loại 257,38 tạ/ha, tăng 20,32% (tăng 43,47 tạ/ha), sản lượng rau các loại 316.070 tấn, tăng 21,70% (tăng 56.367 tấn). Nguyên nhân chủ yếu khiến năng suất và sản lượng gieo trồng một số cây hằng năm vụ mùa năm nay tăng mạnh so với năm ngoái là do tháng Chín năm 2024, bão số 3 (bão Yagi) có cường độ rất mạnh đổ bộ vào nước ta. Bão và mưa, lũ sau bão đã gây ra đợt mưa lớn tại khắp các tỉnh Bắc Bộ, làm ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Sản xuất cây vụ đông năm 2026: Đến ngày 20/11/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng khoảng 39.800 ha các loại cây vụ đông (đạt khoảng 92,3% diện tích). Trong đó: cây ngô 7.495 ha, tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 1.852 ha, tăng 2,03%; đậu tương 199 ha, tăng 4,47%; lạc 170 ha, tăng 3,72%; rau các loại 18.237 ha, tăng 1,79%; đậu các loại 1.100 ha, tăng 1,81%. Nông dân các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ sản xuất; mở rộng diện tích gieo trồng bằng các loại cây ngắn ngày và nhóm cây ưa lạnh như khoai tây, su hào, bắp cải, đồng thời tăng cường công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đối với diện tích cây vụ đông đã xuống giống. Đối với những diện tích rau màu đến kỳ thu hoạch, nhà nông cần thu hái kịp thời nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh ổn định, các nhà vườn chú trọng phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Ước tính năm 2025, tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm toàn tỉnh đạt 24.427 ha, tăng 0,24%, tương ứng tăng 58 ha so với năm 2024. Trong đó: cây ăn quả 20.888 ha, tăng 0,25% (tăng 52 ha); cây lấy quả chứa dầu 59 ha, tăng 0,25% (tăng 0,15 ha); cây chè diện tích ổn định, đạt 138 ha; cây gia vị và dược liệu lâu năm 1.172 ha, giảm 2,13% (giảm 26 ha); cây lâu năm khác 2.170 ha, tăng 1,46% (tăng 31 ha). Ước tính năng suất một số loại cây lâu năm chủ yếu năm 2025 như sau: chuối 327,15 tạ/ha, tăng 2,30% (tăng 7,34 tạ/ha) so với năm trước; ổi 223,50 tạ/ha, tăng 0,90% (tăng 1,99 tạ/ha); cam 193,52 tạ/ha, tăng 8,79% (tăng 15,64 tạ/ha); bưởi 179,86 tạ/ha, tăng 8,62% (tăng14,28 tạ/ha); táo 164,73 tạ/ha, tăng 4,31% (tăng 6,81 tạ/ha); nhãn 102,42 tạ/ha, tăng 15,58% (tăng 13,80 tạ/ha); vải 146,99 tạ/ha, tăng 6,62% (tăng 9,13 tạ/ha). Ước tính sản lượng một số loại cây lâu năm chủ yếu năm 2025 như sau: chuối 148.353 tấn, tăng 14,68% (tăng 18.985 tấn) so với năm trước; ổi 20.655 tấn, tăng 5,96% (tăng 1.161 tấn); cam 33.875 tấn, tăng 9,11% (tăng 2.827 tấn); táo 7.145 tấn, tăng 4,63% (tăng 316 tấn); nhãn 56.010 tấn, tăng 20,19% (tăng 9.408 tấn); vải 24.475 tấn, tăng 9,70% (tăng 2.164 tấn). Năng suất, sản lượng các cây lâu năm chủ yếu năm 2025 tăng cao so với năm 2024 là do năm 2024, cơn bão số 3 (bão Yagi) và mưa, lũ sau bão đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. b) Chăn nuôi Trong tháng Mười Một, bệnh dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại các xã cũ và 01 xã mới (xã Hồng Minh). Lũy kế đến ngày 14/11/2025, dịch đã xảy ra tại 439 hộ trên địa bàn 136 thôn của 35 xã. Tổng số lợn đã tiêu huỷ trên địa bàn tỉnh lũy kế đến ngày 14/11/2025 là 12.594 con (735 con lợn nái và 11.859 con lợn thịt); khối lượng lợn tiêu hủy 756.572 kg (khối lượng lợn nái 153.334 kg và khối lượng lợn thịt 603.239 kg). Cùng thời gian này, tỉnh đã triển khai tiêm phòng vắc xin vụ thu đông năm 2025 cho đàn gia súc, gia cầm theo kế hoạch. Công tác giám sát dịch bệnh được tăng cường. Các địa phương chủ động chuẩn bị đầy đủ vật tư, hóa chất và nhân lực, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống dịch bệnh có thể phát sinh. Ước tính tại thời điểm 30/11/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.971 con, tăng 0,61%; đàn bò 83.514 con, tăng 0,47%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.045.754 con, tăng 1,17%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.846 nghìn con, tăng 1,71% (trong đó: đàn gà 16.963 nghìn con, tăng 1,98%) so với cùng thời điểm năm trước. c) Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp tháng Mười Một tập trung vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và chuẩn bị trồng bổ sung rừng ngập mặn ven biển. Các xã ven biển có rừng tiếp tục quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có. Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 204 m3, tăng 1,49%; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 52 nghìn cây, tăng 3,61% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế mười một tháng năm 2025, tỉnh đã trồng mới 7 ha rừng thuộc khu vực Thái Thụy cũ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.194 m³, giảm 0,12%; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.508 nghìn cây, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. d) Sản xuất thủy sản Tháng Mười Một, tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, hướng tới phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và an toàn thực phẩm. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Mười Một ước đạt 7.673 tấn, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.760 tấn, tăng 3,02%; tôm 293 tấn, tăng 2,81%; thủy sản khác 1.620 tấn, tăng 2,99%. Lũy kế mười một tháng, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 93.808 tấn, tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 62.458 tấn, tăng 3,57%; tôm đạt 2.020 tấn, tăng 3,11%; thủy sản khác 29.330 tấn, tăng 4,22%. Nuôi trồng thủy sản: cơ quan chuyên môn đã tăng cường chỉ đạo, quản lý vùng nuôi tập trung và các điểm nuôi cá lồng trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng nhằm bảo đảm an toàn môi trường và hiệu quả sản xuất. Các đối tượng thủy sản nuôi trong lồng bao gồm: cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen,... Trong đó, nuôi chủ yếu là cá lăng, chép, trắm và diêu hồng. Nuôi hàu cửa sông đạt 2.110 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú. Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh tháng Mười Một ước đạt 23.476 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 9.140 tấn, tăng 4,09%; tôm 803 tấn, tăng 3,21%; thủy sản khác 13.533 tấn, tăng 3,27%. Lũy kế mười một tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 223.732 tấn, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 91.832 tấn, tăng 2,99%; tôm 5.793 tấn, tăng 3,59%; thủy sản khác 126.107 tấn, tăng 2,78%. 2. Sản xuất công nghiệp Thời gian qua, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều doanh nghiệp đầu tư mới và mở rộng quy mô sản xuất, sản xuất các sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nhiều đơn hàng mới được ký kết, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười Một tăng 2,46%. Trong đó: khai khoáng tăng 1,11%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,68%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: điện sản xuất tăng 17,87%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 17,10%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 12,11%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 11,88%; thức ăn cho gia cầm tăng 6,79%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 6,25%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 4,12%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 3,27%; quần áo các loại tăng 2,14%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 1,12%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân giảm 7,46%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 5,0%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 31,16%; mạch điện tử tích hợp giảm 8,66%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng giảm 7,85%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 1,41%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Một tăng 15,74%. Trong đó: khai khoáng tăng 11,22%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,76%; sản xuất và phân phối điện tăng 15,61%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,65%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: Nitơrat Amoni tăng 711,93%; mạch điện tử tích hợp tăng 74,40%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 33,55%; gỗ, ốp lát công nghiệp tăng 31,49%; quần áo các loại tăng 17,86%; điện sản xuất tăng 17,45%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 16,71%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 15,14%; thức ăn cho gia cầm tăng 13,11%; điện thương phẩm tăng 11,35%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 10,86%; mạch in khác tăng 10,66%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 10,40%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 23,05%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 20,42%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 23,85%; dây thép không gỉ tăng 46,36%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 46,37%; giày dép khác chưa được phân vào đâu giảm 39,53%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 24,72%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 16,68%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 11,81%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân giảm 32,63%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 39,01%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 21,15%; tôm đông lạnh giảm 9,72%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 8,73%;... Tính chung mười một tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,26% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Cụ thể: chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 16,07%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,66%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 7,26%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 13,50%. Trong đó, hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh đều có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 96,34%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 31,79%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,48%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 19,69%; sản xuất thiết bị điện tăng 19,48%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,51%; sản xuất trang phục tăng 17,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 17,35%;... Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất đồ uống giảm 4,10%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 3,96%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,37%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 3,78%;... Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh trong mười một tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 68,35%; giày dép khác chưa được phân vào đâu tăng 31,89%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 24,76%; quần áo các loại tăng 18,75%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 18,0%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 17,80%; khí tự nhiên dạng khí tăng 16,97%; Nitơrat Amoni tăng 15,17%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 8,35%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 25,50%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 31,57%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 50,98%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 35,77%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 17,22%; mạch điện tử tích hợp giảm 13,66%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 9,47%; tôm đông lạnh giảm 8,59%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 8,25%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 19,62%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 3,40%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Ngày 31/10/2025, tỉnh Hưng Yên đã làm lễ khởi công xây dựng tuyến đường từ phường Thái Bình đi qua xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến (tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên cũ). Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ phường Thái Bình đi qua xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 305/QĐ-UBND ngày 16/7/2025 với tổng mức đầu tư 4.927 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách tỉnh, ngân sách Trung ương hỗ trợ. Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 2 tỉnh làm chủ đầu tư, liên danh Công ty Cổ phần xây dựng Xuân Quang, Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn thi công có tổng chiều dài 24,8km, đi qua phường Thái Bình và các xã Nam Tiên Hưng, Tiên Hưng, Hồng Minh, Hưng Hà, Tiên La và Ngự Thiên, với điểm đầu tại nút giao với Quốc lộ 10, thuộc phường Thái Bình, điểm cuối tại đầu cầu vượt sông Luộc, thuộc xã Ngự Thiên. Toàn tuyến có 8 cây cầu và 9 nút giao cùng mức, bảo đảm an toàn, thông suốt và kết nối liên hoàn với hạ tầng hiện hữu. Thời gian thực hiện dự kiến từ năm 2025 đến năm 2028. Ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Mười Một đạt 5.407 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 77,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.418 tỷ đồng, tăng 11,24% so với tháng trước và tăng 103,42% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.989 tỷ đồng, tăng 2,05% so với tháng trước và tăng 44,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 35.551 tỷ đồng, tăng 54,81% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,97% so với kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 21.020 tỷ đồng, tăng 91,52% so với cùng kỳ năm trước và đạt 66,74% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 14.531 tỷ đồng, tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước và đạt 64,88% kế hoạch năm. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/11/2025, toàn tỉnh có 940 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.814,06 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/11/2025, có 132 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.680,71 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 194 dự án, vốn đăng ký là 6.165,02 triệu USD, chiếm 36,67% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 354 dự án, vốn đăng ký 4.416,19 triệu USD, chiếm 26,26% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 208 dự án, vốn đăng ký 2.287,37 triệu USD, chiếm 13,60% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 359 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 2.704 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 66 doanh nghiệp, vốn đăng ký 728 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 127 doanh nghiệp, vốn đăng ký 525 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 14 doanh nghiệp, vốn đăng ký 303 tỷ đồng; vận tải kho bãi 34 doanh nghiệp, vốn đăng ký 420 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 19 doanh nghiệp, vốn đăng ký 44 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, vốn đăng ký 39 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 15 doanh nghiệp, vốn đăng ký 46 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh có 4.903 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 66.151 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.996 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 7.146 tỷ đồng (chiếm 10,80% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 1.078 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 24.137 tỷ đồng (chiếm 36,49%); xây dựng 354 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.925 tỷ đồng (chiếm 4,42%); hoạt động vận tải, kho bãi 306 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.041 tỷ đồng (chiếm 3,09%); giáo dục và đào tạo 304 doanh nghiệp, vốn đăng ký 799 tỷ đồng (chiếm 1,21%); kinh doanh bất động sản 193 doanh nghiệp, vốn đăng ký 21.681 tỷ đồng (chiếm 32,78%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 176 doanh nghiệp, vốn đăng ký 707 tỷ đồng (chiếm 1,07%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 116 doanh nghiệp, vốn đăng ký 519 tỷ đồng (chiếm 0,78%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Mười Một (tính từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025) là 69 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 663 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp giải thể là 95 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 86 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh có 641 doanh nghiệp giải thể và 1.604 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 124 doanh nghiệp giải thể và 364 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,34% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 22,69% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 218 doanh nghiệp giải thể và 573 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,01% và 35,72%; kinh doanh bất động sản có 26 doanh nghiệp giải thể và 46 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,06% và 2,87%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 30 doanh nghiệp giải thể và 66 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,68% và 4,11%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một năm 2025 của tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.220 tỷ đồng, tăng 3,62% so với tháng trước và tăng 20,42% so cùng kỳ năm trước. Cộng dồn mười một tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 205.784 tỷ đồng, tăng 8,94% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Mười Một ước đạt 10.718 tỷ đồng (chiếm 44,25% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng), tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 35,16%; hàng may mặc tăng 32,26%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,91%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 22,57%; xăng, dầu các loại tăng 20,41%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 18,93%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 40,0%; hàng hóa khác tăng 15,60%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 15,87%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng thì cũng có những nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm so cùng kỳ năm trước như: đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 15,96%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 13,30%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 7,20%. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 108.084 tỷ đồng, tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước. Có 10/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước là: lương thực, thực phẩm tăng 24,88%; hàng may mặc tăng 19,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,25%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 15,10%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 16,38%; xăng, dầu các loại tăng 13,99%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 17,46%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 31,18%; hàng hóa khác tăng 15,69%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 18,29%. Có 2 nhóm ngành hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ năm trước là: đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 5,52% và vật phẩm, văn hóa giáo dục giảm 1,10%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Mười Một ước đạt 835 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 6,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 34 tỷ đồng, tăng 2,54% so với tháng trước và tăng 10,55% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 801 tỷ đồng, tăng 4,96% so với tháng trước và tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 9.310 tỷ đồng, tăng 16,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 342 tỷ đồng, tăng 14,30%; doanh thu dịch vụ ăn uống 8.968 tỷ đồng, tăng 16,94% do các chi phí sản xuất như giá lương thực, giá điện, giá gas, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Mười Một ước đạt 10 tỷ đồng, tăng 11,15% so với tháng trước và tăng 45,67% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 184 tỷ đồng, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Mười Một ước đạt 12.656 tỷ đồng, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 23,36% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản 11.731 tỷ đồng, tăng 4,83% so với tháng trước và tăng 24,78% so với cùng kỳ năm trước; hành chính và dịch vụ hỗ trợ 331 tỷ đồng, tăng 5,04% so với tháng trước và tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục và đào tạo 158 tỷ đồng, giảm 3,47% so với tháng trước và tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 126 tỷ đồng, tăng 1,40% so với tháng trước và tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 79 tỷ đồng, giảm 0,04% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 231 tỷ đồng, tăng 8,57% so với tháng trước và tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 88.205 tỷ đồng, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm tới 89,49% tổng doanh thu ngành dịch vụ), tăng 0,45%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,67%; giáo dục và đào tạo tăng 8,10%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 8,88%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 21,47%; dịch vụ khác tăng 11,90%. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Một tăng 0,57%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 08 nhóm có chỉ số giá tăng, 03 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,77%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,79%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,61%; giao thông tăng 1,01%; thông tin truyền thông tăng 0,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,34%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 1,01%; giáo dục giảm 0,01%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,26%. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười Một tăng 2,96%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 0,31%, còn các nhóm hàng khác đều có chỉ số giá tăng. Trong đó: nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,88%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,95%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,91%; thông tin truyền thông tăng 0,03%; giáo dục tăng 1,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,13%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,36%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười Một tăng 2,95%. Tất cả các nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,15% (lương thực giảm 3,11%; thực phẩm tăng 2,39%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,67%); đồ uống và thuốc lá tăng 3,95%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,65%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,92%; giao thông tăng 0,21%; thông tin truyền thông tăng 0,11%; giáo dục tăng 1,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,68%. Bình quân chung mười một tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,37%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,98%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,51%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,80%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,0%; giáo dục tăng 1,96%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,17%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,88%; giao thông giảm 2,71%; thông tin truyền thông giảm 0,19%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Trong tháng Mười Một, giá vàng trên thế giới diễn biến tăng trước những thông tin về lãi suất, lạm phát và bất ổn kinh tế toàn cầu, khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một kênh trú ẩn an toàn. Tại Việt Nam, giá vàng miếng và vàng trang sức tăng theo xu hướng chung, đồng thời nhu cầu tích trữ vàng của người dân vào thời điểm cuối năm cũng góp phần đẩy chỉ số giá vàng trong tháng tăng. Chỉ số giá vàng tháng Mười Một trên địa bàn tỉnh tăng 4,15% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 14.903.000 VNĐ/chỉ. Chỉ số giá USD trong tháng Mười Một trên địa bàn tỉnh giảm 0,04% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm nhẹ trong bối cảnh chính sách tiền tệ của Mỹ có tín hiệu nới lỏng hơn, cùng với việc kỳ vọng lạm phát toàn cầu ổn định đã làm giảm sức mạnh của đồng USD. Bên cạnh đó, dòng vốn quốc tế dịch chuyển sang các thị trường mới nổi khi rủi ro toàn cầu hạ nhiệt cũng góp phần làm đồng USD suy yếu. Bình quân tháng 11/2025, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.371 VNĐ. 6. