02213 863 641 /0978240366 | hungyen@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng Chín và chín tháng năm 2026
  •   27/10/2026 10:32

Chín tháng năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài, tác động mạnh đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa cơ bản, dịch vụ vận tải và thương mại toàn cầu. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo; tuy nhiên, áp lực điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng, kiểm soát lạm phát còn rất lớn,... Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo của Trung ương; nắm chắc tình hình, chủ động có giải pháp ứng phó, thích ứng linh hoạt, kịp thời, chắc chắn trước các vấn đề phát sinh; đổi mới, sáng tạo, đột phá, quyết liệt chỉ đạo, điều hành trên các lĩnh vực; quyết liệt chỉ đạo công tác thu ngân sách, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư; tổ chức làm việc với các sở, ngành, xã, phường trong tỉnh, rà soát các “điểm nghẽn”, “rào cản” trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương để có giải pháp tháo gỡ kịp thời... Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sát, kịp thời, có trọng tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; sự chủ động, tích cực của các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh; sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong chín tháng năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực.I. TÌNH HÌNH KINH TẾ1. Tăng trưởng kinh tếTổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý III năm 2026 ước tính tăng 12,01% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế chín tháng năm 2026, GRDP ước tính tăng 11,22%, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,47%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh; công nghiệp và xây dựng tăng 14,84% (trong đó: công nghiệp tăng 14,84%, xây dựng tăng 14,82%), đóng góp 8,02 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh; thương mại, dịch vụ tăng 9,14%, đóng góp 2,37 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,19%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh. Chín tháng năm 2026, so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 5/6 tỉnh, thành phố và xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng của các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Ninh Bình tăng 11,31%; Hải Phòng tăng 12,08%; Quảng Ninh tăng 12,54%; Bắc Ninh tăng 11,81%; Hà Nội tăng 8,85%.2. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sảnChín tháng năm 2026, nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp của các địa phương là tổ chức gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng vụ đông xuân, vụ mùa; đồng thời tập trung chăm sóc, bảo vệ đàn gia súc, gia cầm và phát triển nuôi trồng thủy sản. Các mô hình sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và bảo vệ môi trường tiếp tục được quan tâm phát triển. Kết quả cụ thể như sau:a)  Nông nghiệpTrồng trọtCây hằng năm Vụ mùa năm 2026, toàn tỉnh hoàn thành gieo cấy 96.000 ha lúa mùa, trong đó, diện tích lúa mùa trà sớm chiếm 10-15% diện tích. Tỷ lệ gieo cấy lúa chất lượng cao chiếm trên 50% diện tích gieo cấy, bằng các giống lúa như: Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1,... còn lại là các giống lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như: Thiên Ưu 8, TBR225, TBR87... Diện tích gieo sạ là 24.500 ha (đạt 25,5%), diện tích cấy máy khoảng 35.000 ha (đạt 36,5% diện tích gieo cấy). Bên cạnh thuận lợi về thời tiết, định hướng về cơ cấu giống lúa, thời vụ gieo trồng được thống nhất và triển khai phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân thực hiện đúng lịch thời vụ. Đến thời điểm này, diện tích lúa mùa trong tỉnh đang trong thời kỳ trỗ bông với diện tích khoảng 68.000 ha lúa đã trỗ, một số trà lúa gieo cấy sớm bắt đầu cho thu hoạch với diện tích đã thu hoạch khoảng 200 ha. Từ nay đến cuối vụ, ngành chuyên môn và các địa phương tiếp tục tập trung chỉ đạo, hướng dẫn nông dân chăm sóc, theo dõi chặt chẽ tình hình sâu bệnh, tổ chức thu hoạch nhanh gọn theo phương châm “sáng lúa, chiều vụ đông”, “xanh nhà hơn già đồng”, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thời tiết và sâu bệnh gây ra. Đồng thời, chủ động triển khai các phương án phòng, chống mưa lớn, ngập úng, tiêu thoát nước kịp thời, bảo vệ an toàn diện tích lúa mùa. Hiện nay, các địa phương đang tập trung làm đất, chuẩn bị giống và triển khai gieo trồng cây vụ đông.Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu năm 2026(Năm nông vụ: từ 01/10/2025 đến 20/9/2026)ĐVT: ha Thực hiện cùng kỳ năm 2025 Thực hiện kỳ này Thực hiện kỳ này so với cùng kỳ năm trước(%) - Lúa đông xuân 96.813 95.088 98,22 - Lúa mùa 96.200 96.000 99,79 - Ngô 12.328 12.285 99,65 - Khoai lang 3.048 3.030 99,41 - Đậu tương 1.488 1.503 101,01 - Lạc 3.400 3.200 94,12 - Rau các loại 51.568 51.605 100,07 - Đậu các loại 2.828 2.742 96,96 Công tác điều tra, dự tính, dự báo và phòng trừ sâu bệnh được triển khai chủ động, thường xuyên. Trong kỳ, sâu cuốn lá nhỏ lứa 5 gây hại khoảng 25.000 ha, lứa 6 khoảng 73.963 ha, với diện tích phòng trừ 72.293 ha; sâu đục thân hai chấm gây hại qua các đợt 10.290 ha, 23.881 ha và 35.000 ha. Rầy gây hại 11.455 ha; bệnh khô vằn 14.258 ha; bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn 4.787 ha và chuột gây hại khoảng 5.493,5 ha. Nhìn chung, công tác theo dõi và phòng trừ được thực hiện kịp thời, góp phần hạn chế ảnh hưởng của sâu bệnh đến sinh trưởng và năng suất cây trồng.Cây lâu nămChín tháng qua, tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn ổn định và phát triển. Thời tiết những tháng đầu năm cơ bản thuận lợi cho cây ăn quả sinh trưởng và phát triển. Ước tính tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm chín tháng năm 2026 đạt 23.773 ha, tăng 0,36% (tăng 86 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: cây ăn quả 20.360 ha, tăng 0,03% (tăng 6,21 ha) và chiếm tới 85,64% trong tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh; cây lấy quả chứa dầu đạt 87 ha, tăng 0,37% (tăng 0,32 ha); cây chè đạt 173 ha, bằng cùng kỳ năm trước; cây gia vị và dược liệu lâu năm ước đạt 1.102 ha, giảm 0,01% (giảm 0,12 ha); cây lâu năm khác ước đạt2.033 ha, tăng 4,08% (tăng 79 ha). Diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như: cây chuối 4.742 ha, giảm 1,02% (giảm 48 ha); cây ổi 1.105 ha, tăng 0,90% (tăng 9 ha); cây cam 1.831 ha, giảm 0,73% (giảm 14 ha); cây bưởi 2.490 ha, tăng 0,80% (tăng 33 ha), cây nhãn 5.689 ha, tăng 0,08% (tăng 4 ha); cây vải 1.802 ha,tăng 1,75% (tăng 31 ha).Diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh có sự biến động so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Một số diện tích cây lâu năm được thu hồi để thực hiện các dự án phát triển đô thị, du lịch; đồng thời một số diện tích đất trồng cây lâu năm có chất lượng đất giảm, cây trồng già cỗi, sinh trưởng kém, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp được người dân cải tạo, chặt bỏ để chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn, phù hợp với điều kiện đất đai và nhu cầu thị trường.Đối với cây nhãn, là một trong những cây lâu năm chủ lực của tỉnh, năm 2026 điều kiện thời tiết không thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa, tỷ lệ ra hoa và đậu quả thấp, dẫn đến sản lượng nhãn giảm so với năm trước. Đến nay, nhãn đã cơ bản thu hoạch xong. Đối với các cây có múi như cam, bưởi đang trong giai đoạn phát triển quả non, hình thành múi, các nhà vườn tập trung chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng, chủ động phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại chính, đồng thời thực hiện cắt tỉa, phục hồi các diện tích bị ảnh hưởng bởi mất mùa, nhằm bảo đảm sinh trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và ổn định sản xuất cho vụ sau.Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu chín tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh như sau: chuối 102.300 tấn, tăng 5,07% (tăng 4.940 tấn); ổi 15.900 tấn, tăng 4,48% (tăng 682 tấn); đu đủ 3.890 tấn, tăng 3,90% (tăng 146 tấn); cam23.610 tấn, tăng 0,36% (tăng 85 tấn); táo 4.600 tấn, tăng 1,55% (tăng 70 tấn); vải18.453 tấn, giảm 23,04% (giảm 5.525 tấn); nhãn 41.500 tấn, giảm 24,34% (giảm13.353 tấn). Hoạt động trồng trọt trong chín tháng năm 2026 bị ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4, từ đêm ngày 21/8/2026 đến ngày 24/8/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có mưa vừa, có nơi mưa to đến rất to, thời gian mưa kéo dài gây đổ ngã, ngập, úng một số diện tích lúa, rau màu, cây ăn quả. Theo báo cáo nhanh từ các xã, phường, toàn tỉnh có khoảng 2.360 ha lúa mùa; 1.154 ha diện tích cây rau màu, hoa cây cảnh; 271 ha diện tích cây ăn quả bị ngập úng cục bộ. Để hạn chế thấp nhất thiệt hại do mưa bão gây ra, ngành chuyên môn và các địa phương đã khẩn trương triển khai các biện pháp tiêu úng, huy động tối đa máy bơm và các phương tiện để tiêu thoát nước nhanh, kết hợp tiêu nước khi triều xuống; thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn người dân khắc phục diện tích bị ảnh hưởng. Sau khi nước rút, tập trung vệ sinh đồng ruộng, thu dọn cây trồng bị đổ ngã, thối hỏng; khôi phục sản xuất, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh kịp thời, góp phần hạn chế thiệt hại và bảo đảm sản xuất trồng trọt những tháng cuối năm.b) Chăn nuôiChín tháng năm 2026, hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục được duy trì theo hướng tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; các cơ sở, hộ chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường.Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm phát hiện, kiểm soát kịp thời, không để lây lan diện rộng. Đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi, phát hiện tại 02 hộ chăn nuôi thuộc xã Bắc Thái Ninh; đã tiêu hủy 49 con lợn, gồm 06 con lợn nái và 43 con lợn thịt, tổng khối lượng 2.707 kg. Đến ngày 21/8/2026, đã qua 21 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới; Đối với bệnh Cúm gia cầm H5N1, phát hiện tại 02 hộ thuộc xã Nam Thái Ninh; đã tiêu hủy 4.360 con gia cầm, tổng khối lượng 8.552 kg. Đến ngày 23/8/2026, đã qua 21 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới.Công tác phòng, chống dịch bệnh được các ngành chuyên môn và địa phương triển khai chủ động, thường xuyên. Trong chín tháng năm 2026, tỉnh đã cấp phát vắc xin phục vụ tiêm phòng vụ thu - đông gồm: 379.170 liều dịch tả lợn; 67.650 liều tai xanh ở lợn; 296.800 liều lở mồm long móng; 33.650 liều tụ huyết trùng trâu, bò; 10.550 liều viêm da nổi cục; 3.353.800 liều cúm gia cầm và 25.390 liều dại ở đàn chó; cấp phát 37 tấn hóa chất Forbencid phục vụ vệ sinh, tiêu độc, khử trùng.Ước tính tại thời điểm 30/9/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.030 con, giảm 7,35%; đàn bò 74.541 con, giảm 9,96%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.058.226 con, giảm 0,2%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 23.347 nghìn con, giảm 0,9%, trong đó: đàn gà đạt 17.190 nghìn con, giảm 0,16% so với cùng thời điểm năm trước.Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng của tỉnh trong chín tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như sau: thịt trâu 1.076 tấn, tăng 3,76%; thịt bò 11.025 tấn, tăng 3,60%; thịt lợn 229.848 tấn, tăng 5,85%; thịt gia cầm 90.025 tấn, tăng 6,33% (trong đó thịt gà 68.430 tấn, tăng 4,70%). Sản lượng sản phẩm chăn nuôi khác trong chín tháng năm 2026: trứng gia cầm 684.378 nghìn quả, giảm 2,90%; sữa 7.421 tấn, giảm 0,51% so với cùng kỳ năm trước. c)  Lâm nghiệpTrong chín tháng năm 2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được các địa phương, đơn vị chức năng triển khai hiệu quả; không xảy ra cháy rừng, phá rừng. Sản lượng gỗ khai thác ước trong tháng Chín năm 2026 đạt 431 m³, giảm 0,92%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 142 nghìn cây, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước. Chín tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 4,48 ha, giảm 70,13%, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.069 m³, tăng 0,16%; sản lượng củi ước đạt 10.479 Ste giảm 0,03 % so với cùng kỳ năm trước.d)  Sản xuất thủy sảnTừ đầu năm đến nay, tình hình sản xuất thủy sản trên địa bản tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Tổng sản lượng thủy sản chín tháng năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 266.787 tấn, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 130.952 tấn, tăng 2,68%; tôm 5.666 tấn, tăng 4,25%; thủy sản khác 130.170 tấn, tăng 4,17% so với cùng kỳ năm trướcKhai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Chín ước đạt 8.432 tấn, tăng 5,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá6.062 tấn, tăng 5,53%; tôm 246 tấn, tăng 5,23%; thủy sản khác 2.124 tấn, tăng 5,24%. Tính chung chín tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 83.376 tấn, tăng 1,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá54.022 tấn, tăng 0,62%; tôm 1.680 tấn, tăng 3,54%; thủy sản khác 27.674 tấn,tăng 3,70%.Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Thời tiết trong tháng cơ bản thuận lợi, môi trường nước tương đối ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng, phát triển tốt. Các mô hình nuôi tiếp tục được đa dạng hóa về đối tượng (cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, hàu...) và hình thức sản xuất (nuôi ao, nuôi lồng, nuôi bè), nâng cao hiệu quả khai thác diện tích mặt nước. Toàn tỉnh có 996 lồng nuôi cá trên sông; các đối tượng nuôi trong lồng bao gồm: Cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, chép giòn, ngạnh, trắm đen. Phát triển nuôi hàu cửa sông đạt 4.470 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú, Đông Thụy Anh.Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Chín ước đạt 23.367 tấn, tăng 4,95% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.966 tấn, tăng 4,83%; tôm 880 tấn, tăng 5,12%; thủy sản khác 13.521 tấn, tăng 5,01%. Chín tháng năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 183.412 tấn, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 76.930 tấn, tăng 4,17%; tôm 3.986 tấn, tăng 4,56%; thủy sản khác 102.496 tấn, tăng 4,30%. 3. Sản xuất công nghiệpa)  Chỉ số sản xuất công nghiệpTỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2026 như sau:So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Chín tăng 0,54%, trong đó: khai khoáng giảm 0,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,30%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,78%%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,88%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: Nitơrat Amoni tăng hơn 3,5 lần; quần áo các loại tăng 23,83%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 13,75%; máy điều hòa không khí loại lắp vào cửa sổ hoặc lắp vào tường tăng 8,79%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 8,77%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác tăng 8,26%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 6,84%; vật liệu kim loại khác thứ cấp tăng 5,97%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 5,23%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 19,66%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 19,52%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu giảm 15,56%; vật liệu kim loại quí thứ cấp giảm 15,52%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 11,98%; điện sản xuất giảm 10,17%; sắt, thép các loại giảm 8,9%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 8,78%;...So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín tăng 16,78%, trong đó: khai khoáng giảm 40,96%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,79%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,12%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,68%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng hơn 4 lần; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 3,97 lần; quần áo các loại tăng 96,87%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 96,08%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc tăng 54,39%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 30,27%; vật liệu kim loại khác thứ cấp tăng 25,43%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 21,30%; điện sản xuất tăng 19,35%; thức ăn cho gia súc tăng 18,84%;... Bên cạnh đó, có một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 26,02%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 24,21%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 20,07%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 13,80%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 11,33%; ỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 11,19%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 10,84%; vật liệu phi kim loại thứ cấp khác giảm 7,13%; nitơrat Amoni giảm 2,0%;...Chỉ số sản xuất công nghiệp                      tháng Chín, quý III và chín tháng năm 2026 (%)                    T9.2026 QIII/2026 9T.2026 T9.2025 QIII/2025 9T.2025 Chung toàn ngành CN 116,78 116,63 115,70 Khai khoáng 59,04 76,83 93,77 Công nghiệp chế biến, chế tạo 116,79 116,92 116,34 SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng 117,12 112,57 108,95 Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải 116,68 118,61 116,08 Quý III năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 16,63% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: khai khoáng giảm 23,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,92%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,57%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,61%. Một số sản phẩm công nghiệp có khối lượng sản xuất tăng trong quý như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng 319,55%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 195,51%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 127,55%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 81,27%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 45,75%; mạch điện tử tích hợp tăng 40,03%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 29,33%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 26,67%; vật liệu kim loại khác thứ cấp tăng 25,24%; vật liệu kim loại quí thứ cấp tăng 22,05%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 20,51%;... Các sản phẩm công nghiệp sản xuất trong quý III giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 29,24%; Nitơrat Amoni giảm 26,98%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 16,25%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 13,48%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 10,42%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu giảm 6,82%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 5,14%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 3,23%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác giảm 3,10%;... Tính chung chín tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,70% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 6,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,95%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 16,08%. Một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 99,36%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 75,73%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 38,93%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 34,34%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 29,71%; sản xuất trang phục tăng 28,98%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 23,04%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 19,95%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,98%; sản xuất kim loại tăng 13,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,90%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 10,30%;... Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 21,07%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 13,87%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 2,05%; dệt tăng 2,10%;…Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong chín tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng 233,66%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 195,51%; mạch điện tử tích hợp tăng 41,02%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 40,02%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc tăng 31,86%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 29,33%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 28,71%; quần áo các loại tăng 27,94%; vật liệu kim loại quí thứ cấp tăng 22,05%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 20,26%; Các sảnphẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,61%; vật liệu phi kim loại thứ cấp khác giảm 16,10%; máy điều hòa không khí loại lắp vào cửa sổ hoặc lắp vào tường giảm 15,74%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác giảm 15,25%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,87%; Nitơrat Amoni giảm 7,72%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 2,39%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 1,77%;...Chín tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản phẩm sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2025 như: Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 26,55%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 34,43%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 21,58%; Công ty TNHH May Minh Anh tăng 19,46%; Công ty Cổ phần May Việt Giang tăng 109,26%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 24,19%; Công ty TNHH May Hương Giang tăng 7,72%; Công ty TNHH YOUNGONE Việt Nam tăng 17,65%; CN Công ty May 10 tăng 15,8%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 22,53%; Công ty TNHH TAV tăng 13,6%; Công ty TNHH MXP tăng 7,2%; Công ty TNHH PS Vina tăng 9,90%; Công ty TNHH IVORY Việt Nam tăng 19,57%; CN Công ty TNHH Tân Đệ tăng 145,63%; Công ty Cổ phần Sản xuất hàng thể thao CN Thái Bình tăng 1.258,9%; Công ty TNHH May TEXHONG Thái Bình tăng 12,75%; Công ty Cổ phần May Hà Thành tăng 80,88%; Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 175,32%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 7,7%; Công ty Cổ phần liên doanh Alpec tăng 15,77%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 90,24%; Công ty TNHH Cơ khí Tam Long tăng 75,0%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 72,24%; Công ty Cổ phần Công nghệ Tecomen tăng 2,36%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 1,52%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 20,26%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 12,65%; Công ty TNHH TAEYANG Việt Nam tăng 7,21%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam tăng 17,98%; Công ty Tôn Vikor tăng 83,0%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 67,98%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 22,38%; Công ty TNHH Quốc tế Công cụ Đỉnh Lực tăng 17,04%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 8,47%; Công ty TNHH Dây thép Hoà Phát tăng 37,43%; Công ty TNHH Thép không gỉ Hà Anh tăng 14,83%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 14,17%; Công ty TNHH Gia Anh tăng 63,29%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 6,51%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 14,13%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengli Việt Nam tăng 24,49%; Công ty TNHH Giấy và Bao bì Lâm Việt An tăng 114,37%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 20,19%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 18,34%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 5,84%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 42,43%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 9,89%; Công ty TNHH HSIN YUE HSING tăng 29,39%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 61,51%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 8,95%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 29,78%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 15,51%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 20,36%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 12,22%;...Các doanh nghiệp có sản lượng sản phẩm sản xuất trong chín tháng năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 17,32%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 5,42%; Công ty TNHH TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 68,86%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,61%; Công ty TNHH GOEN Việt Nam giảm 16,67%...b)  Chỉ số sử dụng lao độngTình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Chín toàn ngành tăng 2,61% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,46%, cộng dồn chín tháng tăng 3,82% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tháng Chín tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện ổn định và có sự phát triển khá. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động trong chín tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 39,70%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 26,59%; sản xuất đồ uống tăng 19,24%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 18,22%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 15,22%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 15,15%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 14,56%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,49%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 13,43%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,33%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,80%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,69%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,35%; dệt giảm 3,46%; sản xuất thiết bị điện giảm 2,29%;...c)  Xu hướng sản xuất kinh doanhTheo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) quý III/2026 thuận lợi hơn so với quý II/2026 với 35,57% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD tốt hơn, 46,94% ổn định và chỉ có có 17,49% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn. Dự báo tình hình SXKD quý IV/2026 thuận lợi hơn nhiều so với quý III/2026, với 45,48% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD sẽ tốt hơn, 45,77% đánh giá ổn định và chỉ có 8,75% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. Như vậy, từ đầu năm đến nay theo nhận định của các doanh nghiệp tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn so với quý I/2026, bước sang quý II đã có nhiều thuận lợi, bước sang quý III/2026 cơ bản ổn định và dự báo quý IV/2026 sẽ thuận lợi hơn.Kết quả khảo sát cho thấy, quý III/2026 so với quý II/2026 về chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm, có tới 34,21% doanh nghiệp nhận định tăng, 61,70% giữ nguyên và chỉ có 4,09% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo quý IV/2026 so với quý III/2026, chỉ có 26,32% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng, 68,13% giữ nguyên và chỉ có 5,56% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản xuất giảm. Như vậy, theo nhận định của doanh nghiệp thì chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thì quý III/2026 đến quý IV/2026 có mức giảm nhỏ và giữ ổn định, đó là điều kiện tốt cho doanh nghiệp sản xuất trong thời gian tiếp theo.Số lượng đơn đặt hàng mới quý III/2026 tốt hơn so với quý II/2026. Theo kết quả khảo sát quý III/2026 cho thấy, chỉ có 36,92% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng mới tăng, 46,77% giữ nguyên và chỉ có 16,31% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý IV/2026 so với quý III/2026, với 44,27% doanh nghiệp dự báo tăng, 47,06% giữ nguyên và chỉ có 8,67% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm, với những nhận định trên sẽ là những thuận lợi cho SXKD trong quý III và quý IV/2026. Lao động trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2026 so với quý II/2026 ở mức tăng trung bình, có tới 15,79% doanh nghiệp nhận định tăng, 69,88% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên và chỉ có 14,33% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo tình hình sử dụng lao động trong quý IV/2026 cho thấy xu hướng tích cực hơn so với quý III/2026. Kết quả khảo sát cho thấy có 21,05% doanh nghiệp dự kiến tăng số lao động, trong khi 72,81% doanh nghiệp giữ ổn định quy mô lao động và chỉ có 6,14% doanh nghiệp dự giảm lao động. Điều này phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào triển vọng sản xuất kinh doanh trong thời gian tới, đồng thời cho thấy nhu cầu mở rộng sản xuất và bổ sung nhân lực cho doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến tăng lao động cao hơn đáng kể so với tỷ lệ giảm lao động, cho thấy thị trường lao động tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và có khả năng tăng trưởng.Kết quả khảo sát quý III/2026 cho thấy, có tới 37,13% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng, 45,61% giữ nguyên và chỉ có 17,25% doanh nghiệp đánh giá giảm. Như vậy, tình hình SXKD quý III có khối lượng sản xuất tăng khá hơn quý II/2026. Dự báo khối lượng sản xuất quý IV/2026 so với quý III/2026 có phần tăng cao, với 45,32% doanh nghiệp dự báo tăng, 45,32% giữ nguyên và chỉ có 9,36% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm. Như vậy, dự báo khối lượng sản xuất quý IV/2026 ổn định và tăng khá so với quý III/2026.Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý III/2026 so với quý II/2026 chỉ có 24,56% doanh nghiệp đánh giá tăng, có tới 69,59% giữ nguyên và chỉ có 5,85% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý IV/2026 so với quý III/2026, có 23,98% doanh nghiệp dự báo tăng, 71,64% giữ nguyên và chỉ có 4,39% doanh nghiệp dự báo giảm. Như vậy, theo nhận định của các doanh nghiệp trong quý IV/2026 thì giá bán bình quân một sản phẩm cơ bản ổn định và có giảm chút ít so với quý III.Kết quả khảo sát quý III/2026 cho thấy, chỉ có 15,79% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản phẩm tồn kho tăng, 53,80% giữ nguyên và có tới 30,41% doanh nghiệp đánh giá giảm. Như vậy, tình hình SXKD thuận lợi hơn, khối lượng sản phẩm tồn kho giảm hơn so với quý II/2026. Dự báo khối lượng tồn kho quý IV/2026 so với quý III/2026 tiếp tục xu hướng tích cực, chỉ có 15,79% doanh nghiệp dự báo tăng, 60,23% giữ nguyên và có 23,98% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm.Hoạt động SXKD của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2026 được đánh giá bởi một số khó khăn chính so với quý II/2026 do nhiều yếu tố. Trong đó, một số yếu tố được đánh giá quan trọng và có mức độ giảm dần như, yếu tố “Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp với 57,02% doanh nghiệp lựa chọn, đây là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến SXKD của doanh nghiệp trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, yếu tố “Nhu cầu thị trường trong nước thấp”, “Nhu cầu thị trường quốc tế thấp” và “Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu” là những yếu tố có sự ảnh hưởng nhiều tới hoạt động SXKD của doanh nghiệp trong quý III/2026 lần lượt là 46,78%, 38,3 và 37,43% doanh nghiệp lựa chọn. 4. Hoạt động xây dựngChín tháng năm 2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động. Hàng loạt dự án trọng điểm về giao thông, khu công nghiệp, chỉnh trang đô thị, trung tâm thương mại, nhà ở xã hội được tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác sử dụng. Một số công trình có tổng mức đầu tư lớn đang triển khai xây dựng và đưa vào hoạt động như: Đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội đoạn qua tỉnh Hưng Yên là 19,3km; Đường Tân Phúc - Võng Phan: Tuyến đường dài gần 30km đi qua 7 xã với tổng mức đầu tư gần 3.000 tỷ đồng đang được đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công; Dự án tuyến đường kết nối Thái Bình - Phố Hiến, tuyến đường dài 24,8km, tổng vốn hơn 4.900 tỉ đồng đang được khẩn trương thi công, nhiều hạng mục đã dần hoàn thành; tuyến đường có điểm đầu tại nút giao giữa đường vào Khu công nghiệp TBS Sông Trà với quốc lộ 10 (thuộc phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên), điểm cuối tại đầu cầu vượt sông Luộc (thuộc xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên). Đáng chú ý, trên địa bàn tỉnh đồng