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười Một ước đạt 1.585 tỷ đồng, giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế mười một tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 16.588 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Mười Một ước đạt 4,09 triệu lượt người vận chuyển và 523 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 15,04% về lượt người vận chuyển và tăng 14,09% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 350 tỷ đồng, tăng 6,46% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 41,51 triệu lượt người vận chuyển và 6.305 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 15,81% về lượt người vận chuyển và tăng 31,82% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.802 tỷ đồng, tăng 11,25% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Mười Một ước đạt 4,41 triệu tấn vận chuyển và 1.518 triệu tấn luân chuyển, lần lượt giảm 13,02% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 3,17% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.130 tỷ đồng, tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 53,48 triệu tấn vận chuyển và 16.579 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 4,50% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 12,80% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 11.714 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười Một ước đạt 77 tỷ đồng, tăng 8,43% so với tháng trước và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 851 tỷ đồng, tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Mười Một ước đạt 27 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 29,49% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221 tỷ đồng, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Mười Một ước đạt 6.008 tỷ đồng, tăng 90,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 5.558 tỷ đồng, tăng 106,63%; thuế xuất nhập khẩu 450 tỷ đồng, giảm 4,67%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 107 tỷ đồng, tăng 88,35%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 174 tỷ đồng, giảm 9,51%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.449 tỷ đồng, tăng 137,52%; thu thuế thu nhập cá nhân 281 tỷ đồng, tăng 36,53%; các khoản thu về đất 3.254 tỷ đồng, tăng 138,26%;... Tính chung mười một tháng năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 82.983 tỷ đồng, tăng 75,47% so với cùng kỳ năm trước và đạt 149,77% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 77.342 tỷ đồng, tăng 83,36%; thuế xuất nhập khẩu 5.640 tỷ đồng, tăng 10,36%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.223 tỷ đồng, tăng 20,59%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.866 tỷ đồng, tăng 18,13%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 18.573 tỷ đồng, tăng 17,45%; thu lệ phí trước bạ 1.558 tỷ đồng, tăng 37,19%; thuế thu nhập cá nhân 3.637 tỷ đồng, tăng 61,64%; các khoản thu về đất 46.487 tỷ đồng, tăng 179,15%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Mười Một ước đạt 4.045 tỷ đồng, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 2.188 tỷ đồng, giảm 2,20%; chi thường xuyên 1.857 tỷ đồng, tăng 3,23%. Tính chung mười một tháng năm 2025, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 56.240 tỷ đồng, tăng 46,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 32.378 tỷ đồng, tăng 45,28%; chi thường xuyên 23.863 tỷ đồng, tăng 47,70%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.385 tỷ đồng, tăng 195,37%; chi giáo dục, đào tạo 8.761 tỷ đồng, tăng 22,21%; chi sự nghiệp y tế 1.925 tỷ đồng, tăng 22,29%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 412 tỷ đồng, tăng 42,19%; chi đảm bảo xã hội 2.831 tỷ đồng, tăng 48,61%; chi quản lý hành chính 7.297 tỷ đồng, tăng 99,85%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 30/11/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 306.000 tỷ đồng, tăng 10,04% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 304.500 tỷ đồng, tăng 9,90% và chiếm 99,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.500 tỷ đồng, tăng 47,05% và chiếm 0,49%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/11/2025 đạt 257.500 tỷ đồng, tăng 15,29% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó, phân theo kỳ hạn: dư nợ cho vay ngắn hạn 187.000 tỷ đồng, tăng 12,67%, dư nợ cho vay trung và dài hạn 70.500 tỷ đồng, tăng 22,90%; phân theo loại tiền: dư nợ cho vay bằng nội tệ 250.500 tỷ đồng, tăng 16,28%, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.000 tỷ đồng, giảm 11,64%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 170.550 tỷ đồng, tăng 13,92% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 111.500 tỷ đồng, tăng 12,54%; xuất khẩu 1.600 tỷ đồng, giảm 23,66%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.000 tỷ đồng, tăng 19,68%; công nghiệp hỗ trợ 5.300 tỷ đồng, tăng 6,88%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 150 tỷ đồng, tăng 16,29%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/11/2025 là 1.800 tỷ đồng (chiếm 0,70% dư nợ tín dụng), giảm 5,91% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công Lễ hội chùa Keo mùa thu cấp tỉnh năm 2025; phối hợp với Báo và Phát thanh truyền hình thực hiện chương trình “Lưu giữ hồn quê” tại di tích đền thờ các vị vua triều Trần, xã Long Hưng. Tổ chức trưng bày tại Bảo tàng tỉnh chuyên đề “Hưng Yên - Qua miền di sản” chào mừng ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11; chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”. Thực hiện tuyên truyền, trưng bày sách báo, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại: “Chương trình giao lưu các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh khu vực phía Bắc năm 2025 do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức; Tuần lễ Văn hoá, Thể thao, Du lịch Hưng Yên; chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11); tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực quan chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11; ngày Thế giới xoá bỏ bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái 25/11. Thư viện tỉnh tổ chức phục vụ lưu động tại 04 trường: Trường Tiểu học Tân Phong, phường Thái Bình; Trường Tiểu học Kim Đồng, phường Trần Hưng Đạo; Trường Trung học cơ sở Quang Bình, xã Kiến Xương; Trường tiểu học An Đồng, xã A Sào, với 2.881 học sinh tham gia và trên 4.000 lượt sách được luân chuyển, tặng 131 bản sách cho các em học sinh. Về nghệ thuật biểu diễn: Trong tháng, Nhà hát Chèo tổ chức 09 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu là: Chương trình nghệ thuật khai mạc Tuần Văn hóa, thể thao và du lịch Hưng Yên năm 2025; tham gia Liên hoan Chèo toàn quốc - 2025 đạt 01 huy chương bạc cho vở diễn “Sắc đào thắm đỏ” và 04 huy chương vàng, 12 huy chương bạc, 02 nhạc công xuất sắc cho các cá nhân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 109 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 89 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: Toàn tỉnh duy trì tốt phòng trào thể dục thể thao nâng cao sức khỏe trong mọi tầng lớp Nhân dân. Tích cực phối hợp với các ngành, các cấp để phát triển phong trào thể dục thể thao. Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao quần chúng cấp tỉnh, như: Giải Dân vũ, Khiêu vũ, Shuffledance các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; giải đua Xe đạp các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; giải Bóng đá nhi đồng vô địch U10 tỉnh Hưng Yên năm 2025. Thể thao thành tích cao: Đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu 06 giải quốc gia, quốc tế, đạt 60 Huy chương các loại, trong đó có: 23 HCV, 14 HCB, 23 HCĐ. Cụ thể: môn Bơi lặn tham dự thi đấu Giải Lặn vô địch quốc gia năm 2025 tại Thành phố Hà Nội, đạt: 01 HCB, 01 HCĐ; môn Cử tạ tham dự thi đấu Giải vô địch Cử tạ các CLB quốc gia năm 2025 tại tỉnh Thái Nguyên, đạt 01 HCĐ; môn Điền kinh tham dự thi đấu Giải vô địch Điền kinh trẻ quốc gia năm 2025 tại TP. Đà Nẵng, đạt: 03 HCV, 02 HCB, 02 HCĐ; môn Jujitsu tham dự thi đấu Giải vô địch vận động viên xuất sắc Jujitsu quốc gia năm 2025 tại tỉnh Đồng Nai, đạt: 09 HCV, 07 HCB, 08 HCĐ; môn Đua thuyền Rowing tham dự thi đấu Giải Đua thuyền Rowing vô địch U19 và U23 quốc gia năm 2025 tại TP. Hải Phòng, đạt 05 HCV, 02 HCB, 03 HCĐ; môn Pencak Silat tham dự thi đấu Giải vô địch các CLB Pencak Silat quốc gia năm 2025 tại tỉnh Gia Lai, đạt 01HCV, 01HCB, 08HCĐ. Đặc biệt, các vận động viên môn Đua thuyền Rowing của tỉnh được tập trung Đội tuyển Đua thuyền Rowing quốc gia tham dự Giải vô địch Đua thuyền Rowing Châu Á năm 2025 tổ chức tại TP. Hải Phòng. Các VĐV của tỉnh đã đóng góp 05 HCV, 01 HCB vào thành tích của Đội tuyển Đua thuyền Rowing Việt Nam. c) Hoạt động du lịch Thực hiện ghi hình phim quảng bá Du lịch Hưng Yên “Trải nghiệm lễ hội chùa Keo”; viết bài, chụp ảnh tư liệu giới thiệu, quảng bá điểm du lịch Hưng Yên; khảo sát, đánh giá tiềm năng, hiện trạng hạ tầng, dịch vụ du lịch tại các khu, điểm có khả năng khai thác phục vụ du lịch của tỉnh (chùa Từ Vân; làng vườn Bách Thuận, nghệ thuật hát Chèo làng Khuốc, nghệ thuật Múa rối nước, làng làm bánh Cáy Nguyên Xá); phối hợp với Ban Chuyên đề - Khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam sản xuất phim tài liệu “Từ Thăng Long đến Phố Hiến”. Cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị ký kết hợp tác giữa UBND tỉnh Hưng Yên và Tổng Công ty hàng không Việt Nam (VN Airlines) về việc thỏa thuận chương trình hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hưng Yên và Tổng công ty Hàng không Việt Nam - VN Airlines giai đoạn 2026-2030. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tổ chức Chương trình khảo sát và Hội nghị xúc tiến điểm đến du lịch Hưng Yên năm 2025. 2. Hoạt động y tế Ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Tỉnh Hưng Yên đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Tính từ ngày 01/7/2025 đến ngày 23/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 71 ca, không có trường hợp nặng, tử vong. Sốt xuất huyết Dengue: Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 422 ca, không ghi nhận ca tử vong do SXH. Bệnh tay chân miệng: Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 660 ca, không có ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm, nặng hoặc tử vong trên địa bàn. Bệnh Covid-19: Tổng từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 101 ca, không có trường hợp nặng, tử vong, toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Bệnh do vi-rút Adeno: Lũy kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 37 ca, rải rác tại các xã, không có trường hợp tử vong. Bệnh Ho gà: Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 23/11/2025, toàn tỉnh có 09 trường hợp ho gà. Hội chứng cúm: Trên địa bàn tỉnh ghi nhận một số trường hợp mắc hội chứng cúm, chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh. 3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng Mười Một (từ ngày 26/10/2025 - 25/11/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 14 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 14 vụ với số tiền xử phạt 478 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 3 vụ, tương ứng giảm 17,65%; số vụ đã xử lý tăng 3 vụ, tương đương tăng 27,27%; số tiền xử phạt giảm 556 triệu đồng, tương ứng giảm 53,74%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm tăng 4 vụ, tương ứng tăng 40,0%; số vụ đã xử lý tăng 4 vụ, tương đương tăng 40,0%; số tiền xử phạt giảm 458 triệu đồng, tương đương giảm 48,90%. Lũy kế mười một tháng năm 2025, toàn tỉnh đã phát hiện 168 vụ vi phạm môi trường; đã xử lý 116 vụ với số tiền xử phạt 6.880 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 58 vụ, tương ứng tăng 52,73%; số vụ đã xử lý tăng 57 vụ, tương ứng tăng 96,61%; số tiền xử phạt tăng 2.057 triệu đồng, tương đương tăng 42,65%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Nam Đông Hưng xảy ra 01 vụ, xã Ân Thi xảy ra 01 vụ, phường Trà Lý xảy ra 01 vụ) và 01 vụ nổ (tại xã Lạc Đạo); không có người chết; có 01 người bị thương do nổ. Lũy kế mười một tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/11/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 36 vụ cháy, nổ (trong đó: 33 vụ cháy và 03 vụ nổ); số người chết do cháy, nổ là 07 người; số người bị thương là 10 người. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ cháy, nổ tăng 01 vụ; số người chết tăng 07 người, số người bị thương tăng 05 người. 4. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025, toàn tỉnh xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông (đều là tai nạn đường bộ), làm chết 36 người, làm bị thương 38 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 06 vụ, giảm 10,53%; số người chết tăng 02 người, tăng 5,88%; số người bị thương giảm 02 người, giảm 5,0%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 14 vụ, giảm 21,54%; số người chết giảm 02 người, giảm 5,26%; số người bị thương giảm 09 người, giảm 19,15%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/11/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 543 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 539 vụ, đường sắt 02 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ); làm chết 324 người (trong đó đường bộ 322 người, đường sắt 01 người, đường thủy nội địa 01 người); làm bị thương 355 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 290 vụ, giảm 34,81%; số người chết giảm 46 người, giảm 12,43%; số người bị thương giảm 276 người, giảm 43,74%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 10 và 10 tháng năm 2025
- 19/12/2025 09:56
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Mười, trọng tâm trong hoạt động sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn toàn tỉnh là tập trung thu hoạch nhanh gọn lúa mùa, tranh thủ điều kiện thời tiết thuận lợi để đẩy mạnh gieo trồng rau màu vụ đông, đồng thời chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây lâu năm và tăng cường các biện pháp bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm. Hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản diễn ra cơ bản thuận lợi, bảo đảm tiến độ và sản lượng theo kế hoạch. Kết quả cụ thể như sau: a) Trồng trọt Cây hằng năm Theo kết quả điều tra diện tích vụ mùa, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm của tỉnh Hưng Yên ước đạt 118.222 ha, giảm 1,76% (giảm 2.111 ha) so với vụ mùa năm trước. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa đạt 97.069 ha, giảm 1,55% (giảm 1.529 ha). Năm nay, tỉnh Hưng Yên bước vào gieo cấy vụ mùa với điều kiện thời tiết thuận lợi. Tuy nhiên, giữa vụ, địa phương chịu ảnh hưởng của nhiều đợt mưa lớn kéo dài, đặc biệt là do ảnh hưởng của bão số 3 và số 5, khiến một số diện tích lúa và cây hàng năm bị ngập úng, gãy đổ. Song, công tác khắc phục hậu quả mưa bão được triển khai nhanh chóng, đã hạn chế tối đa thiệt hại cho sản xuất. Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến ngày 20/10/2025, toàn tỉnh đã thu hoạch được 76.645 ha lúa, đạt 78,9% diện tích gieo cấy. Song song với thu hoạch lúa mùa, các địa phương tích cực chuyển sang sản xuất vụ đông, tập trung gieo trồng các loại rau màu theo phương châm “Sáng lúa, chiều vụ đông”. Cũng đến ngày 20/10/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng 20.523 ha rau màu, tăng 0,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: cây ngô 6.055 ha, giảm 0,13%; khoai lang 1.171 ha, tăng 1,79%; đậu tương 36 ha, tăng 3,71%; rau các loại 12.416 ha, tăng 1,31%; đậu các loại 836 ha, tăng 1,56%. Cây lâu năm Sản xuất cây lâu năm tiếp tục khẳng định là thế mạnh của tỉnh, trong đó nổi bật là các loại cây ăn quả. Ước tính tổng diện tích cây lâu năm đạt 24.530 ha, tăng 2,95% (tăng 703 ha) so với cùng kỳ năm 2024. Trong tháng Mười, nông dân tại các vùng trồng nhãn trên địa bàn tỉnh tập trung cắt tỉa, chăm sóc cây sau thu hoạch nhằm phục hồi sức sinh trưởng và chuẩn bị cho vụ sau. Đối với cây vải, hiện đang trong giai đoạn phát triển lộc thu, các nhà vườn chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm bảo vệ lộc, hạn chế sâu bệnh và bảo đảm cây phát triển ổn định. Đối với các loại cây có múi và cây ăn quả khác, phần lớn đang trong thời kỳ sinh trưởng tốt, phát triển ổn định. Bưởi chín sớm bắt đầu bước vào vụ thu hoạch với diện tích ước đạt khoảng 82 ha. b) Chăn nuôi Ngành nông nghiệp tiếp tục tập trung phục hồi đàn lợn, duy trì ổn định đàn gia cầm (đặc biệt là gà) và phấn đấu tăng đàn trâu, bò. Các hộ chăn nuôi được hướng dẫn tái đàn có kiểm soát, phù hợp với diễn biến thị trường và năng lực sản xuất, nhằm tránh tình trạng tái đàn ồ ạt tại các khu vực từng xảy ra dịch bệnh. Từ tháng Bảy năm 2025, dịch tả lợn châu Phi tái bùng phát trở lại, xuất hiện rải rác tại một số địa phương trên địa bàn tỉnh. Lũy kế đến ngày 20/10/2025, trên địa bàn tỉnh bệnh dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 372 hộ, 130 thôn của 35 xã; số lợn mắc, chết và tiêu hủy là 9.660 con (611 con lợn nái và 9.049 con lợn thịt); khối lượng lợn tiêu hủy 577.673 kg (khối lượng lợn nái 124.168 kg và khối lượng lợn thịt 453.505 kg). Có 17 xã đã qua 21 ngày không phát sinh dịch bệnh: Ngự Thiên, Hồng Quang, Việt Yên, Vũ Phúc, Hoàn Long, Quang Hưng, Thụy Anh, Trần Lãm, Vạn Xuân, Đức Hợp, Đoàn Đào, Kiến Xương,Tiên Tiến, Bắc Thuỵ Anh, Phụ Dực, Tân Thuận và Tiên La. Còn 18 xã đang phát sinh dịch bệnh chưa qua 21 ngày: Đông Thái Ninh, Quỳnh Phụ, Nguyễn Du, Đông Thụy Anh, Tống Trân, A Sào, Quỳnh An, Long Hưng, Lê Quý Đôn, Trà Giang, Thái Ninh, Đồng Bằng, Diên Hà, Hưng Hà, Bắc Thái Ninh, Nam Thái Ninh,Minh Thọ và Hồng Minh. Ước tính tại thời điểm 31/10/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.891 con, tăng 0,47%; đàn bò 82.913 con, tăng 0,26%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.043.481 con, tăng 0,92%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 23.750 nghìn con, tăng 1,08% (trong đó: đàn gà đạt 17.309 nghìn con, tăng 1,53%) so với cùng thời điểm năm trước. c) Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp tháng Mười tập trung vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và chuẩn bị trồng bổ sung rừng ngập mặn ven biển. Các xã ven biển tiếp tục được chỉ đạo tăng cường quản lý, hoàn thiện điều kiện cần thiết để triển khai kế hoạch trồng mới. Trong tháng Mười, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 205 m3, tăng 1,49%; sản lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 48 nghìn cây, tăng 1,48% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế mười tháng năm 2025, tỉnh đã trồng mới 7 ha rừng thuộc khu vực Thái Thụy cũ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.991 m³, giảm 0,18%; sản lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.456 nghìn cây, tăng 1,15% so với cùng kỳ năm trước. d) Sản xuất thủy sản Khai thác thủy sản biển: Hoạt động khai thác thủy sản tiếp tục duy trì ổn định, ngư dân tích cực bám biển, kết hợp khai thác với bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Mười ước đạt 7.554 tấn, tăng 2,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.740 tấn, tăng 2,90%; tôm 294 tấn, tăng 2,08%; thủy sản khác 1.520 tấn, tăng 3,47%. Lũy kế mười tháng năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 86.135 tấn, tăng 3,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 56.698 tấn, tăng 3,62%; tôm 1.727 tấn, tăng 3,18%; thủy sản khác 27.710 tấn, tăng 4,29%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định, các mô hình nuôi trồng ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức nuôi. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Mười ước đạt 24.303 tấn, tăng 2,86% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.979 tấn, tăng 4,35%; tôm 1.018 tấn, tăng 3,09%; thủy sản khác 14.306 tấn, tăng 1,94%. Lũy kế mười tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 200.366 tấn, tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 82.802 tấn, tăng 3,0%; tôm 4.990 tấn, tăng 3,65%; thủy sản khác 112.574 tấn, tăng 2,73%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười tăng 4,37%, trong đó: khai khoáng tăng 3,0%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,46%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,20%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 13,17%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 35,94%; tôm đông lạnh tăng 18,61%; điện sản xuất tăng 18,18%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 17,23%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 17,15%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 15,19%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 14,60%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 13,30%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 9,38%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 112,72%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 10,57%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: mạch điện tử tích hợp giảm 5,73%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 1,96%; quần áo các loại giảm 1,69%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 9,09%; dây thép không gỉ giảm 22,14%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 1,13%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 1,0%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười tăng 12,79%. Trong đó: khai khoáng tăng 10,09%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,32%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,50%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,05%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ, ốp lát công nghiệp tăng 67,98%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 38,46%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 37,36%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 26,13%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 21,08%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 35,51%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 29,42%; nước khoáng không có ga tăng 11,12%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 19,33%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 19,32%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 17,03%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 16,72%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 14,43%; điện thương phẩm tăng 11,98%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng cùng kỳ năm trước như: thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 27,40%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 11,63%; tôm đông lạnh giảm 18,75%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 13,44%; thức ăn cho gia cầm giảm 10,98%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 9,06%; bao và túi bằng plastic các loại giảm 8,77%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 7,67%;... Tính chung Mười tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,71% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: khai khoáng tăng 16,81%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,79%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,02%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 18,76%. Hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh đều có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 93,27%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 33,98%; sản xuất thiết bị điện tăng 20,53%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,19%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 18,28%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 17,47%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 17,36%; sản xuất trang phục tăng 16,13%;... Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất đồ uống giảm 9,73%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 3,81%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 3,68%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 4,14%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,28%;... Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong mười tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 73,14%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 56,60%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 45,39%; giày dép khác chưa được phân vào đâu tăng 48,12%; nước khoáng không có ga tăng 32,04%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 25,09%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 21,43%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 20,26%; khí tự nhiên dạng khí tăng 19,21%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 31,18%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 20,08%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 3,48%; mạch điện tử tích hợp giảm 20,74%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 19,18%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 9,53%; tôm đông lạnh giảm 8,46%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 7,63%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Mười đạt 4.786 tỷ đồng, tăng 10,59% so với tháng trước và tăng 76,54% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 2.946 tỷ đồng, tăng 13,51% so với tháng trước và tăng 119,10% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 1.840 tỷ đồng, tăng 6,22% so với tháng trước và tăng 34,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 29.909 tỷ đồng, tăng 50,22% so với cùng kỳ năm trước và đạt 69,29% so với kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 17.476 tỷ đồng, tăng 88,01% so với cùng kỳ năm trước và đạt 64,86% kế hoạch năm; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 12.433 tỷ đồng, tăng 17,13% so với cùng kỳ năm trước và đạt 76,64% kế hoạch năm. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/10/2025, toàn tỉnh có 932 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.726,55 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/10/2025, có 124 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.612,81 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 194 dự án, vốn đăng ký là 6.165,02 triệu USD, chiếm 36,86% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 349 dự án, vốn đăng ký 4.343,42 triệu USD, chiếm 25,97% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 207 dự án, vốn đăng ký 2.286,33 triệu USD, chiếm 13,67% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/9/2025 đến ngày 21/10/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 419 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 4.299 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 92 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.193 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 168 doanh nghiệp, vốn đăng ký 722 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 18 doanh nghiệp, vốn đăng ký 476 tỷ đồng; vận tải kho bãi 33 doanh nghiệp, vốn đăng ký 253 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 16 doanh nghiệp, vốn đăng ký 38 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, vốn đăng ký 42 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 9 doanh nghiệp, vốn đăng ký 23 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/10/2025, toàn tỉnh có 4.544 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 63.447 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.869 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 6.620 tỷ đồng (chiếm 10,43% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 1.012 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 23.409 tỷ đồng (chiếm 36,90%); xây dựng 317 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.809 tỷ đồng (chiếm 4,43%); giáo dục và đào tạo 289 doanh nghiệp, vốn đăng ký 753 tỷ đồng (chiếm 1,19%); hoạt động vận tải, kho bãi 272 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.621 tỷ đồng (chiếm 2,55%); kinh doanh bất động sản 179 doanh nghiệp, vốn đăng ký 21.378 tỷ đồng (chiếm 33,69%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 157 doanh nghiệp, vốn đăng ký 663 tỷ đồng (chiếm 1,05%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 103 doanh nghiệp, vốn đăng ký 479 tỷ đồng (chiếm 0,76%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Mười (tính từ ngày 22/9/2025 đến ngày 21/10/2025) là 62 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/10/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 594 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/9/2025 đến ngày 21/10/2025, số doanh nghiệp giải thể là 125 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 85 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/10/2025, toàn tỉnh có 546 doanh nghiệp giải thể và 1.518 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 105 doanh nghiệp giải thể và 344 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,23% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 22,66% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 184 doanh nghiệp giải thể và 550 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 33,70% và 36,23%; kinh doanh bất động sản có 22 doanh nghiệp giải thể và 43 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,03% và 2,83%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 28 doanh nghiệp giải thể và 64 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,13% và 4,22%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước đạt 21.509 tỷ đồng, tăng 5,03% so với tháng trước và tăng 7,77% so cùng kỳ năm trước. Cộng dồn mười tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 179.700 tỷ đồng, tăng 6,47% so cùng kỳ năm trước. Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Mười ước đạt 9.902 tỷ đồng, chiếm 46,04% tổng doanh thu hàng hóa và dịch vụ, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 12,48% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng, giảm của một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu bán lẻ như sau: nhóm hàng lương thực, thực phẩm tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 22,78% so với cùng kỳ năm trước; hàng may mặc tăng 2,28% so với tháng trước và tăng 32,52% so với cùng kỳ; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,71% so với tháng trước và giảm 16,58% so với cùng kỳ; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 0,24% so với tháng trước và tăng 8,18% so với cùng kỳ năm trước; phương tiện đi lại, trừ ô tô con giảm 0,16% so với tháng trước và tăng 2,52% so với cùng kỳ; xăng, dầu các loại giảm 3,05% so với tháng trước và tăng 20,79% so với cùng kỳ; hàng hóa khác tăng 1,43% so với tháng trước và tăng 14,70% so với cùng kỳ. Tính chung mười tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 96.786 tỷ đồng, tăng 14,22% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng ở hầu hết các nhóm hàng và tăng mạnh là: lương thực, thực phẩm tăng 22,52%; hàng may mặc tăng 18,39%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,24%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 18,15%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con tăng 14,45%; xăng, dầu các loại tăng 12,76%; nhiên liệu khác tăng 16,94%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 28,77%; hàng hóa khác tăng 15,53%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô xe máy và xe có động cơ khác tăng 18,67%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Mười ước đạt 811 tỷ đồng, tăng 1,78% so với tháng trước và tăng 7,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 33 tỷ đồng, tăng 0,25% so với tháng trước và tăng 10,26% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 779 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 6,97% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 8.490 tỷ đồng, tăng 18,13% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ lưu trú 308 tỷ đồng, tăng 14,53%; dịch vụ ăn uống 8.182 tỷ đồng, tăng 18,27%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Mười ước đạt 14 tỷ đồng, giảm 23,61% so với tháng trước và tăng 72,80% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 179 tỷ đồng, tăng 22,89% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Mười ước đạt 10.783 tỷ đồng, tăng 9,14% so với tháng trước và tăng 3,78% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.903 tỷ đồng, tăng 10,29% so với tháng trước và tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 313 tỷ đồng, tăng 2,44% so với tháng trước và tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 145 tỷ đồng, giảm 19,45% so với tháng trước và tăng 6,64% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 123 tỷ đồng, tăng 1,29% so với tháng trước và tăng 5,72% so với cùng kỳ; dịch vụ khác 221 tỷ đồng, tăng 2,85% so với tháng trước và tăng 4,64% so với cùng kỳ. Tính chung mười tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 74.246 tỷ đồng, giảm 3,22% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chủ yếu do ngành kinh doanh bất động sản chiếm tới 88,78% tổng doanh thu dịch vụ khác nhưng lại giảm 4,72% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, một số ngành dịch vụ khác vẫn duy trì mức tăng doanh thu khá cao so với cùng kỳ năm trước như: dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,90%; giáo dục và đào tạo tăng 6,01%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 9,25%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 21,41%; dịch vụ khác tăng 13,09%. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười giảm nhẹ 0,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước, còn lại 02 nhóm có chỉ số giá giảm và 08 nhóm có chỉ số giá tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: nhóm giao thông giảm 1,38%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,01%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,12%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,22%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,20%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,11%. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười tăng 2,37%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm có chỉ số giá tăng, 02 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,97%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,05%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,92%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,60%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,24%; giáo dục tăng 1,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,39%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%. Ngược lại, 02 nhóm có chỉ số giá giảm là: nhóm giao thông giảm 1,36%; nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,05%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười tăng 2,05%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, 03 nhóm hàng có chỉ số giá giảm, cụ thể: đồ uống và thuốc lá tăng 2,14%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,89%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,55%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,78%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,24%; giáo dục tăng 1,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,40%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,38%; nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,82% (lương thực giảm 5,82%; thực phẩm giảm 0,62%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,92%); giao thông giảm 0,50%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Bình quân chung mười tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,90%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,21%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,91%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,52%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,70%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,90%; giáo dục tăng 2,05%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,21%; giao thông giảm 3,02%; bưu chính viễn thông giảm 0,22%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Trong tháng Mười, giá vàng thế giới tiếp tục tăng mạnh khi nhà đầu tư tìm đến kim loại quý như kênh trú ẩn an toàn trước diễn biến phức tạp của kinh tế toàn cầu và xung đột địa chính trị. Giá vàng trong nước biến động cùng chiều với giá vàng thế giới, cao hơn mức kỷ lục của quý III/2025, khiến chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh tăng 9,19% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 13.912.000 VNĐ/chỉ. Đồng USD trên thị trường quốc tế giảm nhẹ sau khi Cục Dụ trữ Liên bang Mỹ (FED) phát tín hiệu duy trì ổn định lãi suất, khiến tỷ giá USD/VNĐ trong nước hạ nhiệt. Ngoài ra, nguồn cung ngoại tệ trong nước dồi dào từ hoạt động xuất khẩu và kiều hối tăng, góp phần làm cho giá đô la Mỹ giảm. Trong tháng Mười, chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh giảm 0,85% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.413 VNĐ. 6. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười ước đạt 1.576 tỷ đồng, tăng 1,19% so với tháng trước và tăng 11,82% so với cùng kỳ năm trước. Mười tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 14.993 tỷ đồng, tăng 13,38% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Mười ước đạt 3,58 triệu lượt người vận chuyển và 469 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 23,99% về lượt người vận chuyển và tăng 3,49% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 341 tỷ đồng, tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 36,87 triệu lượt người vận chuyển và 5.731 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 17,11% về lượt người vận chuyển và tăng 32,52% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.446 tỷ đồng, tăng 11,58% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Mười ước đạt 4,66 triệu tấn vận chuyển và 1.541 triệu tấn luân chuyển, lần lượt giảm 3,66% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 7,98% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.137 tỷ đồng, tăng 15,03% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 49,16 triệu tấn vận chuyển và 15.009 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 6,64% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 13,48% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 10.578 tỷ đồng, tăng 14,14% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười ước đạt 77 tỷ đồng, tăng 5,80% so với tháng trước và tăng 2,80% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung mười tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 780 tỷ đồng, tăng 15,87% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Mười ước đạt 20 tỷ đồng, tăng 0,09% so với tháng trước và giảm 2,47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 189 tỷ đồng, giảm 3,26% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Mười ước đạt 2.864 tỷ đồng, giảm 46,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 2.324 tỷ đồng, giảm 51,92%; thuế xuất nhập khẩu 540 tỷ đồng, tăng 4,43%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 103 tỷ đồng, giảm 6,79%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 170 tỷ đồng, giảm 70,06%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 776 tỷ đồng, giảm 68,12%; thu thuế thu nhập cá nhân 215 tỷ đồng, giảm 7,61%; các khoản thu về đất 804 tỷ đồng, giảm 30,04%;... Tính chung mười tháng năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 73.712 tỷ đồng, tăng 67,55% so với cùng kỳ năm trước và đạt 133,04% so với kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 68.576 tỷ đồng, tăng 73,66%; thuế xuất nhập khẩu 5.136 tỷ đồng, tăng 14,01%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.118 tỷ đồng, tăng 16,75%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.228 tỷ đồng, tăng 4,82%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 16.066 tỷ đồng, tăng 5,67%; thu lệ phí trước bạ 1.317 tỷ đồng, tăng 31,70%; thuế thu nhập cá nhân 3.110 tỷ đồng, tăng 52,12%; các khoản thu về đất 41.935 tỷ đồng, tăng 174,31%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Tính từ ngày 01/01/2025 đến ngày 27/10/2025, chi ngân sách Nhà nước địa phương ước đạt 51.727 tỷ đồng. Trong đó: chi đầu tư phát triển 29.925 tỷ đồng; chi thường xuyên 21.802 tỷ đồng. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.277 tỷ đồng; chi giáo dục, đào tạo 7.890 tỷ đồng; chi sự nghiệp y tế 1.814 tỷ đồng; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 365 tỷ đồng; chi đảm bảo xã hội 2.587 tỷ đồng; chi quản lý hành chính 6.742 tỷ đồng. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/10/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 309.000 tỷ đồng, tăng 11,11% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 307.500 tỷ đồng, tăng 10,98% và chiếm 99,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.500 tỷ đồng, tăng 47,05% và chiếm 0,49%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/10/2025 đạt 256.000 tỷ đồng, tăng 14,62% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 187.700 tỷ đồng, tăng 13,09%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 68.300 tỷ đồng, tăng 19,06%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 247.000 tỷ đồng, tăng 14,66%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 9.000 tỷ đồng, tăng 13,60%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 168.800 tỷ đồng, tăng 12,75% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 112.100 tỷ đồng, tăng 13,15%; xuất khẩu 1.585 tỷ đồng, giảm 24,38%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 49.700 tỷ đồng, tăng 14,38%; công nghiệp hỗ trợ 5.265 tỷ đồng, tăng 6,17%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 150 tỷ đồng, tăng 16,29%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/10/2025 là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,68% dư nợ tín dụng), giảm 8,52% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Từ ngày 02 - 03/10/2025, tại Nhà Văn hóa Lao động tỉnh (Phường Trà Lý) đã diễn ra Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 với phương châm “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Công tác tuyên truyền Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 hoàn thành tốt; trưng bày hình ảnh, tài liệu, tranh cổ động tuyên truyền Đại hội Thi đua yêu nước tỉnh Hưng Yên lần thứ I (2025-2030); tổ chức Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội của tỉnh Hưng Yên phục vụ chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; tổ chức xe ô tô tuyên truyền lưu động trên địa bàn tỉnh. Bảo tàng tỉnh đã trưng bày chuyên đề “Đảng bộ tỉnh Hưng Yên qua các kỳ Đại hội” tại Bảo tàng cơ sở 2; trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại các địa phương trong tỉnh. Thư viện tỉnh tổ chức tuyên truyền, trưng bày, giới thiệu sách báo, tài liệu theo chủ đề chào mừng các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương, trọng tâm là: Đại hội Đảng bộ tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030; giới thiệu sách mới, sách hay trên Fanpage, Facebook Thư viện tỉnh; tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời năm 2025, như: Tuyên truyền bằng băngzôn, pano, khẩu hiệu tại khu vực trung tâm, các tuyến đường chính; trưng bày, giới thiệu sách báo, tài liệu, xếp mô hình sách nghệ thuật, phục vụ Nhân dân, bạn đọc tại Lễ khai mạc Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời tỉnh Hưng Yên năm 2025; phối hợp với UBND phường Sơn Nam tổ chức Lễ khai mạc Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời; tổ chức Hội nghị nói chuyện chuyên đề Sách và Văn hóa đọc; tặng trên 500 cuốn sách cho các trường. Về nghệ thuật biểu diễn: Nhà hát Chèo tổ chức 04 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu là: Chương trình nghệ thuật phục vụ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần tứ nhất, nhiệm kỳ 2025-2030; chương trình nghệ thuật phục vụ Hội nghị điển hình tiên tiến Mặt trận tổ quốc Việt Nam tỉnh Hưng Yên; chương trình nghệ thuật phục vụ Đại hội Thi đua tỉnh Hưng Yên lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030; chương trình nghệ thuật phục vụ Lễ hội văn hóa thế giới lần thứ nhất tại Hà Nội. Tham gia Liên hoan Chèo toàn quốc năm 2025. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 80 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 60 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: Tỉnh đã tổ chức thành công giải Karatedo, Taekwondo, Wushu vô địch các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; ban hành Điều lệ giải Dân vũ, Khiêu vũ, Shuffle dance, giải đua Xe đạp các câu lạc bộ tỉnh Hưng Yên năm 2025; ban hành Kế hoạch tổ chức giải Bóng đá nhi đồng U10 tỉnh Hưng Yên năm 2025. Thể thao thành tích cao: Tỉnh duy trì hoạt động huấn luyện thường xuyên đối với các đội tuyển tỉnh và đội tuyển trẻ; tuyển chọn, đào tạo, rà soát, thanh lọc, bảo đảm chỉ tiêu đào tạo 515 VĐV ở các môn thể thao (tuyển 16 VĐV ở các môn: Cầu lông, Wushu, KickBoxing, Bóng đá, Karate); tập trung rèn luyện thể lực, kỹ thuật, chiến thuật chuẩn bị tham gia các giải thể thao quốc gia và khu vực; xây dựng lực lượng VĐV các đội tuyển tỉnh và định hướng tới Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Trong tháng Mười, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham gia thi đấu 05 giải quốc gia (Taekwondo, Jujitsu, Cầu lông, Boxing, Vật), đạt 43 huy chương các loại, trong đó có: 11 HCV, 09 HCB, 23 HCĐ. c) Hoạt động du lịch Tỉnh tổ chức lớp tập huấn kiến thức về phát triển bền vững điểm đến du lịch trên địa bàn tỉnh năm 2025; tiếp tục phát động và gia hạn thời gian nhận tác phẩm dự thi Cuộc thi Sáng tác Video clip du lịch Hưng Yên năm 2025; hoàn thiện video Review điểm đến du lịch Hưng Yên và đăng tải trên các nền tảng số: Tiktok, Facebook, Fanpage;... hỗ trợ doanh nghiệp đăng ký tham gia quảng bá sản phẩm, đặc sản tại Liên hoan văn hoá, ẩm thực xứ Thanh năm 2025; tăng cường công tác viết tin, bài đăng tải trên Cổng Du lịch thông minh, Trang thông tin điện tử du lịch hungyentourism.com.vn; Zalo.OA: Trung tâm TTXT Du lịch Hưng Yên; Fanpage: Hung Yen Tourism; App mobile: du lịch Hưng Yên; Youtube: Du lịch Hưng Yên. Thực hiện nhiệm vụ “Phát triển du lịch, gắn với phát triển đặc sản vùng miền” (hỗ trợ người dân ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh xác thực điện tử trong phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế số). 2. Hoạt động y tế Trong tháng Mười, tỉnh tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm, đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: Các tuần gần đây cho thấy số ca mắc/nghi mắc Sởi có xu hướng giảm và duy trì ở mức thấp, hiện tại được kiểm soát tốt. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Tính từ ngày 01/7/2025 đến ngày 27/10/2025 có 67 ca, không có trường hợp nặng, tử vong. Sốt xuất huyết Dengue: Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến ngày 27/10/2025 là 334 ca, không ghi nhận ca tử vong do SXH. Bệnh tay chân miệng: Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến ngày 27/10/2025 là 541 ca, không có ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm, nặng hoặc tử vong trên địa bàn. Bệnh Covid-19: Tổng số ca mắc từ 01/7/2025 đến ngày 27/10/2025 là 101 ca, không có trường hợp nặng, tử vong, toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo qui định. Bệnh do vi-rút Adeno: Lũy kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 27/10/2025 là 35 ca, rải rác tại các xã, không có trường hợp tử vong. Bệnh Ho gà: Tổng số ca mắc từ 01/7/2025 đến 27/10/2025 là 09 ca. Hội chứng cúm: Tỉnh ghi nhận một số trường hợp mắc hội chứng cúm, chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh. 3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng Mười (từ ngày 26/9/2025 - 25/10/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 17 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 11 vụ với số tiền cử phạt 1.034 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 8 vụ, tương ứng tăng 88,89%; số vụ đã xử lý tăng 5 vụ, tương đương tăng 83,33%; số tiền xử phạt tăng 734 triệu đồng, tương ứng tăng 244,67%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm tăng 8 vụ, tương ứng tăng 88,89%; số vụ đã xử lý tăng 8 vụ, tương đương tăng 266,67%; số tiền xử phạt tăng 688 triệu đồng, tương đương tăng 198,89%. Lũy kế mười tháng năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 - 25/10/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 154 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý được 102 vụ với số tiền xử phạt là 6.401 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 54 vụ, tương ứng tăng 54,0%; số vụ đã xử lý tăng 53 vụ, tương ứng tăng 108,16%; số tiền xử phạt tăng 2.514 triệu đồng, tương đương tăng 64,69%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là vi phạm an toàn thực phẩm; xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Từ ngày 15/9/2025 đến ngày 14/10/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 05 vụ cháy, không phát sinh vụ nổ (Phường Trà Lý xảy ra 01 vụ; xã Việt Tiến xảy ra 01 vụ; xã Quỳnh An xảy ra 01 vụ; xã Đức Hợp xảy ra 01 vụ; xã Lạc Đạo xảy ra 01 vụ); không có người chết và bị thương do cháy. Lũy kế 10 tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/10/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 30 vụ cháy và 02 vụ nổ; số người chết do cháy, nổ là 07 người; số người bị thương là 09 người. Tổng số vụ cháy, nổ tăng 01 vụ so với cùng kỳ năm trước; số người chết tăng 07 người, số người bị thương tăng 07 người. 4. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/9/2025 đến 14/10/2025, toàn tỉnh xảy ra 57 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 55 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 34 người (đường bộ 33 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 40 người (đường bộ). So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 07 vụ, tăng 14,0%; số người chết tăng 03 người, tăng 9,68%; số người bị thương tăng 04 người, tăng 11,11%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 06 vụ, giảm 9,52%; số người chết tăng 02 người, tăng 6,25%; số người bị thương tăng 03 người, tăng 8,11%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/10/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 492 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 488 vụ, đường sắt 02 vụ, đường thủy 02 vụ); làm chết 288 người (trong đó đường bộ 286 người, đường sắt 01 người, đường thủy 01 người); làm bị thương 317 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 257 vụ, giảm 34,31%; số người chết giảm 33 người, giảm 10,28%; số người bị thương giảm 251 người, giảm 44,19%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 9 và 9 tháng năm 2025
- 03/10/2025 15:52