loạt khởi công, khánh thành nhiều dự án khu, cụm công nghiệp tại các địa phương trong tỉnh, với tổng vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng. Ghi dấu mốc ấn tượng đối với hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh khi 7 dự án khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) và giao thông lớn đồng loạt được bấm nút khởi công: dự án Khu công nghiệp Liên Hà Thái (Green iP-3); dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Thổ Hoàng; khu công nghiệp số 10 - Hưng Yên; dự án đầu tư khu công nghiệp số 15; CCN Đa Lộc; CCN Lạc Đạo; dự án xây dựng đường bên và các cầu vượt trên tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng.Kết quả cụ thể ngành xây dựng quý III năm 2026 và 9 tháng năm 2026 (theo giá so sánh 2020) như sau: Giá trị sản xuất xây dựng quý III năm 2026 ước đạt 29.641 tỷ đồng, tăng 14,45% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng ước đạt 76.901 tỷ đồng, tăng 14,18% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trị công trình nhà ở 38.409 tỷ đồng, tăng 22,90%; giá trị công trình nhà không để ở 12.383 tỷ đồng, tăng 16,02%; công trình kỹ thuật dân dụng 19.448 tỷ đồng, giảm 7,73%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 6.660 tỷ đồng, tăng 53,20%.Theo giá hiện hành, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý III năm 2026 ước đạt 41.090 tỷ đồng. Tính chung chín tháng năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng ước tính đạt 105.935 tỷ đồng. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình ngoài nhà nước 71.321 tỷ đồng (chiếm 67,33% tổng giá trị); giá trị xây dựng loại hình khác32.140 tỷ đồng (chiếm 30,34% tổng giá trị). Theo loại công trình, giá trị công trình nhà để ở 53.281 tỷ đồng (chiếm 50,30%); giá trị công trình nhà không để ở17.103 tỷ đồng (chiếm 16,14%); giá trị công trình kỹ thuật dân dụng 27.020 tỷ đồng (chiếm 25,51%); giá trị hoạt động xây dựng chuyên dụng 8.531 tỷ đồng (chiếm 8,05%). 5. Thương mại, dịch vụa)  Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùngChín tháng năm 2026, hoạt động lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định; việc cung ứng hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân thuận lợi; công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh xăng dầu được tăng cường. Triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 tới các thương nhân kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh nhằm xanh hóa năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu phụ thuộc vào biến động giá và nguồn cung dầu mỏ cạn kiệt trên toàn cầu và rà soát, tổng hợp tình hình triển khai lộ trình sử dụng xăng E10 theo Thông tư số 50/2025/TT-BC. Tham gia và tổ chức thành công: Khu gian hàng tỉnh Hưng Yên tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 - một sự kiện kinh tế, văn hóa lớn với quy mô Quốc gia được tổ chức tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia (VEC) Đông Anh, Hà Nội từ ngày 02/02 đến 13/02/2026. Khu gian hàng tỉnh Hưng Yên được Ban tổ chức tặng giấy chứng nhận “Không gian trưng bày đặc biệt” và đóng góp xuất sắc cho thành công chung của Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026; Khu gian hàng của tỉnh tại Hội chợ Thương mại Quốc tế Việt Nam lần thứ 35 - VIETNAM EXPO 2026 từ ngày 08 đến 11 tháng 4 năm 2026 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam (VEC), Đông Anh, Hà Nội, qua đó, đã góp phần giúp các doanh nghiệp tìm kiếm được các đối tác hợp tác sản xuất, kinh doanh, xúc tiến mở rộng thị trường xuất khẩu ra nước ngoài; Khu trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của tỉnh Hưng Yên tại Hội nghị kết nối Hưng Yên - Nhật Bản ngày 03/6/2026 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh; Tổ chức phiên chợ Nhãn lồng và nông sản, sản phẩm tiêu biểu tỉnh tỉnh Hưng Yên (Tổ chức bán hàng trực tiếp kết hợp livestream bán hàng trên các nền tảng của mạng xã hội) trong khuôn khổ Lễ hội nhãn lồng. Đoàn công tác của tỉnh tham gia Đoàn giao dịch thương mại và đầu tư tại Nhật Bản từ ngày 27/6 đến ngày 03/7/2026 tại Osaka và Tokyo (Nhật Bản) và tham gia Đoàn giao dịch thương mại và đầu tư tại Hàn Quốc từ ngày 12/7 đến ngày 17/7/2026 tại Seoul (Hàn Quốc).Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội                                  quý III và chín tháng năm 2026                                     Quý III.2026 9T.2026 QIII.2026QIII.2025 9T.20269T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 75.013 223.151 118,62 117,50 Thương nghiệp 36.602 110.606 120,64 118,68 Lưu trú, ăn uống 3.803 11.341 123,85 117,10 Du lịch 41 93 112,55 112,76 Dịch vụ 34.567 101.110 116,04 116,29 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước đạt 26.087 tỷ đồng, tăng 4,48% so với tháng trước và tăng 17,20% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn chín tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 223.151 tỷ đồng, tăng 17,50% so cùng kỳ năm trước (quý I tăng 16,47%; quý II tăng 17,43%; quý III tăng 18,62%).Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau:Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Chín ước đạt 12.277 tỷ đồng, chiếm 47,06% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 17,98%; hàng may mặc tăng 12,52%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 19,08%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 101,71%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 26,07%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 35,69%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 33,62%; xăng, dầu các loại tăng 21,14%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 62,99%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 47,75%. Bên cạnh các nhóm hàng tăng thì có 01 nhóm hàng giảm là nhóm hàng hóa khác giảm 9,70%.Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 110.606 tỷ đồng, tăng 18,68% (quý I tăng 17,99%; quý II tăng 17,47%; quý III tăng 20,64%) so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 22,93%; hàng may mặc tăng 18,0%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 13,67%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 68,86%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,54%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 32,53%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 7,93%; xăng dầu các loại tăng 21,32%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 47,84%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 38,15%; hàng hóa khác tăng 5,98.Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu tháng Chín ước đạt 1.276 tỷ đồng, tăng 0,92% so với tháng trước và tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 37 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 11,78% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.239 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 24,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 11.341 tỷ đồng, tăng 17,10% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 15,21%; quý II tăng 12,81%; quý III tăng 23,85%). Trong đó, dịch vụ lưu trú 328 tỷ đồng, tăng 13,52%; dịch vụ ăn uống11.013 tỷ đồng, tăng 17,21%. Từ đầu năm đến nay, ngành dịch vụ lưu trú ăn uống duy trì mức tăng trưởng khá nhờ sự phục hồi của hoạt động thương mại, du lịch và các hoạt động văn hóa trên địa bàn. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Chín ước đạt 10,51 tỷ đồng, giảm 34,32% so với tháng trước và tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm trong tháng chủ yếu do tính mùa vụ: tháng Chín là thời điểm kết thúc mùa du lịch hè, nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan giảm so với các tháng cao điểm; cùng với đó, các sản phẩm du lịch biển và chương trình dành cho gia đình, học sinh cũng tập trung nhiều hơn trong kỳ nghỉ hè. Vì vậy, doanh thu lữ hành tháng Chín giảm so với tháng trước nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ, không phản ánh xu hướng suy giảm của ngành. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 93 tỷ đồng, tăng 12,76% (quý I tăng 13,47%; quý II tăng 12,60%; quý III tăng 12,55%) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù chịu tác động mùa vụ trong tháng Chín, hoạt động lữ hành vẫn duy trì mức tăng trưởng hai con số, với dư địa phát triển từ việc khai thác các giá trị văn hóa, di sản, sinh thái, biển và du lịch trải nghiệm. Những tháng cuối năm, các sản phẩm du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái, trải nghiệm và du lịch cuối tuần tiếp tục có điều kiện phát triển, góp phần giảm tính mùa vụ và nâng cao hiệu quả khai thác cơ sở lưu trú, ăn uống và các dịch vụ hỗ trợ.Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Chín ước đạt 12.524 tỷ đồng, tăng 9,26% so với tháng trước và tăng 15,14% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt11.100 tỷ đồng tăng 10,00% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 517 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 14,84% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 244 tỷ đồng, tăng 15,79% so với tháng trước và tăng 9,44% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 256 tỷ đồng, tăng 0,58% so với tháng trước và tăng 15,36% so với cùng kỳ; dịch vụ khác ước đạt 318 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 12,23% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 101.110 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 15,00%; quý II tăng 17,97%; quý III tăng 16,04%). Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,34% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,80% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,76%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 11,01%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,20%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 15,18%; dịch vụ khác tăng 11,26%. Thị trường bất động sản trong chín tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường. 6. Hoạt động vận tảiDoanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Chín ước đạt 2.546 tỷ đồng, tăng 1,72% so với tháng trước và tăng 16,38% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 22.064 tỷ đồng, tăng 17,14% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 18,37%; quý II tăng 16,83%; quý III tăng 16,26%).Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Chín ước đạt 6 triệu lượt người vận chuyển và 570 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 4,23% về lượt người vận chuyển, tăng 5,56% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 13,40% về lượt người vận chuyển, tăng 17,50% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng 9 ước đạt 449 tỷ đồng, tăng 3,65% so với tháng trước và tăng 22,27% so cùng kỳ năm trước.Tính chung chín tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 52,7 triệu lượt người vận chuyển và 4.866 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,15% về lượt người vận chuyển và tăng 10,79% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách chín tháng ước đạt 3.799 tỷ đồng, tăng 13,47% so cùng kỳ năm trước (quý I tăng 14,27%; quý II tăng 9,52%; quý III tăng 16,64%).Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Chín ước đạt 7,1 triệu tấn vận chuyển và 1.812 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 0,98% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 0,20% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 17,27% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 7,97% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.864 tỷ đồng, tăng 1,35% so với tháng trước và tăng 14,23% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung chín tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 60,1 triệu tấn vận chuyển và 16.112 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,69% về tấn hàng hóa vận chuyển và 12,24% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa chín tháng ước đạt 16.270 tỷ đồng, tăng 18,78% so cùng kỳ năm trước (quý I tăng 20,28%; quý II tăng 20,14%; quý III tăng 16,09%).Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Chín có doanh ước đạt 207 tỷ đồng, tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 22,97% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.781 tỷ đồng, tăng 9,73% (quý I tăng 9,01%; quý II tăng 6,30%; quý III tăng 13,95%) so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Chín ước đạt 26 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 27,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 215 tỷ đồng, tăng 27,51% (quý I tăng 34,00%; quý II tăng 2,50%; quý III tăng 51,17%) so với cùng kỳ năm trước. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT1. Hoạt động đầu tưChín tháng năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phục hồi sản xuất kinh doanh và thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đặc biệt, ngày 12/9/2026, có 7 dự án khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) và giao thông lớn đồng loạt được bấm nút khởi công trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng không gian phát triển và đón dòng vốn đầu tư: Dự án Khu công nghiệp Liên Hà Thái (Green iP-3); Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Thổ Hoàng; Khu công nghiệp số 10 - Hưng Yên; Dự án đầu tư khu công nghiệp số 15; CCN Đa Lộc; CCN Lạc Đạo; Dự án xây dựng đường bên và các cầu vượt trên tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng.a)  Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hộiVốn đầu tư thực hiện toàn xã hội toàn tỉnh quý III ước đạt 44.871 tỷ đồng, tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: vốn khu vực nhà nước 14.554 tỷ đồng, tăng 22,35%; khu vực ngoài nhà nước 25.185 tỷ đồng, tăng 20,02%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 5.133 tỷ đồng, giảm 6,15%.Tính chung chín tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 117.508 tỷ đồng, tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phân theo nguồn vốn như sau: Vốn thuộc khu vực nhà nước đạt 32.705 tỷ đồng, tăng 17,84%; khu vực ngoài nhà nước 69.003 tỷ đồng, tăng 17,87%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15.800 tỷ đồng, giảm 4,43%.Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Quý III và 9 tháng năm 2026 Ước tính quý III năm 2026 (Tỷ đồng) Ước tính 9 tháng năm 2026 (Tỷ đồng) Quý III năm 2026 so với quý III năm                 2025 (%)       9 thángnăm 2026 so với 9 tháng năm 2025 (%) TỔNG SỐ 44.871 117.508 117,01 114,28 Vốn nhà nước 14.554 32.705 122,35 117,84 Vốn ngoài nhà nước 25.185 69.003 120,02 117,87 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5.133 15.800 93,85 95,57 Xét theo ngành kinh tế, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 402 tỷ đồng, tăng 116,17%; công nghiệp và xây dựng 8.341 tỷ đồng, giảm 13,93%; thương mại, dịch vụ 36.128 tỷ đồng, tăng 26,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 1.182 tỷ đồng, tăng 157,33%; công nghiệp và xây dựng 24.781 tỷ đồng, tăng 10,06%; thương mại, dịch vụ 91.544 tỷ đồng, tăng 14,64% so với cùng kỳ năm trước.Một số dự án trọng điểm thi công trong chín tháng năm 2026 như sau: Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình theo phương thức đối tác công tư (CT.08), vốn đầu tư 19,784 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 2.466,5 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng, vốn đầu tư 6,091 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 1.014,8 tỷ đồng; Dự án nâng cấp, mở rộng tuyến đường liên tỉnh Hà Nội - Hưng Yên kéo dài, đoạn qua địa phận tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 3.155 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 125,4 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên (nay là tuyến đường từ phường Thái Bình đến xã Hưng Hà), Vốn đầu tư 9.596,3 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 1.094,1 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình, vốn đầu tư 3.156 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 319,2 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường Tân Phúc -Võng Phan (giao ĐT.378), tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 2,049 