Chín tháng năm 2025, trên thế giới, áp lực lạm phát, nguy cơ suy thoái, cùng với những bất ổn tài chính và xung đột địa chính trị tại một số quốc gia tiếp tục nóng với những diễn biến phức tạp là các yếu tố rủi ro lớn đối với đà phục hồi chung của các quốc gia. Bên cạnh đó, các chính sách thuế quan mới của Mỹ đã tác động mạnh đến dòng chảy thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong nước, nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức như giá nguyên nhiên vật liệu và chi phí vận tải tăng cao, nhất là vận tải biển; sức mua nội địa phục hồi chậm; thị trường xuất khẩu đối mặt với nhiều rào cản thương mại. Theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, từ ngày 01/7/2025, thực hiện hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, lấy tên là tỉnh Hưng Yên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Hưng Yên hiện nay; không tổ chức cấp huyện; sáp nhập cấp xã và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã). Sau khi hợp nhất 2 tỉnh, tỉnh Hưng Yên mới có 104 đơn vị hành chính cấp xã (93 xã, 11 phường; trong đó: tỉnh Hưng Yên cũ có 33 xã và 6 phường, tỉnh Thái Bình cũ có 60 xã và 5 phường). Trước tình hình đó, các cấp, các ngành, các địa phương, toàn thể nhân dân và doanh nghiệp trong tỉnh đã nỗ lực phấn đấu tháo gỡ khó khăn, phát triển sản xuất. Đến nay, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục đạt kết quả khá tích cực. I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 9 tháng năm 2025 ước đạt 114.792 tỷ đồng, tăng 8,01% so với cùng kỳ năm 2024. Phân theo quý: sơ bộ quý I tăng 8,80%; quý II tăng 7,40% (6 tháng tăng 8,06%, giảm 0,04 điểm phần trăm so với số liệu ước tính được Cục Thống kê công bố); ước tính quý III tăng 7,93%. Phân theo khu vực kinh tế: Nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,62% (đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); công nghiệp và xây dựng tăng 9,68% (đóng góp 5,05 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh), trong đó: công nghiệp tăng 10,27%, xây dựng tăng 7,31%; thương mại, dịch vụ tăng 7,63% (đóng góp 2,14 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 7,44% (đóng góp 0,47 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh). So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 5/6 tỉnh, thành phố và xếp thứ 16/34 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng các tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Hà Nội tăng 7,92%; Hải Phòng tăng 11,59%; Ninh Bình tăng 10,45%; Bắc Ninh tăng 10,12%; Quảng Ninh tăng 11,67%. Về quy mô kinh tế (GRDP theo giá hiện hành) 9 tháng năm 2025 ước đạt 219.846 tỷ đồng. Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12,66%; công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 53,18%; thương mại, dịch vụ chiếm tỷ trọng 28,07%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm tỷ trọng 6,10%. 2. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Chín tháng năm 2025, thời tiết diễn biến bất thường. Tỉnh Hưng Yên chịu ảnh hưởng của cơn bão số 3 (bão Wipha) vào thời điểm cuối tháng Bảy, cơn bão số 5 (bão Kajiki) vào cuối tháng Tám và cơn bão số 10 (bão Bualoi) vào cuối tháng Chín. Tuy các cơn bão đã suy yếu khi vào đất liền nhưng hoàn lưu sau bão cũng đã gây mưa lớn, làm ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn toàn tỉnh. Đồng thời, dịch tả lợn châu Phi tái bùng phát vào tháng Bảy và kéo dài đến thời điểm này cũng gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi. Kết quả cụ thể như sau: a) Trồng trọt Cây hằng năm Theo kết quả điều tra diện tích vụ mùa, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ mùa toàn tỉnh Hưng Yên năm 2025 sơ bộ đạt 118.222 ha, giảm 1,76% (giảm 2.111 ha) so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể: diện tích gieo trồng lúa 96.713 ha, giảm 2,02% (giảm 1.992 ha); ngô 2.981 ha, giảm 3,5% (giảm 108 ha); cây lấy củ có chất bột 601 ha, giảm 4,14% (giảm 26 ha); cây có hạt chứa dầu 1.258 ha, giảm 7,33% (giảm 99 ha); rau, đậu, hoa các loại 12.495 ha, tăng 1,15% (tăng 142 ha); cây hằng năm khác 1.706 ha, giảm 14,71% (giảm 294 ha). Đối với cây lúa, các địa phương tập trung gieo cấy một số giống có giá trị và năng suất cao như: TBR45, TBR1, TBR225, Thiên ưu 8, Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8,... Hiện nay, diện tích lúa mùa của tỉnh đang trong thời kỳ trỗ bông và bắt đầu cho thu hoạch với trà lúa sớm, đây là thời kỳ xung yếu, mẫn cảm với sâu bệnh hại. Trên đồng ruộng, hiện một số loại sâu bệnh hại lúa và cây rau màu đã gây ảnh hưởng đến năng suất cây trồng như: bệnh khô vằn, sâu đục thân, rầy nâu, rầy lưng trắng, bạc lá. Nhà nông cần tiếp tục nắm bắt diễn biến thời tiết và các đối tượng dịch hại cây trồng để có các biện pháp phòng trừ sâu bệnh kịp thời. Ước tính cả năm 2025, tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm toàn tỉnh đạt 278.915 ha, giảm 1,72% (giảm 4.882 ha) so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa 193.526 ha, giảm 1,96% (giảm 3.876 ha); ngô 12.128 ha, giảm 1,87% (giảm 232 ha); cây lấy củ có chất bột 6.895 ha, giảm 9,06% (giảm 687 ha); cây có hạt chứa dầu 5.118 ha, tăng 0,34% (tăng 17 ha); rau các loại 51.558 ha, tăng 0,48% (tăng 247 ha);... Năm 2025, tuy diện tích gieo trồng lúa và cây hằng năm cả năm có giảm, song mức độ giảm đã thấp hơn so với các năm trước. Nguyên nhân diện tích giảm chủ yếu do thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp (mở rộng khu công nghiệp, thu hồi đất xây dựng khu đô thị, làm đường giao thông,...). Ngoài ra, một số diện tích được chuyển sang trồng cây lâu năm có giá trị kinh tế cao hơn hoặc chuyển sang diện tích nuôi trồng thủy sản. Cây lâu năm Phần lớn cây lâu năm trên địa bàn tỉnh là cây ăn quả - chiếm 85,39% tổng diện tích hiện có của cây lâu năm. Chín tháng năm 2025, ước tính tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm của tỉnh đạt 24.530 ha, tăng 2,95%, tương ứng tăng 703 ha so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: cây ăn quả 20.946 ha, tăng 2,50% (tăng 511 ha); cây lấy quả chứa dầu 58 ha, tăng 0,21% (tăng 0,12 ha); cây chè 138 ha, tăng 2,23% (tăng 3 ha); cây gia vị và dược liệu lâu năm 1.220 ha, tăng 2,43% (tăng 29 ha); cây lâu năm khác 2.169 ha, tăng 7,95% (tăng 160 ha). Diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như sau: cây chuối 4.928 ha, tăng 7,47% (tăng 343 ha) so với cùng kỳ năm trước; cây ổi 1.050 ha, tăng 2,22% (tăng 23 ha); cây cam 1.896 ha, giảm 3,47% (giảm 68 ha); cây bưởi 2.424 ha, tăng 1,05% (tăng 25 ha); cây nhãn 5.879 ha, tăng 0,41% (tăng 24 ha); cây vải 1.928 ha, tăng 3,58% (tăng 67 ha). Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu 9 tháng năm 2025 như sau: chuối 123.510 tấn, tăng 3,92% (tăng 4.660 tấn) so với cùng kỳ năm trước; ổi 15.560 tấn, tăng 0,88% (tăng 135 tấn); đu đủ 3.571 tấn, tăng 5,25% (tăng 178 tấn); cam 23.762 tấn, tăng 1,60% (tăng 375 tấn); táo 6.845 tấn, tăng 4,07% (tăng 268 tấn); vải 24.475 tấn, tăng 9,34% (tăng 2.090 tấn). Đối với cây nhãn - cây ăn quả chủ lực của tỉnh, đến ngày 20/9, toàn tỉnh cơ bản hoàn thành công tác thu hoạch nhãn. Ước tính sản lượng nhãn đạt 52.810 tấn, tăng 13,32% (tăng 6.208 tấn). Năm nay, thời tiết những tháng đầu năm cơ bản thuận lợi cho cây nhãn phân hóa mầm hoa nên tỷ lệ nhãn ra hoa, đậu quả ước đạt trên 95% diện tích. b) Chăn nuôi Chín tháng năm 2025, hoạt động chăn nuôi trên địa bản tỉnh Hưng Yên chịu ảnh hưởng không nhỏ do dịch tả lợn châu Phi bắt đầu tái phát trở lại từ tháng Bảy. Tính đến ngày 15/9/2025, trên địa bàn tỉnh, dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 185 hộ, 94 thôn của 32 xã; số lợn mắc, chết và tiêu hủy là 4.345 con (209 con lợn nái và 4.136 con lợn thịt); khối lượng lợn tiêu hủy khoảng 250 tấn. Có 12 xã (xã Ngự Thiên, Hồng Quang, Việt Yên, Vũ Phúc, Hoàn Long, Quang Hưng, Thái Ninh, Thụy Anh, Trần Lãm, Vạn Xuân, Đức Hợp, Đoàn Đào) đã qua 21 ngày không phát sinh dịch bệnh. Bên cạnh đó, các loại dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như cúm gia cầm, lở mồm long móng và viêm da nổi cục cũng được theo dõi sát sao và xử lý hiệu quả. Nhờ triển khai đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch như tiêm phòng, vệ sinh tiêu độc khử trùng chuồng trại, kiểm soát vận chuyển và buôn bán động vật nên các ổ dịch nhỏ đã được khống chế, không gây ảnh hưởng lớn đến tổng đàn vật nuôi. Tỉnh tiếp tục duy trì công tác giám sát dịch bệnh, tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân, đồng thời chuẩn bị đầy đủ vật tư, hóa chất và nhân lực để sẵn sàng ứng phó với các tình huống dịch bệnh có thể xảy ra trong thời gian tới. Ước tính tại thời điểm 30/9/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.905 con, tăng 0,51%; đàn bò 82.791 con, tăng 0,90%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.060.368 con, tăng 1,61%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.558 nghìn con, tăng 2,12% (trong đó: đàn gà đạt 17.217 nghìn con, tăng 2,24%) so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng của tỉnh trong chín tháng năm 2025 so với cùng kỳ năm 2024 ước tính như sau: thịt trâu 1.040 tấn, tăng 3,57%; thịt bò 10.654 tấn, tăng 3,74%; thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 216.426 tấn, tăng 4,06%; thịt gia cầm 79.837 tấn, tăng 4,80% (trong đó: thịt gà 67.227 tấn, tăng 3,62%). c) Lâm nghiệp Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã trồng mới 7 ha rừng thuộc khu vực Thái Thụy cũ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.666 m³, giảm 0,39%; sản lượng củi khai thác ước đạt 10.243 Ster, tăng 0,70% so với cùng kỳ năm trước. Phong trào trồng cây phân tán được các địa phương duy trì hiệu quả gồm các cây lấy gỗ, cây bóng mát và các loại cây khác. d) Sản xuất thủy sản Tổng sản lượng thủy sản chín tháng năm 2025 của tỉnh ước đạt 258.091 tấn, tăng 2,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 127.219 tấn, tăng 2,95%; tôm 5.627 tấn, tăng 3,51%; thủy sản khác 125.244 tấn, tăng 2,85%. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Chín của tỉnh ước đạt 8.217 tấn, tăng 3,46% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.720 tấn, tăng 3,45%; tôm 267 tấn, tăng 3,49%; thủy sản khác 2.230 tấn, tăng 3,48%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 78.581 tấn, tăng 3,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 50.958 tấn, tăng 3,26%; tôm 1.433 tấn, tăng 3,41%; thủy sản khác 26.190 tấn, tăng 3,09%. Nuôi trồng thủy sản: tổng số lồng, bè cá nuôi trên sông toàn tỉnh là 1.024 lồng/131.293 m3, trong đó số lồng thực nuôi là 952 lồng/122.162 m3 trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng. Nuôi hàu cửa sông đạt 2.760 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú và Đông Thái Ninh. Các đối tượng nuôi trong lồng bao gồm: cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Chín ước đạt 21.278 tấn, tăng 2,13% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 7.969 tấn, tăng 0,68%; tôm 808 tấn, tăng 3,80%; thủy sản khác 12.501 tấn, tăng 2,97%. Chín tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 176.095 tấn, tăng 2,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 73.823 tấn, tăng 2,84%; tôm 4.004 tấn, tăng 3,80%; thủy sản khác 98.268 tấn, tăng 2,84%. 3. Sản xuất công nghiệp So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Chín tăng 0,20%, trong đó: khai khoáng tăng 0,78%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,91%; sản xuất và phân phối điện giảm 17,26%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,02%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 33,78%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 19,29%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 17,76%; tôm đông lạnh tăng 16,67%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 16,62%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu tăng 7,59%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng tăng 5,63%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 4,55%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 4,01%;... Tuy nhiên, một số sản phẩm có sản lượng sản phẩm sản xuất trong tháng Chín giảm so với tháng trước như: điện sản xuất giảm 24,78%; dây thép không gỉ giảm 24,11%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 22,65%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 13,49%; mạch điện tử tích hợp giảm 12,20%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 11,20%; nước khoáng không có ga giảm 8,94%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín tăng 12,93%, trong đó: khai khoáng tăng 35,12%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 13,30%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,71%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng tăng 92,31%; tấm, phiến, mảng, lá và dải khác bằng plastic khác tăng 67,83%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 67,12%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu tăng 52,49%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 48,64%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 37,70%; dây thép không gỉ tăng 31,80%; Góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 28,53%; khí tự nhiên dạng khí tăng 29,22%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 27,09%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 26,76%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 26,14%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 39,20%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 13,18%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 12,98%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 7,85%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 6,55%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 5,17%;... Tính chung chín tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: ngành khai khoáng tăng 11,47%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,53%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 8,01%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 20,03%. Hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh đều có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 95,18%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 40,92%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 22,28%; sản xuất thiết bị điện tăng 21,52%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,98%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 20,57%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 18,93%;... Một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất đồ uống giảm 6,87%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,57%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,03%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 4,55%;... Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong chín tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 73,66%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 64,22%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 48,41%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 34,40%; giày dép khác chưa được phân vào đâu tăng 50,85%; tấm, phiến, mảng, lá và dải khác bằng plastic khác tăng 46,26%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 23,89%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 22,63%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu tăng 22,43%; khí tự nhiên dạng khí tăng 21,54%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 33,15%; mạch điện tử tích hợp giảm 25,57%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu giảm 22,83%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 20,62%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 20,41%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 14,20%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 8,40%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 4,99%;... 4. Hoạt động xây dựng Hiện nay, nhiều khu công nghiệp, khu đô thị và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đang đẩy mạnh hoạt động đầu tư xây dựng với tiến độ tương đối nhanh như Khu công nghiệp Phố Nối B mở rộng, Khu công nghiệp Sạch, Khu công nghiệp Lý Thường Kiệt,... Các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm tiếp tục được triển khai mới và mở rộng. Hoạt động xây dựng tại khu vực hộ dân cư cơ bản duy trì ổn định so với cùng kỳ. Khu vực doanh nghiệp cũng đẩy mạnh đầu tư mở rộng nhà xưởng sản xuất do tình hình kinh doanh ổn định và phát triển, góp phần thúc đẩy hoạt động xây dựng chung trên địa bàn tỉnh. Chín tháng năm 2025, giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành ước tính đạt 79.982 tỷ đồng, tăng 13,65% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo ngành kinh tế cấp 2: xây dựng nhà các loại 49.125 tỷ đồng, chiếm 61,42% và tăng 5,22%; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng 25.150 tỷ đồng, chiếm 31,44% và tăng 27,87%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 5.707 tỷ đồng, chiếm 7,14% và tăng 42,02%. Theo giá so sánh 2010, giá trị sản xuất ngành xây dựng chín tháng năm 2025 ước đạt 47.698 tỷ đồng, tăng 8,48% so với cùng kỳ năm 2024. Phân theo ngành kinh tế cấp 2: xây dựng nhà các loại 29.211 tỷ đồng, chiếm 61,24% và tăng 0,36%; xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng 14.962 tỷ đồng, chiếm 31,37% và tăng 21,97%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 3.525 tỷ đồng, chiếm 7,39% và tăng 35,80%. 5. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước tính đạt 18.994 tỷ đồng, tăng 1,56% so với tháng trước và tăng 0,89% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn chín tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 156.706 tỷ đồng, tăng 5,29% so cùng kỳ năm trước. Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chín tháng năm 2025 phân theo ngành kinh tế cụ thể như sau: Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Chín ước đạt 9.771 tỷ đồng, chiếm 51,44% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,53% so với tháng trước và tăng 14,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 20,72%; hàng may mặc tăng 28,16%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,44%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 6,72%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 39,24%; xăng, dầu các loại tăng 36,28%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 35,05%; hàng hóa khác tăng 15,53%;... Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 86.871 tỷ đồng, tăng 14,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước: lương thực, thực phẩm tăng 22,31%; hàng may mặc tăng 16,55%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 2,23%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,88%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 18,11%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 17,63%; xăng dầu các loại tăng 11,89%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 15,07%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 28,57%; hàng hóa khác tăng 15,73%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,74%. Riêng nhóm đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình có doanh thu giảm 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu tháng Chín ước đạt 805 tỷ đồng, tăng 2,81% so với tháng trước và tăng 10,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 33 tỷ đồng, tăng 0,62% so với tháng trước và tăng 16,24% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống ước đạt 772 tỷ đồng, tăng 2,91% so với tháng trước và tăng 10,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 7.686 tỷ đồng, tăng 19,55% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 276 tỷ đồng, tăng 15,45%; dịch vụ ăn uống 7.410 tỷ đồng, tăng 19,71%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Chín ước đạt 16,6 tỷ đồng, giảm 49,69% so với tháng trước và tăng 66,15% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 164 tỷ đồng, tăng 19,16% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Chín ước đạt 8.402 tỷ đồng, tăng 1,69% so với tháng trước và giảm 11,89% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn trong tháng Chín như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 7.483 tỷ đồng, tăng 1,54% so với tháng trước và giảm 14,21% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 312 tỷ đồng, tăng 1,97% so với tháng trước và tăng 7,68% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 184 tỷ đồng, tăng 8,04% so với tháng trước và tăng 14,65% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 122 tỷ đồng, tăng 1,06% so với tháng trước và tăng 12,30% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ nghệ thuật, vui chơi và giải trí ước đạt 79 tỷ đồng, giảm 3,04% so với tháng trước và tăng 25,45% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác ước đạt 222 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 15,91% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 61.985 tỷ đồng, giảm 6,55% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân doanh thu dịch vụ khác chín tháng năm 2025 giảm mạnh chủ yếu là do ngành kinh doanh bất động sản (chiếm 87,95% doanh thu dịch vụ khác) ghi nhận doanh thu giảm mạnh, cho thấy thị trường bất động sản trong tỉnh vẫn trong giai đoạn điều chỉnh, dòng vốn đầu tư còn thận trọng và tiến độ triển khai của một số dự án lớn chưa thực sự bứt phá. Các ngành dịch vụ khác vẫn duy trì mức tăng doanh thu chín tháng đạt khá so với cùng kỳ năm trước như: dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,34%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 6,29%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 9,74%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 21,21%; dịch vụ khác tăng 14,57%. 6. Hoạt động vận tải Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Chín ước đạt 1.552 tỷ đồng, tăng 1,43% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 13.412 tỷ đồng, tăng 13,52% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Chín ước đạt 5,1 triệu lượt người vận chuyển và 507 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 11,48% về lượt người vận chuyển và tăng 14,16% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 358 tỷ đồng, tăng 12,02%. Tính chung chín tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 45 triệu lượt người vận chuyển và 4.413 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 12,47% về lượt người vận chuyển và 14,0% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.132 tỷ đồng, tăng 13,31%. Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Chín ước đạt 5,6 triệu tấn vận chuyển và 1.697 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 18,06% về tấn hàng hóa vận chuyển và 21,86% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.094 tỷ đồng, tăng 13,88%. Tính chung chín tháng năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 48 triệu tấn vận chuyển và 14.212 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 15,80% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 20,46% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 9.403 tỷ đồng, tăng 13,58%. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Chín ước đạt 87 tỷ đồng, tăng 22,53% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 717 tỷ đồng, tăng 19,88% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Chín ước đạt 13 tỷ đồng, giảm 38,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 161 tỷ đồng, giảm 7,75% so với cùng kỳ năm trước. 7. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng, đô la Mỹ a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín tăng 0,52%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá giảm 0,09%, các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,60%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,01%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,01%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,01%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,07%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,03%; giao thông tăng 0,85%; giáo dục tăng 0,96%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,05%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín tăng 2,40%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, duy nhất nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,06%, còn lại 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,96% (lương thực giảm 5,07%; thực phẩm tăng 1,40%; ăn uống ngoài gia đình tăng 4,34%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,05%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,80%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,87%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,56%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,03%; giao thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 1,11%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,03%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín tăng 2,21%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 09 nhóm có chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,07%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,16%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,87%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,87%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,83%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,01%; giao thông tăng 1,99%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,31%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,53%. Ngược lại, 02 nhóm có chỉ số giá giảm là: nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,29%; nhóm giáo dục giảm 1,34%. Bình quân chung chín tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,20%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,22%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,91%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,41%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,87%; giáo dục tăng 2,15%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,93%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,64%; giao thông giảm 3,29%; bưu chính viễn thông giảm 0,25%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Tháng 9/2025, giá vàng trong nước tiếp tục có xu hướng tăng. Tuy nhiên, giao dịch vàng trong nước vẫn diễn ra khá thận trọng do nhiều nhà đầu tư chờ đợi diễn biến kinh tế vĩ mô và các thông tin điều hành lãi suất từ ngân hàng nhà nước Việt Nam. Mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và quốc tế vẫn duy trì ở mức cao, khiến người mua ưu tiên lựa chọn các loại vàng trang sức hoặc vàng nhẫn có tỷ lệ tinh khiết cao nhằm tối ưu chi phí đầu tư. Tháng 9/2025, chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh tăng 6,71% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 12.723.000 VNĐ/1 chỉ. Tỷ giá USD trong nước tháng 9/2025 có xu hướng tăng nhẹ so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ diễn biến trên thị trường thế giới khi đồng USD tiếp tục giữ sức mạnh nhờ các dự báo về chính sách tiền tệ thận trọng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed). Bên cạnh đó, nhu cầu ngoại tệ từ các doanh nghiệp nhập khẩu trong nước tăng chuẩn bị cho hoạt động sản xuất - kinh doanh cuối năm tạo áp lực lên tỷ giá. Mặt khác, chênh lệch lãi suất giữa VND và USD vẫn ở mức cao, góp phần duy trì xu hướng tăng của tỷ giá. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh tăng 0,69% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 27.225 VND. 8. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội Chín tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ước đạt 105.148 tỷ đồng, tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư phát triển phân theo nguồn vốn như sau: vốn thuộc khu vực nhà nước đạt 26.104 tỷ đồng, tăng 13,80%; khu vực ngoài nhà nước 58.500 tỷ đồng, tăng 8,37%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 20.544 tỷ đồng, tăng 19,63%. b) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Ước tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Chín đạt 4.249 tỷ đồng, tăng 71,57% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.488 tỷ đồng, tăng 111,97%; vốn ngân sách cấp nhà nước cấp xã 1.760 tỷ đồng, tăng 35,16%. Tính chung chín tháng năm 2025, vốn đầu tư ngân sách địa phương ước đạt 25.044 tỷ đồng, tăng 45,61% so với cùng kỳ năm trước và đạt 58,02% kế hoạch năm. Trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh 14.423 tỷ đồng, tăng 81,40% so với cùng kỳ năm trước và đạt 53,53% kế hoạch năm; vốn ngân sách cấp xã 10.622 tỷ đồng, tăng 14,84% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,47% kế hoạch năm. c) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến 26/9/2025, toàn tỉnh có 915 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.483,97 triệu USD, trong đó, từ đầu năm đến nay có 106 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 1.391,73 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 192 dự án, vốn đăng ký là 6.133,80 triệu USD, chiếm 37,21% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 340 dự án, vốn đăng ký 4.307,05 triệu USD, chiếm 26,13% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 206 dự án, vốn đăng ký 2.190,33 triệu USD, chiếm 13,29% tổng số vốn đăng ký. d) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/8/2025 đến ngày 21/9/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 331 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 2.288 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 72 doanh nghiệp, vốn đăng ký 588 tỷ đồng; sản xuất và phân phối, điện, nước, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 5 doanh nghiệp, vốn đăng ký 196 tỷ đồng; xây dựng 24 doanh nghiệp, vốn đăng ký 440 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 118 doanh nghiệp, vốn đăng ký 374 tỷ đồng; vận tải kho bãi 20 doanh nghiệp, vốn đăng ký 147 tỷ đồng; dịch vụ lưu trú, ăn uống 9 doanh nghiệp, vốn đăng ký 22 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/9/2025, toàn tỉnh có 4.125 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 59.149 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.701 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 5.898 tỷ đồng (chiếm 9,97% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 920 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 21.215 tỷ đồng (chiếm 35,87%); xây dựng 270 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.587 tỷ đồng (chiếm 4,37%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 141 doanh nghiệp, vốn đăng ký 626 tỷ đồng (chiếm 1,06%); hoạt động vận tải, kho bãi 239 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.368 tỷ đồng (chiếm 2,31%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 90 doanh nghiệp, vốn đăng ký 438 tỷ đồng (chiếm 0,74%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Chín (tính từ ngày 22/8/2025 đến ngày 21/9/2025) là 48 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/9/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 532 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/8/2025 đến ngày 21/9/2025, số doanh nghiệp giải thể là 95 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 104 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/9/2025, toàn tỉnh có 421 doanh nghiệp giải thể và 1.433 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 78 doanh nghiệp giải thể và 324 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 18,53% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 22,61% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 145 doanh nghiệp giải thể và 519 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,44% và 36,22%; kinh doanh bất động sản có 18 doanh nghiệp giải thể và 39 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,28% và 2,72%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ có 12 doanh nghiệp giải thể và 61 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 2,85% và 4,26%;... 9. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Chín ước đạt 3.669 tỷ đồng, tăng 51,19% so với tháng cùng kỳ năm 2024. Trong đó: thu nội địa 3.228 tỷ đồng, tăng 58,85%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 441 tỷ đồng, tăng 11,77%. Một số khoản thu chủ yếu trong tháng dự tính như sau: thu từ DNNN 89 tỷ đồng, tăng 20,16%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 157 tỷ đồng, tăng 103,50%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 972 tỷ đồng, tăng 31,47%; thu phí, lệ phí 143 tỷ đồng, tăng 3,28%; thu thuế thu nhập cá nhân 261 tỷ đồng, tăng 64,87%; các khoản thu về đất 1.487 tỷ đồng, tăng 99,54%;... Tính chung chín tháng năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 70.625 tỷ đồng, tăng 82,18% so với cùng kỳ năm trước và đạt 127,47% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 66.046 tỷ đồng, tăng 89,90% và đạt 132,08% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 4.579 tỷ đồng, tăng 14,81% và bằng 84,79% kế hoạch năm. Một số khoản thu nội địa chủ yếu như sau: thu từ DNNN 1.014 tỷ đồng, tăng 19,83%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.049 tỷ đồng, tăng 21,37%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 15.274 tỷ đồng, tăng 18,25%; thu phí, lệ phí 1.376 tỷ đồng, tăng 36,38%; thuế thu nhập cá nhân 2.889 tỷ đồng, tăng 59,32%; các khoản thu về đất 40.982 tỷ đồng, tăng 190,29%;... b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Chín ước đạt 2.756 tỷ đồng, giảm 20,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 701 tỷ đồng, giảm 62,35%; chi thường xuyên 2.055 tỷ đồng, tăng 29,35%. Tính chung chín tháng năm 2025, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 46.418 tỷ đồng, tăng 48,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 27.730 tỷ đồng, tăng 49,47%; chi thường xuyên 18.688 tỷ đồng, tăng 46,32%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.192 tỷ đồng, tăng 215,25%; chi giáo dục, đào tạo 6.903 tỷ đồng, tăng 24,41%; chi sự nghiệp y tế 1.627 tỷ đồng, tăng 17,31%; chi đảm bảo xã hội 2.270 tỷ đồng, tăng 46,32%; chi quản lý hành chính 5.327 tỷ đồng, tăng 86,68%;... c) Hoạt động ngân hàng Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn ước đến 30/9/2025 đạt 305.001 tỷ đồng, tăng 9,68% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 303.600 tỷ đồng, tăng 9,57% và chiếm 99,54% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.401 tỷ đồng, tăng 37,35% và chiếm 0,46%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/9/2025 đạt 255.000 tỷ đồng, tăng 14,17% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 187.700 tỷ đồng, tăng 13,09%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 67.300 tỷ đồng, tăng 17,32%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 247.000 tỷ đồng, tăng 14,66%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 8.000 tỷ đồng, tăng 0,98%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 168.500 tỷ đồng, tăng 12,55% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 111.950 tỷ đồng, tăng 13,0%; xuất khẩu 1.570 tỷ đồng, giảm 25,10%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 49.650 tỷ đồng, tăng 14,27%; công nghiệp hỗ trợ 5.230 tỷ đồng, tăng 5,46%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 100 tỷ đồng, giảm 22,47%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/9/2025 là 1.960 tỷ đồng (chiếm 0,77% dư nợ tín dụng), tăng 2,46% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Tình hình thiên tai Do ảnh hưởng của bão số 10 (bão Bualoi), các xã phía Nam và ven biển của tỉnh Hưng Yên có gió mạnh cấp 5, cấp 6, giật cấp 7; các nơi trên địa bàn tỉnh có mưa vừa, một số nơi có mưa to, tổng lượng mưa (tính đến 07h ngày 30/9/2025) phổ biến từ 40 - 110mm. Vào hồi 10 giờ 20 phút ngày 29/9/2025, trên địa bàn các xã: Thái Thụy, Thái Ninh, Nam Thái Ninh xảy ra cơn lốc xoáy quét qua khu dân cư gây thiệt hại về người và tài sản, cụ thể: (1) Thiệt hại về người: số người chết 02 người tại xã Thái Thụy; số người bị thương 17 người tại các xã: Thái Thụy, Thái Ninh, Nam Thái Ninh nhưng được cấp cứu kịp thời, đến nay qua báo cáo của ngành y tế, các hộ dân bị thương không ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe đang dần hồi phục. (2) Thiệt hại về tài sản: Công trình nhà bị hư hại: 379 nhà (xã Thái Thụy 157, xã Thái Ninh 137, xã Nghĩa Trụ 85); 01 trường mầm non, 01 Hợp tác xã, 01 Đền (xã Thái Thụy); hệ thống điện: bị gãy, đổ 49 cột điện (xã Thái Thụy 18 cột trung thế và 10 cột hạ thế, xã Thái Ninh 12 cột, xã Đông Thái Ninh 07 cột và xã Nghĩa Trụ 02 cột điện hạ thế); 01 Trạm biến thế bị đứt dây điện (xã Đông Thái Ninh) đã gây mất điện trên diện rộng các xã trên; cây to gãy đổ: đổ 265 cây lâu năm (xã Thái Thụy 100 cây, xã Thái Ninh 150 cây, xã Nghĩa Trụ 15 cây). (3) Thiệt hại về sản xuất nông nghiệp: diện tích lúa đổ toàn tỉnh khoảng 870ha/97.500ha, chiếm khoảng 0,9%. (4) Thiệt hại về nuôi trồng thủy sản: Diện tích đầm nuôi trồng thủy sản bị ngập 50 ha (xã Đông Tiền Hải 05 ha, xã Đồng Châu 20 ha, xã Thái Ninh 25 ha). (5) Thiệt hại về hệ thống công trình đê điều: Chưa có diễn biến. (6) Thiệt hại các công trình khác: Mực nước sông Hồng ở Minh Tân +2.9m, tràn bờ bao phía thượng lưu Cống Tân Ấp phía (K193+030, đê tả Hồng Hà II) dài khoảng 50m đã được xử lý giờ đầu xong theo phương châm “Bốn tại chỗ”. Đường giao thông (đường ra đồn Biên phòng) bị sạt lở phần mái 10m2 thuộc địa phận xã Hưng Phú. Đồn Biên phòng Cửa Lân phối hợp với chính quyền địa phương đã tiến hành khắc phục kịp thời ngăn chặn sạt lở lớn. 2. Đời sống dân cư và an sinh xã hội Theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, từ ngày 01/7/2025, thực hiện hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, lấy tên là tỉnh Hưng Yên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Hưng Yên hiện nay; không tổ chức cấp huyện; sáp nhập cấp xã và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã). Sau khi hợp nhất 2 tỉnh, tỉnh Hưng Yên mới có 104 đơn vị hành chính cấp xã (93 xã, 11 phường; trong đó: tỉnh Hưng Yên cũ có 33 xã và 6 phường, tỉnh Thái Bình cũ có 60 xã và 5 phường). Đến nay, bộ máy chính quyền địa phương 02 cấp tỉnh Hưng Yên đã được thành lập, nhanh chóng đi vào hoạt động, bước đầu vận hành ổn định, thông suốt, không gián đoạn trong quá trình chuyển đổi, được Nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể hoạt động sản xuất ổn định, không bị ảnh hưởng khi hợp nhất tỉnh. Công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong và sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính được giữ vững. Nhờ vậy, đời sống của Nhân dân tiếp tục ổn định sau hợp nhất tỉnh. Công tác người có công: Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025 và dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025), toàn tỉnh đã triển khai thực hiện thăm và tặng quà cho người có công đang hưởng trợ cấp hằng tháng và thân nhân liệt sĩ, người thờ cúng liệt sĩ. Trong đó: tặng 213.063 suất quà của Chủ tịch nước; 229.951 suất quà của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UB MTTQVN tỉnh cho người có công và gia đình liệt sĩ. Tổ chức thăm, tặng quà cho 107.506 người có công và gia đình liệt sĩ nhân kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước với tổng số tiền trên 53,7 tỷ đồng. Đưa đón đại biểu tham dự gặp mặt nhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại Hà Nội; Chương trình Gặp mặt, tri ân chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù, đày có những đóng góp và thành tích nổi bật trong 50 năm qua tại huyện Côn Đảo. Tiếp nhận và tổ chức trao 250 suất quà của Bộ Nội vụ đến các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng trên địa bàn tỉnh. Thành lập các Đoàn đại biểu của tỉnh tổ chức dâng hương, viếng các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ ở tỉnh ngoài và dâng hương tại một số khu di tích trên địa bàn tỉnh. Nhân dịp kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025), tỉnh tổ chức 25 đoàn đại biểu đi thăm, tặng quà đối với 78 đại diện gia đình chính sách, người có công với cách mạng tiêu biểu; thăm, tặng quà 7 trung tâm nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công trong tỉnh và tỉnh ngoài. Thành lập Đoàn đại biểu của tỉnh dâng hương, viếng các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ và dâng hương tưởng niệm anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng tại một số công trình ghi công liệt sỹ, khu di tích trên địa bàn tỉnh; chọn cử và đưa 08 đại biểu người có công tiêu biểu của tỉnh đi dự Lễ kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ do trung ương tổ chức tại thành phố Hà Nội. Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2/9, tỉnh đã lập danh sách 1.006 người có công với cách mạng (67 Bà Mẹ Việt Nam anh hùng và 939 thương binh có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 81% trở lên trên địa bàn tỉnh) nhận quà của Quỹ Thiện tâm (Tập đoàn Vingroup), mỗi suất quà là 20 triệu đồng, tổng kinh phí thăm, tặng quà trên 20 tỷ đồng; tổ chức Đoàn đại biểu người có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ của tỉnh tham dự Chương trình “Sao Độc lập” năm 2025 với chủ đề “Vì một Việt Nam thịnh vượng” vào lúc 20 giờ, ngày 24/8/2025 tại Nhà hát Hồ Gươm, Hà Nội. 3. Lao động, việc làm Chín tháng năm 2025, toàn tỉnh có khoảng 45.400 lao động có việc làm tăng thêm (trong đó lao động đi làm việc ở nước ngoài là 5.900 người). Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 7.411 người lao động. Tỉnh đã tổ chức hội nghị tập huấn phổ biến pháp luật lao động cho gần 400 đại biểu là đại diện chủ sử dụng lao động, nhân sự phụ trách lao động, tiền lương, BHXH, nhân sự quản lý lao động nước ngoài làm việc của gần 300 doanh nghiệp. Tỉnh tổ chức ngày hội tư vấn tuyển sinh, định hướng nghề nghiệp và kết nối cung cầu lao động năm 2025 thu hút 90 doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp đăng ký, gửi nội dung tham gia. Kết thúc các hoạt động ngày hội, có 25 doanh nghiệp và cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp thỏa thuận hợp tác trong việc liên kết đào tạo, cung ứng lao động; 1.500 lượt sinh viên, học sinh và người lao động được tư vấn, kết nối, trong đó trên 500 chỉ tiêu tuyển sinh học nghề và trên 1.000 vị trí việc làm. Tổ chức hội nghị kết nối hợp tác, cung ứng lao động cho doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh năm 2025 với sự tham gia của 21 doanh nghiệp và 10 trường Đại học, Cao đẳng trong khu vực phía Bắc. Trung tâm Dịch vụ việc làm đã tổ chức tư vấn, giới thiệu việc làm, định hướng nghề nghiệp cho 29.645 lượt người lao động. Tổ chức 22 phiên giao dịch việc làm định kỳ, có 2.181 người lao động đến tham gia tuyển dụng tại Sàn đã được tư vấn về chính sách BHTN, dạy nghề, giới thiệu việc làm trong và ngoài nước. Tiếp tục thực hiện chương trình thí điểm thực hiện đưa người lao động đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc. Chín tháng năm 2025, đã có 203 người lao động của tỉnh đi làm việc thời vụ tại Hàn Quốc. Tổ chức hội nghị đối thoại công tác ATVSLĐ năm 2025 với sự tham gia của 300 đại biểu đến từ 150 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. 4. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Chín tháng năm 2025, trên địa bàn tỉnh đã diễn ra nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước, của tỉnh. Tỉnh đã tổ chức thành công Liên hoan nghệ thuật Ca trù, Trống quân và hát Chèo tỉnh Hưng Yên năm 2025. Tổ chức tuyên truyền lưu động kỷ niệm ngày Thương binh - Liệt sỹ 27/7; chào mừng 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025); tham gia Hội thi tuyên truyền lưu động toàn quốc tại các tỉnh Tuyên Quang, Bắc Ninh, Hải Phòng, kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc; tổ chức 06 buổi xe ô tô tuyên truyền lưu động tại cơ sở; tổ chức 03 Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; hướng dẫn các cơ quan, đơn vị, địa phương tổ chức các hoạt động tuyên truyền cổ động trực quan, trang trí khánh tiết chào mừng Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Thư viện tỉnh tổ chức các cuộc trưng bày, giới thiệu sách, báo, tài liệu nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và địa phương, trọng tâm là: Hội thảo khoa học và Lễ Kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Trung tâm Thông tin - Hội nghị tỉnh Hưng Yên; kỷ niệm 78 năm ngày Thương binh liệt sỹ; kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; 80 năm Ngày truyền thống Ngành Văn hóa; tổ chức 08 mô hình sách nghệ thuật, 10 pano hình ảnh tư liệu tuyên truyền tại 02 cơ sở và Bảo tàng tỉnh với trên 2.300 cuốn sách, báo, tài liệu, hình ảnh. Nhà hát Chèo đã tổ chức 55 buổi biểu diễn trong và ngoài tỉnh thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân, nổi bật là: Biểu diễn nghệ thuật chào mừng Lễ công bố quyết định thành lập chính quyền 02 cấp; kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; khai trương phố đi bộ tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm; chương trình nghệ thuật chào mừng Đại hội Đảng bộ Ủy ban nhân dân tỉnh Hưng Yên; kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Văn hóa. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 735 buổi chiếu phim (trong đó có 148 buổi chiếu phim lưu động tại cơ sở; 587 buổi chiếu phim tại Rạp Phố Hiến và Rạp Thống Nhất) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: tổ chức trưng bày hình ảnh về thành tựu Kinh tế - Văn hóa xã hội tỉnh Hưng Yên. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: Phong trào Thể dục thể thao quần chúng phát triển rộng khắp, thu hút mọi đối tượng, lứa tuổi tham gia với nhiều hình thức tập luyện đa dạng và phong phú. Các giải thể thao quần chúng được các đơn vị, địa phương tổ chức vào các dịp chào mừng ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước, của địa phương, tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong các tầng lớp Nhân dân. Các hoạt động thể thao dành cho thiếu nhi trong dịp hè, đặc biệt là các giải thể thao học sinh, các lớp bơi phòng, chống đuối nước, lớp bóng đá năng khiếu được xã hội quan tâm, tổ chức góp phần tạo sân chơi lành mạnh, bổ ích và giáo dục toàn diện nhân cách cho các em học sinh; phong trào Thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang được quan tâm, thực hiện. Thể thao thành tích cao: đơn vị chuyên môn đã quyết định cho 65 em thôi làm VĐV ở các bộ môn (Bóng đá, Cầu lông, Bơi lặn, Karate, Đua thuyền, Jiujitsu, Vật, Boxing, Bóng chuyền, Wushu, Kicboxing); tuyển chọn và gọi tập trung bổ sung 24 VĐV ở các môn (Bóng đá, Đua thuyền, Võ cổ truyền, Bơi lặn, Wushu, Cầu lông, Boxing). Chín tháng năm 2025, đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu 42 giải thể thao quốc gia và 04 giải thể thao Quốc tế, đạt tổng số 237 huy chương các loại, trong đó 67 huy chương Vàng, 72 huy chương Bạc, 134 huy chương Đồng. Đặc biệt đội Bóng đá nhi đồng U11 tỉnh Hưng Yên giành chức Vô địch Cúp Nest’le Milo năm 2025. c) Hoạt động du lịch Tỉnh xây dựng kế hoạch, tổ chức các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch tỉnh Hưng Yên tại Hội chợ quốc tế thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 19 năm 2025; thực hiện Đề án “Cơ cấu lại ngành du lịch đáp ứng yêu cầu phát triển thành ngành kinh tế mũi nhọn”; chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030. Trong quý III, lượng khách đến tham quan du lịch tại Hưng Yên ước đạt 1.100.000 lượt, trong đó có khoảng trên 15.000 lượt khách du lịch quốc tế. Triển khai Kế hoạch tổ chức lớp tập huấn kiến thức phát triển bền vững điểm đến du lịch trên địa bàn tỉnh năm 2025; Kế hoạch Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số. Triển khai Kế hoạch tổ chức Cuộc thi sáng tác Video Clip Du lịch Hưng Yên năm 2025; khảo sát điểm du lịch, xây dựng tuyến điểm mới trên địa bàn tỉnh; tham gia quảng bá du lịch tại Hội chợ du lịch Quốc tế ITE Hồ Chí Minh năm 2025; hỗ trợ Tổng Công ty Du lịch Hà Nội khảo sát tuyến, điểm du lịch Hưng Yên; hướng dẫn, giới thiệu cho đoàn khách của tỉnh Nghệ An, Nhật Bản tham quan vườn nhãn tại xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên. Phối hợp phát sóng phóng sự “Chuyện nghề mộc ở Hòa Phong” trong chuyên mục Mỗi ngày một niềm vui, trên kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam; xây dựng phim tổng hợp quảng bá Du lịch Hưng Yên; phối hợp với Đài truyền hình Việt Nam - kênh VTV3 thực hiện chương trình Hành trình kết nối xanh, ghi hình phim “Đi tìm Phố Hiến phồn hoa”; phối hợp Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên thực hiện phóng sự và chương trình thực tế: “Trải nghiệm vùng biển quê em”; “Giới thiệu điểm đến du lịch của Cồn Vành”; “ Túi tò mò”. 5. Giáo dục, đào tạo Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 là kỳ thi đầu tiên theo Chương trình GDPT 2018, diễn ra trong bối cảnh sáp nhập đơn vị hành chính cấp tỉnh. Điểm trung bình tất cả các môn thi của Hưng Yên đạt 6,181, xếp thứ 11 toàn quốc; nhiều môn có kết quả xếp hạng trong top 10 cả nước. Tỉnh có 02 học sinh đạt Thủ khoa toàn quốc khối A00 trong Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2025 với điểm tuyệt đối Toán 10, Vật lý 10, Hóa học 10. Ngành Giáo dục đã tổ chức họp Hội đồng xét công nhận tốt nghiệp THPT năm 2025, kết quả: 41.427 thí sinh được công nhận tốt nghiệp, đạt tỷ lệ 99,62%. Sáng ngày 05/9/2025, cùng với các cơ sở giáo dục trên toàn quốc, 100% cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh tổ chức Lễ Khai giảng năm học mới 2025-2026, đồng thời tham dự truyền hình trực tiếp trên kênh VTV1 Lễ Khai giảng năm học 2025-2026 kết hợp với Lễ kỷ niệm 80 năm thành lập Bộ Quốc gia Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo). Đầu năm học 2025-2026, toàn tỉnh có 1.235 cơ sở giáo dục, 22.903 lớp, 741.191 học sinh, 40.103 cán bộ quản lý cơ sở giáo dục và giáo viên, 4.283 nhân viên trường học, 23.394 phòng học. Trong đó: - 496 cơ sở giáo dục mầm non, 7.022 nhóm lớp, 138.920 trẻ, 12.874 cán bộ quản lý, giáo viên; 2.158 nhân viên trường học, 7.135 phòng học. - 196 trường tiểu học, 4.021 lớp, 142.379 học sinh, 6.135 cán bộ quản lý, giáo viên, 421 nhân viên trường học, 4.057 phòng học. - 187 trường THCS, 2.950 lớp, 124.467 học sinh, 5.157 cán bộ quản lý, giáo viên, 371 nhân viên trường học, 2.970 phòng học. - 255 trường TH&THCS, 5.835 lớp (tiểu học: 3.352 lớp, THCS 2.483 lớp); 199.883 học sinh (tiểu học: 107.775 học sinh, THCS: 92.108 học sinh); 10.096 cán bộ quản lý, giáo viên, 417 nhân viên trường học, 5.921 phòng học. - 01 trường THCS&THPT, 35 lớp, 1.464 học sinh, 63 cán bộ quản lý, giáo viên, 8 nhân viên trường học, 40 phòng học. - 71 trường THPT, 2.310 lớp, 104.559 học sinh, 4.439 cán bộ quản lý, giáo viên, 511 nhân viên, 2.415 phòng học. - 9 trường TH, THCS và THPT, 357 lớp (134 tiểu học, 100 THCS, 123 THPT), 10.433 học sinh (3.382 tiểu học, 2.773 THCS, 4.278 THPT), 715 cán bộ quản lý, giáo viên, 261 nhân viên trường học, 430 phòng học. - 18 Trung tâm GDNN-GDTX, 344 lớp, 18.024 học sinh, 587 cán bộ quản lý, giáo viên, 129 nhân viên, 388 phòng học. - 02 Trung tâm GDTX, 29 lớp, 1.062 học sinh, 37 cán bộ quản lý, giáo viên, 7 nhân viên, 38 phòng học. Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có toàn tỉnh có 33 cơ sở giáo dục nghề nghiệp (14 trường cao đẳng, 11 trường trung cấp, 8 trung tâm dạy nghề). 6. Hoạt động y tế Chín tháng năm 2025, tỉnh Hưng Yên đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: Số ca mắc/nghi mắc Sởi có xu hướng giảm và duy trì ở mức thấp, hiện tại được kiểm soát tốt. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Tính từ ngày 01/7/2025 đến nay là 67 ca, không có trường hợp nặng, tử vong. Sốt xuất huyết Dengue: Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Số ca mắc từ 01/7/2025 đến nay là 186 ca, không ghi nhận ca tử vong do SXH. Bệnh tay chân miệng: Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Lũy kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến nay là 399 ca, không ghi nhận chùm ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm, nặng hoặc tử vong trên địa bàn. Bệnh Covid-19: Toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Lũy kế từ 01/7/2025 đến nay là 98 ca. Bệnh do vi-rút Adeno: Lũy kế số ca từ 01/7/2025 đến nay là 22 ca, các ca mắc rải rác tại các xã, không ghi nhận ca tử vong. Hội chứng cúm: Ghi nhận rải rác các trường hợp mắc hội chứng chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh, các hoạt động giám sát được duy trì. 7. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng Chín năm 2025 (từ ngày 26/8/2025 - 25/9/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 09 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 06 vụ với số tiền xử phạt 300 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm đã phát hiện tăng 02 vụ, tương ứng tăng 28,57%; số vụ đã xử lý bằng với tháng trước; số tiền xử phạt giảm 330 triệu đồng, tương ứng giảm 52,37%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 17 vụ, tương ứng giảm 65,38%; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 01 vụ, tương ứng tăng 20,0%; số tiền xử phạt giảm 655 triệu đồng, tương đương giảm 68,59%. Lũy kế chín tháng năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 - 25/9/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 137 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý được 91 vụ với số tiền xử phạt là 5.367 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 46 vụ, tương ứng tăng 50,55%; số vụ đã xử lý tăng 45 vụ, tương ứng tăng 97,83%; số tiền xử phạt tăng 1.826 triệu đồng, tương đương tăng 51,58%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là vi phạm an toàn thực phẩm; quản lý chất thải nguy hại; xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép,... Từ ngày 15/8/2025 đến ngày 14/9/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 02 vụ cháy (Phường Phố Hiến xảy ra 01 vụ; xã Hưng Hà xảy ra 01 vụ), không phát sinh vụ nổ; không có người chết; làm 01 người bị thương do cháy. Lũy kế chín tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/9/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 25 vụ cháy và 02 vụ nổ; số người chết do cháy, nổ là 07 người; số người bị thương là 09 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ giảm 01 vụ; số người chết tăng 07 người; số người bị thương tăng 07 người. 8. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/8/2025 đến 14/9/2025, toàn tỉnh xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 30 người, làm bị thương 37 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 06 vụ, giảm 10,71%; số người chết giảm 02 người, giảm 6,25%; số người bị thương tăng 3 người, tăng 8,82%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 10 vụ, giảm 16,67%; số người chết giảm 02 người, giảm 6,25%; số người bị thương tăng 07 người, tăng 23,33%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/9/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 435 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 433 vụ, đường sắt 1 vụ, đường thủy 1 vụ); làm chết 254 người (trong đó: đường bộ 253 người, đường thủy 1 người); làm bị thương 277 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 251 vụ, giảm 36,59%; số người chết giảm 35 người, giảm 12,11%; số người bị thương giảm 254 người, giảm 47,83%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng tám và tám tháng đầu năm 2025
- 04/09/2025 08:01
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp tháng Tám của các địa phương trong tỉnh là tập trung chăm sóc lúa và rau màu vụ mùa; thu hoạch cây ăn quả chủ lực của tỉnh là cây nhãn, đồng thời bảo vệ an toàn trên đàn gia súc, gia cầm trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau: a) Trồng trọt Cây hằng năm Vụ mùa năm nay, toàn tỉnh gieo cấy 96.200 ha lúa mùa, trong đó diện tích lúa mùa trà sớm chiếm 10-15% diện tích. Tỷ lệ gieo cấy lúa chất lượng cao chiếm trên 50%, bằng các giống lúa: Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1... , còn lại là các giống lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như: Thiên ưu 8, TBR225, TBR87,... Diện tích lúa cấy bằng máy đạt trên 25.000 ha. Hiện nay, lúa mùa đang ở thời kỳ cuối đẻ nhánh đến đứng cái làm đòng, đây là giai đoạn lúa rất mẫn cảm với sâu, bệnh hại và quyết định đến năng suất, chất lượng lúa. Tuy nhiên, theo báo cáo của ngành chức năng, các đối tượng dịch hại trên lúa phát sinh, gây hại cao hơn, diễn biến phức tạp hơn, diện phân bổ rộng hơn so với cùng kỳ nhiều năm, đặc biệt là sâu đục thân hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ. Song song với việc chăm sóc lúa mùa, tại thời điểm này, nông dân tiếp tục gieo trồng và thu hoạch các loại cây rau màu vụ mùa. Tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm khác vụ mùa tính đến thời điểm ngày 20/8/2025 như sau: cây ngô 2.297 ha; khoai lang 496 ha; lạc 201 ha; đậu tương 887 ha; rau các loại 12.965 ha. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh cơ bản ổn định. Đối với cây nhãn là cây lâu năm chủ lực của tỉnh, năm nay thời tiết cơ bản thuận lợi cho cây nhãn phân hóa mầm hoa nên tỷ lệ nhãn ra hoa, đậu quả ước đạt trên 95% diện tích. Hiện nay, cây nhãn đang trong giai đoạn thu hoạch chính vụ. Dự kiến năng suất, sản lượng nhãn năm nay cao hơn năm 2024 từ 15-20%. Các loại cây có múi như cam, bưởi đang trong giai đoạn phát triển quả non, hình thành múi, hiện các nhà vườn đang tiến hành chăm sóc và phòng trừ một số loại sâu bệnh hại chính trên cây ăn quả; bổ sung nguồn dinh dưỡng nuôi dưỡng quả; thực hiện cắt tỉa, chăm sóc các diện tích bị mất mùa để bảo đảm năng suất, chất lượng cho vụ sau. Trong tháng, tỉnh đã tổ chức Hội nghị xúc tiến tiêu thụ nhãn, nông sản và Phiên chợ nhãn lồng nhằm tiếp tục quảng bá thương hiệu nông sản, kết nối cung - cầu, mở rộng thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước. Cụ thể: (1) Sáng ngày 20/8/2025, tại Trung tâm Thông tin - Hội nghị tỉnh đã diễn ra Hội nghị Xúc tiến tiêu thụ nhãn, nông sản tỉnh Hưng Yên năm 2025 với sự tham gia của 25 gian hàng trưng bày nhãn lồng và các loại nông sản, sản phẩm OCOP tiêu biểu của tỉnh. (2) Sáng 22/8, tại Trung tâm thương mại Tasco Mall (phường Việt Hưng, TP Hà Nội) diễn ra khai mạc Phiên chợ nhãn lồng - Nông sản tiêu biểu tỉnh Hưng Yên năm 2025 với sự tham gia của 18 gian hàng tiêu biểu của các nhà vườn, hợp tác xã sản xuất nhãn lồng và các sản phẩm nông sản tiêu biểu trên địa bàn tỉnh. b) Chăn nuôi Cuối tháng Bảy, dịch tả lợn châu Phi đã tái phát tại một số địa phương gây thiệt hại đáng kể cho đàn lợn. Tính đến ngày 17/8/2025, trên địa bàn tỉnh, dịch tả lợn châu Phi xảy ra tại 88 hộ, 60 thôn của 28 xã; số con mắc, chết và tiêu hủy là 1.994 con lợn (63 con lợn nái và 1.931 con lợn thịt); khối lượng lợn tiêu hủy 99.481 kg (lợn nái 10.149 kg và lợn thịt 289.332 kg). Các đơn vị chuyên môn thường xuyên hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc công tác tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc, gia cầm; đồng thời giám sát, nắm bắt tình hình dịch bệnh trên địa bàn để phát hiện sớm dịch bệnh và có biện pháp xử lý kịp thời, hiệu quả. Tỉnh đã xuất 2.600 lít hóa chất hỗ trợ cho các xã có ổ dịch và 21 tấn hóa chất hỗ trợ cho các địa phương thực hiện tháng vệ sinh tiêu độc khử trùng. Ước tính tại thời điểm 31/8/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.825 con, tăng 0,26%, đàn bò 83.873 con, tăng 2,19%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.029.835 con, tăng 1,15%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.083 nghìn con, tăng 1,85% (trong đó: đàn gà đạt 17.102 nghìn con, tăng 2,92%) so với cùng thời điểm năm trước. c) Lâm nghiệp Tháng Tám, tỉnh trồng được 7 ha diện tích rừng trồng mới ở huyện Thái Thụy (cũ). Sản lượng gỗ khai thác trong tháng ước đạt 403 m³, tăng 0,25%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 97,9 nghìn cây, tăng 0,82% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế tám tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.256 m³, giảm 0,36%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.362 nghìn cây, tăng 1,10% so với cùng kỳ năm trước. d) Sản xuất thủy sản Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Tám ước đạt 8.220 tấn, tăng 2,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.032 tấn, tăng 2,86%; tôm 256 tấn, tăng 2,40%; thủy sản khác 1.932 tấn, tăng 2,93%. Lũy kế tám tháng năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 70.172 tấn, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 45.094 tấn, tăng 2,90%; tôm 1.158 tấn, tăng 2,66%; thủy sản khác 23.920 tấn, tăng 2,88%. Nuôi trồng thủy sản: hoạt động nuôi trồng thủy sản tại các vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, các điểm nuôi cá lồng trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng được chú trọng quan tâm. Các giống thủy sản nuôi trong lồng là: cá lăng, cá diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen,... Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Tám ước đạt 23.852 tấn, tăng 3,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 8.677 tấn, tăng 2,84%; tôm 908 tấn, tăng 3,30%; thủy sản khác 14.268 tấn, tăng 3,18%. Cộng dồn tám tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 159.905 tấn, tăng 3,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 66.681 tấn, tăng 3,03%; tôm 3.332 tấn, tăng 3,52%; thủy sản khác 89.891 tấn, tăng 3,10%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp Tình hình sản xuất kinh doanh trên cả nước có nhiều khởi sắc, do đó tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng có nhiều thuận lợi. Đặc biệt, các doanh nghiệp ngành chế biến, chế tạo vẫn duy trì tốc độ phát triển sản xuất khá. Cụ thể như sau: So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 0,87%, trong đó: khai khoáng tăng 0,07%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,14%; sản xuất và phân phối điện tăng 13,64%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,38%. Một số sản phẩm công nghiệp trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: điện sản xuất tăng 20,66%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 17,84%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 10,86%; sơn và véc ni, tan trong môi trường nước tăng 6,21%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 4,87%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 4,51%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 2,74%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất trong tháng Tám giảm so với tháng Bảy như: máy làm đông lạnh kiểu tủ, dung tích không quá 800 lít giảm 34,51%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 11,06%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc giảm 9,31%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng giảm 3,25%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 8,92%; thức ăn cho gia súc giảm 6,35%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 4,20%; Nitơrat Amoni giảm 7,55%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám tăng 11,61%, trong đó: khai khoáng tăng 7,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,24%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,73%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,82%. Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng tăng 87,50%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 64,53%; Nitơrat Amoni tăng 60,65%; khí tự nhiên dạng khí tăng 35,41%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 31,61%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 19,70%; quần áo các loại tăng 19,30%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 14,10%; điện sản xuất tăng 10,31%; thức ăn cho gia súc tăng 9,04%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 43,82%; mạch điện tử tích hợp giảm 41,91%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 30,34%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 14,69%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 7,14%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 28,62%; sơn và véc ni, tan trong môi trường nước giảm 26,31%; sản phẩm sứ vệ sinh giảm 20,91%;... Tính chung Tám tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,37% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: khai khoáng tăng 9,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 11,29%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 8,65%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 20,95%. Hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 đều có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 93,67%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 39,73%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 21,82%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 21,73%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 21,09%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 19,13%; sản xuất xe có động cơ tăng 19,10%;... Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất đồ uống giảm 8,49%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 1,90%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 1,94%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 3,02%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 3,93%;... Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tám tháng năm 2025 tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 63,0%; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại tăng 55,65%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 54,33%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 34,81%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 27,12%; tấm lát đường và vật liệu lát, ốp lát tăng 25,44%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu tăng 21,18%; khí tự nhiên dạng khí tăng 20,58%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 19,68%; quần áo các loại tăng 16,02%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 15,59%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 53,83%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 7,22%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước như: máy làm đông lạnh kiểu tủ, dung tích không quá 800 lít giảm 70,94%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 34,62%; mạch điện tử tích hợp giảm 29,80%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 23,33%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 21,38%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 13,77%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 10,56%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 12,75%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Tám đạt 3.687 tỷ đồng, tăng 27,31% so với tháng trước và tăng 46,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 2.358 tỷ đồng, tăng 27,21% so với tháng trước và tăng 113,03% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 1.329 tỷ đồng, tăng 27,50% so với tháng trước và giảm 5,91% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách Nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 20.651 tỷ đồng, tăng 40,26% so với cùng kỳ năm trước và đạt 47,84% so với kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách Nhà nước cấp tỉnh 11.952 tỷ đồng, tăng 76,36% so với cùng kỳ năm trước và đạt 44,36% kế hoạch năm; vốn ngân sách Nhà nước cấp xã 8.699 tỷ đồng, tăng 9,47% so với cùng kỳ năm trước và đạt 53,62% kế hoạch năm. Sáng ngày 19/8/2025, tỉnh Hưng Yên đã tổ chức lễ khởi công 03 dự án trọng điểm chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025), gồm: Dự án Bệnh viện Đa khoa tỉnh (tại Khu Trung tâm y tế Thái Bình); Dự án xây dựng tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng; Dự án đầu tư xây dựng Khu nhà ở cho người thu nhập thấp (Khu công nghiệp Yên Mỹ). Đây là những dự án có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, hạ tầng đô thị, công nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội của tỉnh. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 26/8/2025, toàn tỉnh có 904 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.216,40 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/8/2025, có 97 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.604,82 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 189 dự án, vốn đăng ký là 6.112,50 triệu USD, chiếm 37,69% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 337 dự án, vốn đăng ký 4.304,33 triệu USD, chiếm 26,54% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 204 dự án, vốn đăng ký 2.175,47 triệu USD, chiếm 13,42% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/7/2025 đến ngày 21/8/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 767 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 10.700 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 193 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.945 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 338 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.112 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 33 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.718 tỷ đồng; vận tải kho bãi 56 doanh nghiệp, vốn đăng ký 241 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 26 doanh nghiệp, vốn đăng ký 77 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 7 doanh nghiệp, vốn đăng ký 13 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/8/2025, toàn tỉnh có 3.794 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 56.861 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.583 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 5.525 tỷ đồng (chiếm 9,72% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 848 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 20.627 tỷ đồng (chiếm 36,28%); giáo dục và đào tạo 262 doanh nghiệp, vốn đăng ký 609 tỷ đồng (chiếm 1,07%); xây dựng 246 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.147 tỷ đồng (chiếm 3,78%); hoạt động vận tải, kho bãi 219 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.220 tỷ đồng (chiếm 2,15%); kinh doanh bất động sản 149 doanh nghiệp, vốn đăng ký 20.799 tỷ đồng (chiếm 36,58%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 123 doanh nghiệp, vốn đăng ký 578 tỷ đồng (chiếm 1,02%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 74 doanh nghiệp, vốn đăng ký 276 tỷ đồng (chiếm 0,49%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Tám (tính từ ngày 22/7/2025 đến ngày 21/8/2025) là 57 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/8/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 484 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/7/2025 đến ngày 21/8/2025, số doanh nghiệp giải thể là 68 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 100 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/8/2025, toàn tỉnh có 326 doanh nghiệp giải thể và 1.329 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 59 doanh nghiệp giải thể và 304 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 18,10% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 22,87% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 112 doanh nghiệp giải thể và 488 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,36% và 36,72%; kinh doanh bất động sản có 14 doanh nghiệp giải thể và 37 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,29% và 2,78%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 19 doanh nghiệp giải thể và 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,83% và 4,21%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám ước đạt 18.771 tỷ đồng, tăng 5,11% so với tháng trước và giảm 4,07% so cùng kỳ năm trước. Cộng dồn tám tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 137.780 tỷ đồng, tăng 6,02% so cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Tám ước đạt 9.660 tỷ đồng, chiếm 51,46% tổng doanh thu hàng hóa và dịch vụ, tăng 0,82% so với tháng trước và tăng 17,23% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ của một số nhóm hàng so với tháng trước như sau: lương thực, thực phẩm tăng 1,25%; hàng may mặc tăng 1,22%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,37%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 2,05%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 1,00%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con giảm 0,61%; nhóm xăng, dầu các loại tăng 0,32%; hàng hóa khác tăng 2,40%. Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 77.136 tỷ đồng, tăng 14,48% so với cùng kỳ năm trước. Hầu hết các nhóm hàng đều có doanh thu bán lẻ tăng và tăng mạnh là: lương thực, thực phẩm tăng 22,16%; hàng may mặc tăng 15,14%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,08%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 19,24%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con tăng 15,27%; xăng, dầu các loại tăng 9,20%; nhiên liệu khác tăng 17,97%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 27,97%; hàng hóa khác tăng 15,79%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô xe máy và xe có động cơ khác tăng 19,80%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Tám ước đạt 789 tỷ đồng, giảm 4,79% so với tháng trước và tăng 9,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 32 tỷ đồng, tăng 5,33% so với tháng trước và tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 757 tỷ đồng, giảm 5,18% so với tháng trước và tăng 9,81% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.887 tỷ đồng, tăng 20,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 241 tỷ đồng, tăng 14,80%; doanh thu dịch vụ ăn uống 6.646 tỷ đồng, tăng 21,03% do các chi phí sản xuất như giá lương thực, giá điện, giá gas, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Tám ước đạt 33 tỷ đồng, giảm 7,90% so với tháng trước và tăng 31,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 147 tỷ đồng, tăng 15,21% so với cùng kỳ năm trước. Thời điểm này đã vào tháng cuối hè nên lượng khách ở một số điểm du lịch biển như Cồn Vành, Cồn Đen có xu hướng giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn tăng cao so với cùng kỳ. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Tám ước đạt 8.289 tỷ đồng, tăng 11,82% so với tháng trước và giảm 21,67% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 7.400 tỷ đồng tăng 11,73% so với tháng trước và giảm 24,08% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 302 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 8,32% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 164 tỷ đồng, tăng 90,80% so với tháng trước và giảm 13,76% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 128 tỷ đồng, tăng 1,10% so với tháng trước và tăng 9,79% so với cùng kỳ;... Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 53.610 tỷ đồng, giảm 5,53% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do ngành kinh doanh bất động sản (chiếm tới 87,79% tổng doanh thu dịch vụ khác) giảm 7,51% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành dịch vụ khác vẫn duy trì mức tăng doanh thu khá cao so với cùng kỳ năm trước như: dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 10,18%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 32,00%; dịch vụ khác tăng 14,56%;... 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tám giảm nhẹ - giảm 0,01%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 02 nhóm có chỉ số giá giảm, 07 nhóm có chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số giá ổn định. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,14%; giao thông giảm 0,15%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,05%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,10%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,03%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,08%; giáo dục tăng 0,18%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,02%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Nhóm đồ uống, thuốc lá và nhóm bưu chính viễn thông có chỉ số giá ổn định so với tháng trước. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 2,45%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm có chỉ số tăng, 02 nhóm có chỉ số giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,96%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,15%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 4,78%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,83%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 10,05%; bưu chính viễn thông tăng 2,90%; giáo dục tăng 2,24%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,59%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 54,77%. Ngược lại, 02 nhóm có chỉ số giá giảm là: nhóm thuốc và dịch vụ y tế giảm 1,83%; nhóm giao thông giảm 0,14%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 1,86%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, duy nhất nhóm giao thông giảm 0,82%, còn lại 10/11 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,35% (lương thực giảm 5,07%; thực phẩm tăng 0,82%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,94%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,04%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,78%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 3,82%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,48%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,99%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; giáo dục tăng 0,15%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,23%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,01%. Bình quân chung tám tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,74% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, chỉ số giá nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,47%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,23%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,92%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,35%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,67%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,85%; giáo dục tăng 2,60%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,76%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,17%; giao thông giảm 3,93%; bưu chính viễn thông giảm 0,24%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Giá vàng trong nước tiếp tục tăng theo xu hướng của thị trường kim loại quý thế giới. Tuy nhiên, trái ngược với sự sôi động trên thị trường quốc tế, giao dịch vàng trong nước khá trầm lắng khi cả người mua lẫn người bán đều có tâm lý thận trọng, chờ đợi các quyết định điều hành mới từ cơ quan quản lý. Hiện chênh lệch giá giữa vàng trong nước và thế giới vẫn duy trì ở mức cao, khiến nhiều nhà đầu tư có xu hướng chuyển sang mua vàng nhẫn hoặc vàng trang sức 99,99% thay vì lựa chọn vàng miếng SJC nhằm tối ưu chi phí. Tháng 8/2025, chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh tăng 1,72% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 11.925.000 VNĐ/1 chỉ. Đồng USD trên thị trường thế giới duy trì xu hướng mạnh lên khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục chính sách tiền tệ thận trọng; trong nước, nhu cầu ngoại tệ của doanh nghiệp nhập khẩu tăng cao phục vụ sản xuất, kinh doanh cuối năm, cùng với chênh lệch lãi suất VNĐ - USD nới rộng đã tạo áp lực khiến tỷ giá tăng. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh tăng 0,56% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.384 VNĐ. 6. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tám ước đạt 1.508 tỷ đồng, tăng 0,27% so với tháng trước và tăng 10,64% so với cùng kỳ năm trước. Tám tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 11.837 tỷ đồng, tăng 13,36% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 5 triệu lượt người vận chuyển và 494 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 9,46% về lượt người vận chuyển và tăng 10,48% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 352 tỷ đồng, tăng 10,62% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 40 triệu lượt người vận chuyển và 3.907 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 12,63% về lượt người vận chuyển và tăng 13,99% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.776 tỷ đồng, tăng 13,57% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Tám ước đạt 5,5 triệu tấn vận chuyển và 1.657 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 14,84% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 19,70% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.061 tỷ đồng, tăng 10,49% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 42 triệu tấn vận chuyển và 12.494 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 15,59% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 20,07% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 8.285 tỷ đồng, tăng 13,21% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tám ước đạt 85 tỷ đồng, tăng 7,39% so với tháng trước và tăng 27,48% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 631 tỷ đồng, tăng 19,78% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Tám ước đạt 11 tỷ đồng, giảm 19,75% so với tháng trước và giảm 42,01% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 146 tỷ đồng, giảm 5,31% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách Nhà nước Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Tám ước đạt 7.304 tỷ đồng, tăng 106,98% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 6.826 tỷ đồng, tăng 116,35%; thuế xuất nhập khẩu 478 tỷ đồng, tăng 27,94%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp Nhà nước 127 tỷ đồng, tăng 99,95%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 149 tỷ đồng, tăng 90,94%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.914 tỷ đồng, tăng 34,53%; thu thuế thu nhập cá nhân 553 tỷ đồng, tăng 216,89%; các khoản thu về đất 3.868 tỷ đồng, tăng 241,09%;... Tính chung tám tháng năm 2025, thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn tỉnh ước đạt 67.803 tỷ đồng, tăng 91,73% so với cùng kỳ năm trước và đạt 122,38% so với kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 63.699 tỷ đồng, tăng 96,35%; thuế xuất nhập khẩu 4.105 tỷ đồng, tăng 40,43%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp Nhà nước 918 tỷ đồng, tăng 18,77%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2.873 tỷ đồng, tăng 17,98%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 14.624 tỷ đồng, tăng 21,57%; thu lệ phí trước bạ 1.100 tỷ đồng, tăng 51,24%; thuế thu nhập cá nhân 2.750 tỷ đồng, tăng 66,34%; các khoản thu về đất 40.042 tỷ đồng, tăng 202,94%. b) Chi ngân sách Nhà nước địa phương Tính từ ngày 01/01/2025 đến ngày 25/8/2025, chi ngân sách Nhà nước địa phương ước đạt 41.555 tỷ đồng. Trong đó: chi đầu tư phát triển 26.292 tỷ đồng; chi thường xuyên 15.263 tỷ đồng. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.088 tỷ đồng; chi giáo dục, đào tạo 5.864 tỷ đồng; chi sự nghiệp y tế 1.327 tỷ đồng; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 267 tỷ đồng; chi đảm bảo xã hội 1.650 tỷ đồng; chi quản lý hành chính 4.035 tỷ đồng. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/8/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 300.000 tỷ đồng, tăng 7,88% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 298.700 tỷ đồng, tăng 7,81% và chiếm 99,57% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.300 tỷ đồng, tăng 27,44% và chiếm 0,43%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/8/2025 đạt 245.000 tỷ đồng, tăng 9,70% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 180.400 tỷ đồng, tăng 8,69%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 64.600 tỷ đồng, tăng 12,61%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 237.400 tỷ đồng, tăng 10,20%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.600 tỷ đồng, giảm 4,07%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 168.000 tỷ đồng, tăng 12,22% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 111.500 tỷ đồng, tăng 12,54%; xuất khẩu 1.600 tỷ đồng, giảm 23,66%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 49.550 tỷ đồng, tăng 14,04%; công nghiệp hỗ trợ 5.200 tỷ đồng, tăng 4,86%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 150 tỷ đồng, tăng 16,29%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/8/2025 là 1.960 tỷ đồng (chiếm 0,80% dư nợ tín dụng), tăng 2,46% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Công tác tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025) và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945 - 02/9/2025) được triển khai rộng khắp trong toàn tỉnh. Tỉnh đã tổ chức 06 buổi xe ô tô lưu động tuyên truyền tại cơ sở; sáng tác tranh cổ động tuyên truyền Đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; kiểm tra, sửa chữa các dàn tranh, pano tuyên truyền cổ động trực quan; tham gia sáng tác tranh cổ động chào mừng Đại hội Đảng các cấp; tham gia Hội thi tuyên truyền lưu động toàn quốc, kết quả đạt 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc; xây dựng Chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tỉnh tham gia trưng bày Triển lãm thành tựu kinh tế - xã hội kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia (Hà Nội). Thư viện tỉnh tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sách báo tài liệu theo chủ đề chào mừng các ngày Lễ của đất nước. Trưng bày chuyên đề “Hưng Yên - 80 năm đồng hành cùng lịch sử dân tộc” từ ngày 25/8/2025 đến ngày 25/9/2025 nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam tại 02 cơ sở của Bảo tàng tỉnh, đón 28.426 lượt khách tham quan Bảo tàng. Nhà hát Chèo tổ chức 06 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 112 buổi chiếu phim (22 buổi lưu động, 90 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: Đơn vị chuyên môn tham mưu Kế hoạch tổ chức Đại hội TDTT các cấp tỉnh Hưng Yên năm 2025-2026 và tham dự Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026; Kế hoạch tổ chức Đại hội Thể thao tỉnh Hưng Yên lần thứ X. Tuyên dương, khen thưởng đội bóng đá Nhi đồng tỉnh giành chức vô địch giải Bóng đá Nhi đồng toàn quốc tranh cúp Nestle Milo năm 2025; tham mưu thành lập đội tuyển Bóng đá tỉnh Hưng Yên. Tổ chức Hội thao chào mừng kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (02/9/1945-02/9/2025); kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống của các sở, ngành (28/8/1945-28/8/2025). Thể thao thành tích cao: Tỉnh duy trì thường xuyên hoạt động đào tạo, huấn luyện vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao tỉnh; thường xuyên đánh giá, thải loại, tuyển mới bảo đảm lực lượng vận động viên; chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế năm 2025. Trong tháng Tám, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham gia thi đấu 10 giải quốc gia và quốc tế, đạt 54 huy chương các loại, trong đó: 27 HCV, 24 HCB, 3HCĐ. c) Hoạt động du lịch Tỉnh khảo sát điểm du lịch, xây dựng tuyến điểm du lịch mới trên địa bàn tỉnh; hướng dẫn đoàn khách Nhật Bản tham quan vườn nhãn tại xã Tân Hưng, tỉnh Hưng Yên; hỗ trợ Công ty Thăng Long GTC thuộc Tổng Công ty Du lịch Hà Nội về khảo sát tuyến, điểm du lịch Hưng Yên; hoàn thiện chỉnh sửa nội dung, địa giới hành chính, thông tin, hình ảnh du lịch Hưng Yên; phối hợp Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên quay phóng sự về phát triển du lịch biển; khảo sát các hệ thống biển báo, cắm cọc giới hạn bãi tắm tại khu du lịch sinh thái Cồn Vành; tiếp tục viết bài giới thiệu tiềm năng du lịch Hưng Yên; đưa tin về các hoạt động du lịch trong tỉnh và trong nước; duy trì hoạt động Trang thông tin điện tử du lịch hungyentourism.com.vn; Zalo.OA:Trung tâm TTXT Du lịch Hưng Yên; Fanpage: Hung Yen Tourism; App mobile: du lịch Hưng Yên; Youtube: Du lịch Hưng Yên. Tiếp tục phối hợp với Vietel triển khai thực hiện số hoá 13 khu, điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; triển khai Kế hoạch Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số; tích hợp 02 cơ sở dữ liệu “Cổng du lịch thông minh”. 2. Hoạt động y tế Trong tháng qua, tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh cụ thể như sau: Bệnh sởi: Số ca mắc/nghi mắc sởi có xu hướng giảm và duy trì ở mức thấp, hiện tại được kiểm soát tốt. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Lũy kế từ ngày 01/7/2025 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh ghi nhận 56 ca mắc bệnh sởi; không có trường hợp nặng, tử vong. Sốt xuất huyết Dengue: Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Lũy kế từ ngày 01/7/2025 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh có 77 ca mắc sốt xuất huyết Dengue. Bệnh tay chân miệng: Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Lũy kế từ ngày 01/7/2025 đến ngày 25/8/2025, trên địa bàn tỉnh có 221 ca mắc chân tay miệng, không ghi nhận chùm ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm, nặng hoặc tử vong trên địa bàn. Bệnh Covid-19: Toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 25/8/2025, toàn tỉnh có 94 ca mắc Covid-19, không có trường hợp nặng, tử vong. Bệnh do vi-rút Adeno: Lũy kế từ ngày 01/7/2025 đến ngày 25/8/2025, số ca mắc là 14 ca, không ghi nhận ca tử vong. Hội chứng cúm: Ghi nhận rải rác các trường hợp mắc hội chứng chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm 2 cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh, các hoạt động giám sát được duy trì. 3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng 8 năm 2025 (từ ngày 26/7/2025 - 25/8/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 07 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 06 vụ với số tiền xử phạt 630 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm đã phát hiện bằng với tháng trước; số vụ đã xử lý giảm 01 vụ, tương ứng giảm 14,29%; số tiền xử phạt tăng 240 triệu đồng, tương ứng tăng 61,51%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm giảm 01 vụ, tương ứng giảm 12,50%; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 01 vụ, tương ứng tăng 20,0%; số tiền xử phạt tăng 469 triệu đồng, tương đương tăng 290,37%. Lũy kế 8 tháng năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 - 25/8/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 128 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý được 85 vụ với số tiền xử phạt là 5.067 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 63 vụ, tương ứng tăng 96,92%; số vụ đã xử lý tăng 44 vụ, tương ứng tăng 107,32%; số tiền xử phạt tăng 2.481 triệu đồng, tương đương tăng 95,96%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là vi phạm an toàn thực phẩm; quản lý chất thải nguy hại; xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép,... Từ ngày 15/7/2025 đến ngày 14/8/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra tổng số 04 vụ cháy, nổ. Trong đó: 03 vụ cháy (xã Triệu Việt Vương xảy ra 01 vụ; xã Việt Tiến 01 vụ; xã Ngự Thiên 01 vụ) và 01 vụ nổ tại xã Văn Giang. Không có người chết, người bị thương do cháy, nổ. Lũy kế 8 tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/8/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 23 vụ cháy và 02 vụ nổ, số người chết do cháy, nổ là 7 người; số người bị thương là 8 người. Số vụ cháy, nổ bằng cùng kỳ năm trước; số người chết tăng 07 người, số người bị thương tăng 06 người. 4. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/7/2025 đến 14/8/2025, toàn tỉnh xảy ra 58 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 32 người, làm bị thương 36 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 8 vụ, tăng 16,0%; số người bị thương tăng 2 người, tăng 5,88%; số người chết tăng 5 người, tăng 18,52%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn tăng 11 vụ, tăng 23,40%; số người chết tăng 05 người, tăng 18,52%; số người bị thương tăng 11 người, tăng 44,0%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/8/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 387 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 385 vụ, đường sắt 1 vụ, đường thủy 1 vụ); làm chết 224 người (trong đó: đường bộ 223 người, đường thủy 1 người), làm bị thương 242 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 239 vụ, giảm 38,18%; số người chết giảm 33 người, giảm 12,84%; số người bị thương giảm 259 người, giảm 51,70%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 8 năm 2025./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng bẩy và bẩy tháng đầu năm 2025
- 04/09/2025 08:02
Theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, từ ngày 01/7/2025, thực hiện hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, lấy tên là tỉnh Hưng Yên, trung tâm chính trị - hành chính đặt tại tỉnh Hưng Yên hiện nay; không tổ chức cấp huyện; sáp nhập cấp xã và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã). Sau khi hợp nhất 2 tỉnh, tỉnh Hưng Yên mới có 104 đơn vị hành chính cấp xã (93 xã, 11 phường; trong đó: tỉnh Hưng Yên cũ có 33 xã và 6 phường, tỉnh Thái Bình cũ có 60 xã và 5 phường). I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản a) Nông nghiệp Trong tháng Bảy, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo cấy lúa mùa; chăm sóc phòng trừ sâu bệnh trên cây lâu năm và bảo vệ an toàn trên đàn gia súc, gia cầm. Tình hình cụ thể như sau: Trồng trọt Cây hằng năm: Đến nay, toàn tỉnh đã kết thúc thu hoạch lúa đông xuân. Theo tổng hợp báo cáo của các địa phương, năng suất gieo trồng một số cây hằng năm vụ đông xuân như sau: lúa 70,31 tạ/ha, tăng 0,16% (tăng 0,11 tạ/ha) so với cùng kỳ năm trước; ngô 59,98 tạ/ha, tăng 2,06% (tăng 1,21 tạ/ha); đậu tương 18,64 tạ/ha, tăng 2,13% (tăng 0,38 tạ/ha); lạc 32,66 tạ/ha, tăng 0,94% (tăng 0,3 tạ/ha); rau các loại 247,90 tạ/ha, tăng 2,31% (tăng 5,61 tạ/ha). Sản lượng như sau: lúa 680.711 tấn, giảm 1,85% (giảm 12.866 tấn); ngô 56.069 tấn, giảm 0,65% (giảm 372 tấn); đậu tương 1.799 tấn, giảm 14,52% (giảm 306 tấn); lạc 9.213 tấn, tăng 12,54% (tăng 1.027 tấn); sản lượng rau các loại 968.388 tấn, tăng 2,59% (tăng 24.451 tấn). Vụ mùa năm nay, toàn tỉnh gieo, cấy khoảng 96.200 ha lúa mùa[1]. Trong đó, diện tích lúa mùa trà sớm chiếm 10 - 15% diện tích. Tỉ lệ gieo, cấy lúa chất lượng cao chiếm trên 50% tổng diện tích lúa mùa, bằng các giống lúa như: Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1,... còn lại là các giống lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như: Thiên ưu 8, TBR225, TBR87,... Qua tổng hợp của ngành chức năng, đến ngày 20/7/2025, toàn tỉnh đã gieo cấy được 92.095 ha lúa mùa, đạt 95% diện tích. Diện tích chăm sóc lúa lần 1 đạt 65.000 ha, diện tích chăm sóc lúa lần 2 đạt 25.000 ha. Ngành chuyên môn tập trung hướng dẫn nông dân tiến hành chăm sóc (bón phân, dặm, tỉa, làm cỏ, sục bùn,...) cho diện tích lúa đã gieo cấy xong, bảo đảm đủ nước để cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung. Trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh có nhiều đợt mưa lớn kéo dài và các trận giông lốc bất ngờ, đồng thời bão số 3 (Wipha) đổ bộ trực tiếp vào tỉnh đã gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản. Theo báo cáo nhanh của Ban chỉ huy phòng thủ dân sự tỉnh, trên địa bàn tỉnh ngập úng khoảng 26.000 ha lúa mùa, chủ yếu ở các xã ven biển; 15 ha chuối bị đổ gẫy hoàn toàn sau cơn dông ngày 19/7/2025 trên địa bàn xã Tân Hưng và Châu Ninh. Dự báo trong thời gian tới, thời tiết tiếp tục diễn biến phức tạp, có nhiều trận mưa lớn kéo dài sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến diện tích lúa mùa đã cấy xong. Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm (phần lớn là cây ăn quả) trên địa bàn tỉnh đến nay cơ bản ổn định. Các nhà vườn đã chú trọng đầu tư, chăm sóc kỹ lưỡng từ cây giống cho đến khi cây ra hoa đậu quả, tăng cường áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật như: chiết, ghép, lai tạo giống, kích thích cây ra hoa trái vụ, phun thuốc tăng khả năng đậu quả và phòng trừ sâu bệnh kịp thời làm tăng năng suất cây trồng. Đối với cây nhãn - cây lâu năm chủ lực của tỉnh, hiện đang trong giai đoạn phát triển quả, riêng trà nhãn chín sớm cho thu hoạch. Năm nay, thời tiết cơ bản thuận lợi cho cây nhãn phân hóa mầm hoa nên tỷ lệ nhãn ra hoa, đậu quả ước đạt trên 95% diện tích. Dự kiến sản lượng vụ nhãn năm 2025 của toàn tỉnh tăng từ 20 - 25% so với vụ nhãn năm 2024. Đối với cây vải, thời điểm này toàn tỉnh đã hoàn thành thu hoạch xong diện tích vải cho sản phẩm. Năm nay, thời tiết tương đối thuận lợi để cây vải ra hoa, đậu quả, đồng thời nhiều diện tích trồng mới đã bắt đầu cho thu hoạch nên sản lượng vải năm nay dự kiến tăng khá so với năm trước. Chăn nuôi Tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên cơ bản ổn định và phát triển. Con giống tiếp tục được sản xuất tại các trang trại, hộ chăn nuôi bảo đảm các điều kiện an toàn sinh học, phục vụ cho công tác tái đàn năm 2025. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo. Trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các ổ dịch lớn trên đàn vật nuôi. Các dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khác như: cúm gia cầm; lở mồm long móng; viêm da nổi cục được kiểm soát. Hiện tại, ở lẻ tẻ một số đàn lợn đã bắt đầu xuất hiện dịch bệnh Tả lợn châu Phi. Ước tính tại thời điểm 31/7/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.839 con, tăng 2,45% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò 84.197 con, tăng 1,46%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.050.114 con, tăng 2,69%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.260 nghìn con, tăng 2,90% (trong đó: đàn gà đạt 16.973 nghìn con, tăng 3,50%). b) Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp tháng Bảy của tỉnh chủ yếu là trồng cây phân tán và chăm sóc rừng ở các địa phương, đồng thời duy trì các biện pháp bảo vệ và phòng, chống cháy rừng. Trong tháng, trên địa bàn tỉnh không phát sinh diện tích trồng rừng mới. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng này ước đạt 434 m³, giảm 0,12%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 239 nghìn cây, tăng 0,25% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế bảy tháng năm 2025, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 2.853 m³, giảm 0,44%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.264 nghìn cây, tăng 1,12% so với cùng kỳ năm trước. c) Sản xuất thủy sản Sản xuất thủy sản trong tháng ổn định, không phát sinh dịch bệnh. Công tác vệ sinh phòng trừ dịch bệnh được quan tâm thực hiện thường xuyên; chủng loại và chất lượng giống thủy sản nuôi trồng ngày càng phong phú, phù hợp với điều kiện đặc điểm mặt nước nuôi trồng trên địa bàn tỉnh. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Bảy ước đạt 7.641 tấn, tăng 2,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.391 tấn, tăng 2,98%; tôm 154 tấn, tăng 2,67%; thủy sản khác 2.096 tấn, tăng 2,92%. Lũy kế bảy tháng năm 2025, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 61.952 tấn, tăng 2,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 39.062 tấn, tăng 2,91%; tôm 902 tấn, tăng 2,73%; thủy sản khác 21.988 tấn, tăng 2,88%. Nuôi trồng: Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Bảy ước đạt 22.944 tấn, tăng 3,36% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.756 tấn, tăng 3,82%; tôm 851 tấn, tăng 3,68%; thủy sản khác 13.337 tấn, tăng 3,04%. Cộng dồn bảy tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 136.053 tấn, tăng 3,08% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 58.004 tấn, tăng 3,06%; tôm 2.424 tấn, tăng 3,60%; thủy sản khác 75.624 tấn, tăng 3,08%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp Sau khi hợp nhất tỉnh Hưng Yên, các cơ quan, tổ chức nhà nước trên địa bàn tỉnh đều hoạt động thông suốt, các doanh nghiệp và hộ sản xuất kinh doanh cá thể hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, không bị ảnh hưởng vì hợp nhất tỉnh. Hiện nay, toàn tỉnh có 17 khu công nghiệp đã đi vào hoạt động. Kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp cơ bản được đồng bộ, tình hình an ninh ổn định. Đây là những điều kiện thuận lợi cho các dự án, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất trên địa bàn tỉnh. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng qua như sau: So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Bảy giảm 2,38%, trong đó: khai khoáng tăng 1,14%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 2,32%; sản xuất và phân phối điện giảm 1,32%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,54%. Nhiều sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại giảm 28,30%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 24,03%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng giảm 16,96%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu giảm 14,29%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,25%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 11,42%; sản phẩm sứ vệ sinh giảm 10,25%; thức ăn cho gia cầm giảm 6,10%; nước khoáng không có ga giảm 3,39%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 2,40%; quần áo các loại giảm 1,03%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 27,85%; nitơrat Amoni tăng 23,83%; sơn và véc ni, tan trong môi trường nước tăng 19,73%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 18,11%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 14,55%; túi khí an toàn tăng 12,40%; thức ăn cho gia súc tăng 9,18%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 7,77%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 3,16%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Bảy tăng 11,68%, trong đó: khai khoáng tăng 8,22%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,32%; sản xuất và phân phối điện tăng 55,76%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,38%. Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: nitơrat Amoni tăng 75,10%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 66,90%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 64,13%; tôm đông lạnh tăng 42,86%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 31,62%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 30,79%; sản phẩm bằng plastic tăng 19,76%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng tăng 28,68%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 28,30%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 16,75%; quần áo các loại tăng 15,72%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 13,70%; cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại tăng 13,43%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 9,32%; mạch in khác tăng 8,34%;... Bên cạnh đó, các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 43,73%; mạch điện tử tích hợp giảm 42,70%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 37,76%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 37,19%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 33,71%; sơn và véc ni, tan trong môi trường nước giảm 25,79%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 17,13%; thức ăn cho gia cầm giảm 11,55%;… Tính chung bảy tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 9,31%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,96%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,0%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 26,68%. Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong bảy tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: cấu kiện nhà lắp sẵn bằng kim loại tăng 63,57%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 63,33%; giày dép khác chưa được phân vào đâu tăng 57,09%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 43,66%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 39,34%; tấm lát đường và vật liệu lát, ốp lát tăng 31,87%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 23,77%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 21,49%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 21,45%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu tăng 20,94%; khí tự nhiên dạng khí tăng 18,58%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 14,84%; quần áo các loại tăng 14,80%; thức ăn cho gia súc tăng 10,03%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 38,67%; mạch điện tử tích hợp giảm 28,65%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 24,43%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 18,34%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 17,93%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 10,53%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 4,81%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 3,06%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Từ 01/7/2025, chính quyền địa phương hai cấp (tỉnh, xã) chính thức đi vào hoạt động, thay thế cho mô hình ba cấp trước đây (tỉnh, huyện, xã) và kết thúc hoạt động cấp huyện. Chính vì vậy, việc triển khai các dự án đầu tư thuộc kế hoạch vốn đầu tư ngân sách nhà nước năm 2025 do cấp huyện quản lý trước ngày 01/7/2025 được chuyển về cấp tỉnh quản lý và cấp xã quản lý từ 01/7/2025. Ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Bảy đạt 3.159 tỷ đồng, tăng 11,55% so với tháng trước và tăng 32,32% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.835 tỷ đồng, tăng 14,80% so với tháng trước và tăng 65,33% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.324 tỷ đồng, tăng 7,34% so với tháng trước và tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 17.324 tỷ đồng, tăng 41,95% so với cùng kỳ năm trước và đạt 40,13% so với kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 9.702 tỷ đồng, tăng 71,11% so với cùng kỳ năm trước và đạt 36,01% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 7.622 tỷ đồng, tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước và đạt 46,98% kế hoạch năm. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 29/7/2025, toàn tỉnh có 896 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.179,23 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 29/7/2025, có 89 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.573,51 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 189 dự án, vốn đăng ký là 6.113,07 triệu USD, chiếm 37,78% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 333 dự án, vốn đăng ký 4.285,42 triệu USD, chiếm 26,49% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 204 dự án, vốn đăng ký 2.169,44 triệu USD, chiếm 13,41% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/6/2025 đến ngày 21/7/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 475 doanh nghiệp, vốn đầu tư đăng ký 7.178 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 97 doanh nghiệp, vốn đăng ký 594 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 258 doanh nghiệp, vốn đăng ký 802 tỷ đồng; vận tải kho bãi 29 doanh nghiệp, vốn đăng ký 155 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 8 doanh nghiệp, vốn đăng ký 5.271 tỷ đồng; giáo dục và đào tạo 11 doanh nghiệp, vốn đăng ký 20 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/7/2025, toàn tỉnh có 3.027 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 46.161 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.245 doanh nghiệp, vốn đăng ký 4.412 tỷ đồng (chiếm 9,56% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 655 doanh nghiệp, vốn đăng ký 17.682 tỷ đồng (chiếm 38,31%); giáo dục và đào tạo 255 doanh nghiệp, vốn đăng ký 596 tỷ đồng (chiếm 1,29%); xây dựng 199 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.707 tỷ đồng (chiếm 3,70%); hoạt động vận tải, kho bãi 163 doanh nghiệp, vốn đăng ký 979 tỷ đồng (chiếm 2,12%); kinh doanh bất động sản 116 doanh nghiệp, vốn đăng ký 18.081 tỷ đồng (chiếm 39,17%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 97 doanh nghiệp, vốn đăng ký 500 tỷ đồng (chiếm 1,08%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 61 doanh nghiệp, vốn đăng ký 251 tỷ đồng (chiếm 0,54%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Bảy (tính từ ngày 22/6/2025 đến ngày 21/7/2025) là 55 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/7/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 428 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/6/2025 đến ngày 21/7/2025, số doanh nghiệp giải thể là 26 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 88 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/7/2025, toàn tỉnh có 251 doanh nghiệp giải thể và 1.209 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 48 doanh nghiệp giải thể và 279 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,12% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 23,08% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 90 doanh nghiệp giải thể và 456 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 35,86% và 37,72%; kinh doanh bất động sản có 10 doanh nghiệp giải thể và 33 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 3,98% và 2,73%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 16 doanh nghiệp giải thể và 51 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 6,38% và 4,22%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước đạt 17.776 tỷ đồng, tăng 4,76% so với tháng trước và giảm 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế bảy tháng năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 118.927 tỷ đồng, tăng 7,76% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Bảy ước đạt 9.726 tỷ đồng, tăng 0,44% so với tháng trước và tăng 14,95% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng so với tháng trước của một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu bán lẻ như sau: lương thực, thực phẩm tăng 1,40%; hàng may mặc tăng 1,33%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 0,55%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 0,46%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 0,05%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 16,53%; xăng, dầu các loại tăng 0,38%; hàng hóa khác tăng 2,64%;... Tính chung bảy tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 67.620 tỷ đồng, tăng 14,34% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ bảy tháng của một số nhóm hàng chính như sau: lương thực, thực phẩm tăng 22,62%; may mặc tăng 14,03%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,49%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 6,64%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,43%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 18,99%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 10,94%; xăng, dầu các loại tăng 6,53%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 18,02%; hàng hoá khác tăng 15,49%;... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Bảy ước đạt 839 tỷ đồng, giảm 6,90% so với tháng trước và tăng 16,16% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 30 tỷ đồng, giảm 3,12% so với tháng trước và tăng 2,05% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 809 tỷ đồng, giảm 7,03% so với tháng trước và tăng 16,77% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.109 tỷ đồng, tăng 22,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ lưu trú 209 tỷ đồng, tăng 16,23%; dịch vụ ăn uống 5.900 tỷ đồng, tăng 22,86%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Bảy ước đạt 38 tỷ đồng, tăng 37,26% so với tháng trước và tăng 131,11% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hàng ước đạt 117 tỷ đồng, tăng 60,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong những năm gần đây, ngành du lịch Hưng Yên đang từng bước phát triển, tập trung vào các loại hình như du lịch văn hóa - tâm linh, du lịch sinh thái và trải nghiệm nông thôn. Một số điểm đến như: Phố Hiến, đền Mẫu, đền Trần, chùa Chuông, làng cổ Nôm, vườn nhãn lồng Hưng Yên, bãi biển Đồng Châu, Cồn Vành, Cồn Đen, chùa Keo, đền Tiên La.... tiếp tục là những địa chỉ thu hút khách tham quan trong và ngoài tỉnh. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Bảy ước đạt 7.174 tỷ đồng, tăng 12,87% so với tháng trước và giảm 24,54% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, doanh thu các ngành dịch vụ khác ước đạt 45.081 tỷ đồng, giảm 2,35% so với cùng kỳ năm trước. Chi tiết các ngành như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản 39.443 tỷ đồng, giảm 4,12%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 2.005 tỷ đồng, tăng 9,86%; dịch vụ giáo dục và đào tạo 817 tỷ đồng, tăng 7,67%; dịch vụ y tế 823 tỷ đồng, tăng 8,64%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 471 tỷ đồng, tăng 28,46%; dịch vụ khác 1.523 tỷ đồng, tăng 15,40%. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Bảy tăng 0,44%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 08 nhóm có chỉ số giá tăng, 02 nhóm có chỉ số giá giảm và 01 nhóm có chỉ số giá ổn định. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,24%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,12%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,57%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; bưu chính viễn thông tăng 0,03%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,65%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: đồ uống và thuốc lá giảm 0,03%; giao thông giảm 0,67%. Riêng nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 1,87%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm có chỉ số giá tăng, 02 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,49%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,04%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,74%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,72%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,90%; bưu chính viễn thông tăng 0,02%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,20%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,99%. Ngược lại, 02 nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 0,68% và giáo dục giảm 0,04%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 2,45%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,48% (lương thực giảm 0,76%; thực phẩm tăng 1,63%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,76%); đồ uống và thuốc lá tăng 2,16%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,94%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,95%; giáo dục tăng 2,71%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,18%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,96%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 5,12%; bưu chính viễn thông giảm 0,11%. Bình quân chung bảy tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,69%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,24%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,95%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,65%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 9,82%; giáo dục tăng 2,55%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,55%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,84%; giao thông giảm 4,23%; bưu chính viễn thông giảm 0,26%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Giá vàng trong nước tăng nhanh theo giá kim loại quý trên thế giới. Trong khi thị trường thế giới sôi động, giao dịch vàng trong nước lại khá trầm lắng do người mua và người bán đều đang chờ đợi các động thái điều hành mới từ cơ quan quản lý. Hiện tại, mức chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới vẫn ở ngưỡng cao, khiến nhiều nhà đầu tư chuyển sang lựa chọn vàng nhẫn hoặc vàng trang sức 99,99% thay vì vàng miếng SJC để tiết kiệm chi phí. Tháng 7/2025, chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh tăng 1,71% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 11.669.000 VNĐ/1 chỉ. Đồng USD đã giao dịch trong phạm vi hẹp sau một đợt giảm ngắn vào đầu tuần, khi các nhà đầu tư đang theo dõi các cuộc đàm phán thương mại trước thời hạn ngày 01/8 để đạt được thỏa thuận với Mỹ hoặc đối mặt với thuế quan cao. Sự không chắc chắn về tình trạng thuế quan trên toàn cầu là một sự cản trở rất lớn đối với thị trường ngoại hối, khiến các loại tiền tệ phần lớn giao dịch trong phạm vi hẹp. Trên địa bàn tỉnh, chỉ số giá đồng đô la Mỹ tăng 0,68% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.312 VND. 6. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Bảy ước đạt 1.519 tỷ đồng, tăng 0,89% so với tháng trước và tăng 13,16% so với cùng kỳ năm trước. Bảy tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 10.344 tỷ đồng, tăng 13,93% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Bảy ước đạt gần 5 triệu lượt người vận chuyển và 494 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 11,46% về lượt người vận chuyển và tăng 13,71% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 350 tỷ đồng, tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 35 triệu lượt người vận chuyển và 3.418 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 13,19% về lượt người vận chuyển và tăng 14,68% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.425 tỷ đồng, tăng 14,08% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Bảy ước đạt 6 triệu tấn vận chuyển và 1.635 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 17,92% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 20,58% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.066 tỷ đồng, tăng 13,07% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 37 triệu tấn vận chuyển và 10.839 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 16,06% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 20,16% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 7.227 tỷ đồng, tăng 13,67% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Bảy ước đạt 86 tỷ đồng, tăng 12,19% so với tháng trước và tăng 29,27% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung bảy tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 553 tỷ đồng, tăng 20,12% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Bảy ước đạt 17 tỷ đồng, giảm 2,63% so với tháng trước và giảm 22,46% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 139 tỷ đồng, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Bảy ước đạt 5.165 tỷ đồng, giảm 14,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 4.683 tỷ đồng, giảm 16,62%; thuế xuất nhập khẩu 482 tỷ đồng, tăng 8,47%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 182 tỷ đồng, tăng 49,38%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 460 tỷ đồng, tăng 11,19%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 824 tỷ đồng, giảm 66,06%; thu thuế thu nhập cá nhân 274 tỷ đồng, tăng 27,32%; các khoản thu về đất 2.723 tỷ đồng, tăng 27,04%;... Tính chung bảy tháng năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 61.399 tỷ đồng, tăng 88,62% so với cùng kỳ năm trước và đạt 110,82% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 57.788 tỷ đồng, tăng 96,10%; thuế xuất nhập khẩu 3.611 tỷ đồng, tăng 17,11%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 774 tỷ đồng, tăng 9,10%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2.697 tỷ đồng, tăng 14,44%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 13.627 tỷ đồng, tăng 28,48%; thu lệ phí trước bạ 951 tỷ đồng, tăng 51,79%; thuế thu nhập cá nhân 2.274 tỷ đồng, tăng 53,88%; các khoản thu về đất 36.161 tỷ đồng, tăng 195,08%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Tính từ ngày 01/01/2025 đến hết ngày 31/7/2025, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 40.942 tỷ đồng. Trong đó: chi đầu tư phát triển 25.751 tỷ đồng; chi thường xuyên 14.741 tỷ đồng. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.017 tỷ đồng; chi giáo dục, đào tạo 5.630 tỷ đồng; chi sự nghiệp y tế 1.309 tỷ đồng; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 256 tỷ đồng; chi đảm bảo xã hội 1.646 tỷ đồng; chi quản lý hành chính 3.867 tỷ đồng. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/7/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 300.902 tỷ đồng, tăng 8,20% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 299.600 tỷ đồng, tăng 8,13% và chiếm 99,57% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.302 tỷ đồng, tăng 27,64% và chiếm 0,43%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/7/2025 đạt 247.850 tỷ đồng, tăng 10,97% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 183.400 tỷ đồng, tăng 10,50%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 64.450 tỷ đồng, tăng 12,35%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 240.100 tỷ đồng, tăng 11,46%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.750 tỷ đồng, giảm 2,18%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 163.400 tỷ đồng, tăng 9,15% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 108.550 tỷ đồng, tăng 9,56%; xuất khẩu 1.550 tỷ đồng, giảm 26,05%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 48.100 tỷ đồng, tăng 10,70%; công nghiệp hỗ trợ 5.100 tỷ đồng, tăng 2,84%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 100 tỷ đồng, giảm 22,47%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu là 1.950 tỷ đồng (chiếm 0,79% dư nợ tín dụng), tăng 1,93% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Thực hiện chính sách xã hội đối với thương binh, liệt sỹ Nhân dịp kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025), Chủ tịch nước đã tặng 106 nghìn xuất quà; Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tặng 114 nghìn xuất quà cho người có công với cách mạng. Lãnh đạo Tỉnh ủy; HĐND; UBND; Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh tổ chức đi thăm, tặng quà 9 tập thể, 77 cá nhân là người có công tiêu biểu, người có công có hoàn cảnh khó khăn tại gia đình và thăm các Trung tâm nuôi dưỡng; điều dưỡng người có công. Tổ chức 03 Đoàn công tác của tỉnh dâng hương viếng các anh hùng liệt sĩ tại tỉnh Quảng Trị (Thành cổ Quảng Trị, nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn; nghĩa trang liệt sĩ Đường 9; Đền tưởng niệm liệt sĩ Trường Sơn - Bến phà Long Đại và Nhà bia tưởng niệm 16 chiến sĩ thanh niên xung phong (người tỉnh Thái Bình cũ) hy sinh tại Bến phà Long Đại (tỉnh Quảng Trị)); Khu di tích Thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc (tỉnh Hà Tĩnh); tỉnh Điện Biên (dâng hương tại Đền thờ liệt sĩ tỉnh Điện Biên; nghĩa trang liệt sĩ Đồi A1, nghĩa trang liệt sĩ Tông Khao, nghĩa trang liệt sĩ Him Lam, nghĩa trang liệt sĩ Độc Lập). 2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Toàn tỉnh tổ chức thành công Chương trình nghệ thuật “Giai điệu quê hương - Niềm tin ngày mới” chào mừng hợp nhất 2 tỉnh Hưng Yên và Thái Bình, kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; tổ chức biểu diễn văn nghệ kỷ niệm 78 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2025), kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; tổ chức 08 buổi xe ô tô lưu động tuyên truyền tại cơ sở; sáng tác tranh cổ động tuyên truyền đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; tham gia sáng tác tranh cổ động do Cục Văn hóa cơ sở tổ chức chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Thư viện tỉnh tổ chức trưng bày, giới thiệu sách báo phục vụ Hội thảo khoa học và Lễ kỷ niệm 110 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tại Trung tâm Thông tin - Hội nghị tỉnh; tuyên truyền, giới thiệu sách hay, sách mới trên website và Facebook của Thư viện tỉnh. Nhà hát Chèo đã biểu diễn chương trình nghệ thuật chào mừng Lễ công bố quyết định thành lập chính quyền 02 cấp; Chương trình ca múa nhạc kỷ niệm 110 năm ngày sinh đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh; tham gia Liên hoan sân khấu về “Hình tượng người chiến sĩ công an” lần thứ V năm 2025 tại Nhà hát Quân đội, kết quả đạt 01 Huy chương Bạc; 01 giải nhạc sĩ xuất sắc; 02 Huy chương Vàng; 02 Huy chương Bạc và 02 Huy chương Đồng cho các cá nhân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 70 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 60 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: Toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Chương trình xây dựng nông thôn mới”; nâng cao chất lượng phong trào tập luyện thể dục thể thao trong cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; chỉ đạo, hướng dẫn địa phương, cơ sở tăng cường phát triển các điểm, nhóm, câu lạc bộ thể dục thể thao, thúc đẩy phong trào tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe cho Nhân dân. Thể thao thành tích cao: Tập trung cao cho hoạt động đào tạo, huấn luyện vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao; thường xuyên đánh giá, thải loại, tuyển mới bảo đảm lực lượng vận động viên; chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế năm 2025. Trong tháng Bảy, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham gia thi đấu 14 giải thể thao, trong đó: 1 giải quốc tế Jujitsu, 13 giải quốc gia (gồm: Cử tạ, Bóng đá nhi đồng, Cầu lông, Pencak Silat, Karate, Điền kinh, Wushu, Võ cổ truyền, Muay, Bóng bàn), đạt 76 huy chương các loại, trong đó: 21 HCV, 18 HCB, 37 HCĐ (riêng giải Jujtsu Đông Nam Á, đạt 7 HCV, 3 HCB). c) Hoạt động du lịch Tỉnh khảo sát xây dựng tuyến điểm du lịch trên địa bàn tỉnh: Đền Trần, chùa Keo, biển Cồn Vành; hướng dẫn khách tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện chương trình Hành trình kết nối xanh với chủ đề “Đi tìm Phố Hiến phồn hoa”; hỗ trợ tuyên truyền cho các đơn vị, địa phương trong và ngoài tỉnh; đăng tải bài viết, hình ảnh, livestream, clip quảng bá du lịch Hưng Yên trên Website, Youtube, Fanpage, App mobile, Zalo.OA: 10 tin bài, tin ảnh; 05 video; tin chia sẻ: 40 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, Báo Hưng Yên; thu hút hơn 5.000 lượt truy cập. Xây dựng Kế hoạch Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số; tích hợp 02 cơ sở dữ liệu “Cổng du lịch thông minh”. Duy trì hoạt động Trang thông tin điện tử du lịch; Zalo.OA Trung tâm TTXT Du lịch Hưng Yên; Fanpage Hung Yen Tourism; App mobile du lịch Hưng Yên. 3. Hoạt động y tế Trong tháng, ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm, đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: Số ca mắc/nghi mắc Sởi có xu hướng giảm và duy trì ở mức thấp, hiện tại được kiểm soát tốt. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Số ca mắc từ ngày 01/7/2025 đến ngày 25/7/2025 là 32 ca, không có trường hợp nặng, tử vong. Sốt xuất huyết Dengue: số ca mắc từ 01/7 - 25/7/2025 là 16 ca, không ghi nhận trường hợp nặng, tử vong. Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Bệnh tay chân miệng: số ca mắc từ 01/7/2025 đến nay là 121 ca, không ghi nhận chùm ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm; không ghi nhận trường hợp nặng, tử vong. Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Bệnh Covid-19: từ 01/7 - 25/7/2025, số ca mắc Covid-19 là 78 ca, không có trường hợp nặng, tử vong. Toàn tỉnh triển khai tốt hoạt động giám sát, quản lý bền vững dịch bệnh Covid-19. Bệnh do vi-rút Adeno: số ca từ 01/7 - 25/7/2025 là 07 ca, không ghi nhận ca tử vong. Hội chứng cúm: Ghi nhận rải rác các trường hợp mắc hội chứng chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, adenovirus, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa ghi nhận bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh, các hoạt động giám sát được duy trì. 4. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng 7 năm 2025 (từ ngày 26/06/2025 - 25/07/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 07 vụ vi phạm môi trường, tất cả 07 vụ này đã được tiến hành xử lý theo quy định của pháp luật với số tiền xử phạt 390 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện giảm mạnh - giảm 20 vụ, tương ứng giảm 74,07%; số vụ đã xử lý giảm 4 vụ, tương đương giảm 36,36%; số tiền xử phạt tăng 78 triệu đồng, tương ứng tăng 24,98%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm bằng với cùng kỳ năm trước; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 4 vụ, tương ứng tăng 133,33%; số tiền xử phạt giảm 88 triệu đồng, tương đương giảm 18,40%. Lũy kế 7 tháng năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 - 25/7/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 121 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý được 79 vụ với số tiền xử phạt là 4.438 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 64 vụ, tương ứng tăng 112,28%; số vụ đã xử lý tăng 43 vụ, tương ứng tăng 119,44%; số tiền xử phạt tăng 2.013 triệu đồng, tương đương tăng 83,02%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là vi phạm an toàn thực phẩm; quản lý chất thải nguy hại; xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép,... Từ ngày 15/6/2025 đến ngày 14/7/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Phạm Ngũ Lão xảy ra 01 vụ; xã Việt Tiến 01 vụ; phường Hồng Châu 01 vụ) và 01 vụ nổ tại xã Lạc Đạo. Không có người chết, người bị thương do cháy. Vụ nổ kho, cơ sở sản xuất, chế biến kinh doanh khác đã làm 07 người chết và 01 người bị thương. Lũy kế 7 tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/7/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 20 vụ cháy và 01 vụ nổ, số người chết do cháy, nổ là 7 người; số người bị thương là 8 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy giảm 4 vụ; số vụ nổ tăng 1 vụ; số người chết tăng 07 người, số người bị thương tăng 06 người. 5. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/6/2025 đến 14/7/2025, toàn tỉnh xảy ra 50 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 27 người, làm bị thương 34 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 6 vụ, tăng 13,64%; số người bị thương tăng 6 người, tăng 21,43%; số người chết giảm 1 người, giảm 3,57%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 17 vụ, giảm 25,37%; số người chết giảm 4 người, giảm 12,90%; số người bị thương giảm 17 người, giảm 33,33%. Tính từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/7/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 329 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 327 vụ, đường sắt 1 vụ, đường thủy 1 vụ); làm chết 192 người (trong đó đường bộ 191 người, đường thủy 1 người), làm bị thương 206 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 250 vụ, giảm 43,18%; số người chết giảm 38 người, giảm 16,52%; số người bị thương giảm 270 người, giảm 56,72%./.