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 480,4 tỷ đồng; Dự án xây dựng đường Đông- Tây I, đoạn từ đường tỉnh 378 đến đường tỉnh 382B, Vống đầu tư 1.310 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 639 tỷ đồng; Dự án tuyến đường nối từ thành phố Thái Bình đến cầu Nghìn theo hình thức đầu tư công, vốn đầu tư 2,121 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 65,8 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình tại Khu trung tâm Y tế tỉnh (nay là Bệnh viện Đa khoa Thái Bình tại phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên), tổng vốn đầu tư 2,351,6 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 343,8 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng nút giao Phúc Khánh, vốn đầu tư 842 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 363,4 tỷ đồng;...b)  Vốn đầu tư ngân sách địa phươngƯớc tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Chín đạt 5.357 tỷ đồng, tăng 23,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.510 tỷ đồng, tăng 76,83%; vốn ngân sách cấp nhà nước cấp xã 847 tỷ đồng, giảm 52,35% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư phát triển từ nguồn NSNN do địa phương quản lý                                  Quý III, 9 tháng năm 2026                                    QIII.2026 9T.2026 QIII.2026 QIII.2025  9T.2026 9T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 13.333 29.557 121,94 117,65 Vốn NS nhà nước cấp tỉnh 10.593 21.380 162,47 150,31 Vốn NS nhà nước cấp xã 2.740 8.177 62,08 75,02 Xét trong quý III năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 13.333 tỷ đồng, tăng 21,94% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 2,19%; quý II tăng 24,61%). Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 10.593 tỷ đồng, tăng 62,47%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 2.740 tỷ đồng, giảm 37,92%.Tính chung chín tháng năm 2026, vốn đầu tư ngân sách địa phương ước đạt 29.557 tỷ đồng, tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước và đạt 54,03% kế hoạch năm. Trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh 21.380 tỷ đồng, tăng 50,31% so với cùng kỳ năm trước và đạt 48,10% kế hoạch; vốn ngân sách cấp xã 8.177 tỷ đồng, giảm 24,98% so với cùng kỳ năm trước và đạt 79,72% kế hoạch năm. Vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý cấp tỉnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do trong năm 2026, tỉnh tập trung triển khai nhiều dự án trọng điểm quy mô lớn, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp xã, nguồn vốn tiếp tục được sử dụng chủ yếu cho các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, trường học, nhà văn hóa và các công trình phục vụ dân sinh. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm do vướng mắc trong công tác chuẩn bị đầu tư, năng lực tổ chức thực hiện ở một số địa phương còn hạn chế, cùng với tác động của biến động giá nguyên vật liệu xây dựng.c)  Hoạt động đầu tư nước ngoàiTính đến 25/9/2025, toàn tỉnh có 1.011 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 18.943,82 triệu USD, trong đó, từ đầu năm đến nay có 47 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 775,82 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 205 dự án, vốn đăng ký là 6.819,11 triệu USD, chiếm 36,0% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 393 dự án, vốn đăng ký 4.748,66 triệu USD, chiếm 25,07% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.288,88 triệu USD, chiếm 12,08% tổng số vốn đăng ký. 2. Phát triển doanh nghiệpTính từ ngày 22/8/2026 đến ngày 21/9/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 255 doanh nghiệp, lao động dự kiến 3.738 người, với vốn đầu tư đăng ký 3.070 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 50 doanh nghiệp, sử dụng 1.137 lao động, vốn đăng ký 378 tỷ đồng; sản xuất và phân phối, điện, nước, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 4 doanh nghiệp, sử dụng 7 lao động, vốn đăng ký 16 tỷ đồng; xây dựng 21 doanh nghiệp, sử dụng 70 lao động, vốn đăng ký 98 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 100 doanh nghiệp, sử dụng 443 lao động, vốn đăng ký 399 tỷ đồng; vận tải kho bãi 24 doanh nghiệp, sử dụng 94 lao động, vốn đăng ký 96 tỷ đồng; dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 doanh nghiệp, sử dụng 22 lao động, vốn đăng ký 10 tỷ đồng;...Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/9/2026, toàn tỉnh có 4.030 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, số lao động dự kiến sử dụng 32.310 người, vốn đầu tư đăng ký đạt 44.606 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.639 doanh nghiệp, sử dụng 6.408 lao động, vốn đăng ký đạt 6.515 tỷ đồng (chiếm 14,61% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 785 doanh nghiệp, sử dụng 16.503 lao động, vốn đăng ký đạt 8.435 tỷ đồng (chiếm 18,91%); xây dựng 377 doanh nghiệp, sử dụng 1.686 lao động, vốn đăng ký 2.192 tỷ đồng (chiếm 4,91%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 192 doanh nghiệp, sử dụng 862 lao động, vốn đăng ký 473 tỷ đồng; hoạt động vận tải, kho bãi 322 doanh nghiệp, sử dụng 1.205 lao động, vốn đăng ký 1.458 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 137 doanh nghiệp, sử dụng 604 lao động, vốn đăng ký 552 tỷ đồng (chiếm 1,24%);...Trong tháng Chín (tính từ ngày 22/8/2026 đến ngày 21/9/2026), không có doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/9/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 610 doanh nghiệp.Cũng từ ngày 22/8/2026 đến ngày 21/9/2026, không phát sinh doanh nghiệp giải thể và doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/9/2026, toàn tỉnh có 744 doanh nghiệp giải thể và 1.540 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 149 doanh nghiệp giải thể và 374 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,03% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,29% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 269 doanh nghiệp giải thể và 528 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,16% và 34,29%; kinh doanh bất động sản có 45 doanh nghiệp giải thể và 35 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,05% và 2,27%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ có 26 doanh nghiệp giải thể và 72 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,49% và 4,68%;... 3. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểma)  Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnhThu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Chín ước đạt 4.069 tỷ đồng, tăng 4,54% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Thu nội địa 3.342 tỷ đồng, giảm 2,68%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 727 tỷ đồng, tăng 58,57%. Một số khoản thu chủ yếu trong tháng dự tính như sau: thu từ DNNN 119 tỷ đồng, tăng 33,28%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 129 tỷ đồng, giảm 22,15%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 759 tỷ đồng, giảm 23,16%; thu phí, lệ phí 117 tỷ đồng, giảm 20,84%; thu thuế thu nhập cá nhân 100 tỷ đồng, giảm 62,63%; các khoản thu về đất 2.030 tỷ đồng, tăng 23,89%;...Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh                                       9 tháng năm 2026                                        9T.2025 9T.2026  9T.2026  9T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) Tổng số 70.848 53.564 75,60 Thu nội địa 66.252 48.015 72,47 Tr. đó: Thu từ đất 41.131 19.109 46,46 Thu từ hoạt động XNK 4.596 5.549 120,73 Tính chung chín tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 53.564 tỷ đồng, giảm 24,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 63,58% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 48.015 tỷ đồng, giảm 27,52% và đạt 61,88% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 5.549 tỷ đồng, tăng 20,73% và bằng 83,45% kế hoạch năm. Một số khoản thu nội địa chủ yếu như sau: thu từ DNNN 1.006 tỷ đồng, giảm 1,04%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.573 tỷ đồng, tăng 16,86%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 19.102 tỷ đồng, tăng 24,93%; thu phí, lệ phí 1.381 tỷ đồng, giảm 0,05%; thuế thu nhập cá nhân 2.507 tỷ đồng, giảm 13,42%; các khoản thu về đất 19.109 tỷ đồng, giảm 53,54%;...b)  Chi ngân sách nhà nước địa phươngChi ngân sách nhà nước địa phương tháng Chín ước đạt 3.071 tỷ đồng, giảm 8,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.643 tỷ đồng, tăng 114,29%; chi thường xuyên 1.428 tỷ đồng, giảm 44,93%.Tính chung chín tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 54.593 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 34.382 tỷ đồng, chiếm 62,98% tổng chi ngân sách và tăng 23,70%; chi thường xuyên 20.211 tỷ đồng, chiếm 37,02% tổng chi ngân sách và tăng 4,96% so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 775 tỷ đồng, giảm 36,19%; chi giáo dục, đào tạo 7.395 tỷ đồng, tăng 4,41%; chi sự nghiệp y tế 1.981 tỷ đồng, tăng 19,59%; chi đảm bảo xã hội 4.843 tỷ đồng, tăng 101,97%; chi quản lý hành chính 3.473 tỷ đồng, giảm 37,63%;...c)  Hoạt động ngân hàngChín tháng năm 2026, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tinh đã thực hiện kịp thời các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam, cơ chế, chính sách mới. Tăng trưởng tín dụng với cơ cấu hợp lý, ưu tiên các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, hạn chế tín dụng đen. Ước tính đến thời điểm 30/9/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 345.000 tỷ đồng, tăng 11,54% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 340.500 tỷ đồng, tăng 10,83% và chiếm 98,70% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,30%.Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/9/2026 đạt286.100 tỷ đồng, tăng 8,0% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 205.000 tỷ đồng, tăng 6,91%; dư nợ cho vay trung và dài hạn81.100 tỷ đồng, tăng 10,85%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 276.500 tỷ đồng, tăng 6,95%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 9.600 tỷ đồng, tăng 50,59%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 186.350 tỷ đồng, tăng 7,321% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 119.500 tỷ đồng, tăng 4,52%; xuất khẩu 1.720 tỷ đồng, tăng 6,17%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 59.700 tỷ đồng, tăng 14,05%; công nghiệp hỗ trợ 5.430 tỷ đồng, tăng 1,69%.Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/9/2026 ước tính là 1.800 tỷ đồng (chiếm 0,63% dư nợ tín dụng), giảm 0,08% so với với thời điểm 31/12/2025.d)  Bảo hiểm xã hộiLũy kế số người tham gia BHXH đến 31/8/2026 là 681.048 người, tăng5.128 người, tương ứng tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 79.122 người, tương ứng tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: BHXH bắt buộc 591.351 người, tăng 4.710 người (tăng 0,8%) so với tháng trước, tăng 69.020 người (tăng 13,2%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 89.697 người, tăng 418/ người (tăng 0,5%) so với tháng trước, tăng 10.102 người (tăng 12,7%) so với cùng kỳ năm trước.Lũy kế số người tham gia BHTN đến 30/9/2026 là 568.660 người, tăng5.015 người (tăng 0,9%) so với tháng trước, tăng 63.474 người (tăng 12,6%) so với cùng kỳ năm trước. Tổng số người tham gia BHYT là 2.961.461 người, tăng5.151 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 155.673 người (tăng 5,5%) so với cùng kỳ năm trước. Tính từ đầu năm đến hết tháng 8/2026, toàn tỉnh thu BHXH, BHYT, BHTN được 11.571 tỷ đồng, tăng 1.601 tỷ đồng (tăng 16,1%) so với cùng kỳ năm trước. Chi BHXH trong tháng 8/2026 đạt 1.089 tỷ đồng; luỹ kế chi từ đầu năm là 8.228 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 296 tỷ đồng, luỹ kế 2.265 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 793 tỷ đồng, luỹ kế 5.962 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 9/2026 là 29 tỷ đồng, lũy kế chi từ đầu năm là 215 tỷ đồng.Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 8/2026 khoảng 346 tỷ đồng; luỹ kế từ đầu năm đã chi 2.566 tỷ đồng, tăng 8,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 1.007 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.559 tỷ đồng.4. Chỉ số giáa)  Chỉ số giá tiêu dùngTrong tháng Chín, diễn biến giá giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ có sự tăng, giảm đan xen. Một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng do tác động của yếu tố mùa vụ, nhu cầu tiêu dùng và chi phí đầu vào; trong khi một số nhóm khác có chỉ số giá giảm hoặc cơ bản ổn định. Sự tăng, giảm đan xen giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ đã tác động bù trừ, nên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 chỉ giảm nhẹ - giảm 0,01% so với tháng trước. So với tháng cùng kỳ năm 2025, CPI tăng 4,08%; bình quân 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,29% so với cùng kỳ.Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Chín năm 2026 (%) T9.2026T8.2026 T9.2026T9.2025 9T.20269T.2025 Chỉ số giá tiêu dùng chung 99,99 104,08 104,29 Chỉ số vàng 102,33 111,97 145,67 Chỉ số đô la Mỹ 99,31 97,76 101,28 So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín giảm nhẹ - giảm 0,01%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 06 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 05 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,64%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,45%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,40%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,01%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,44%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 2,12%; thông tin và truyền thông giảm 0,50%; giáo dục tăng 1,37%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,25%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%.Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,64%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,69%, trong đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 2,32% so với tháng trước (gạo tẻ thường giảm 2,55%; gạo tẻ ngon giảm 1,86%; gạo nếp giảm 1,79%) do nguồn cung dồi dào, xuất khẩu chững lại, dẫn đến giá bán trong nước giảm theo; chỉ số giá nhóm bún, phở, bánh đa giảm 1,34% do ảnh hưởng từ giá gạo giảm. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,55% do: Nhóm thịt gia súc giảm 2,95% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 3,28%; nội tạng động vật giảm 1,27%; thịt gia súc đông lạnh giảm 1,32%); nhóm thị gia cầm giảm 1,63% (thịt gà giảm 1,82%; thịt gia cầm đông lạnh giảm 2,78%); nhóm thủy sản tươi sống giảm 0,38% do giá các loại tôm, cua, cá biển giảm; nhóm thịt chế biến giảm 0,69%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 1,44%; nhóm trứng giảm 0,58%.Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,45%, chủ yếu do nhóm bia các loại giảm 1,53%; nhóm thuốc lào giảm 0,66%; nguyên nhân do sự điều chỉnh giá của nhà sản xuất nên các cửa hàng và siêu thị giảm giá bán, nhằm kích tiêu dùng.Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,40%, chủ yếu do các cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán và thực hiện các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng nhằm giải phóng hàng tồn kho, đồng thời đáp ứng sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng theo thời điểm.Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,44%, chủ yếu do nhóm thiết bị dùng trong gia đình giảm 2,32%, giảm ở các mặt hàng điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt, máy hút bụi, bình nước nóng nhà tắm, ổn áp điện,… nhóm đồ dùng nấu ăn giảm 0,61%; nhóm đồ nhựa và cao su giảm 0,41% nhóm vật phẩm tiêu dùng khác giảm 0,88%;... sự biến động của chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và yếu tố mùa vụ đã tác động đến giá bán của nhóm hàng này.Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 2,12%, chủ yếu do giá xăng, dầu tăng. Giá xăng, dầu trong tháng tăng theo các kỳ điều chỉnh, do ảnh hưởng của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới tăng. Trong kỳ giá tiêu dùng tháng 9/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 04 đợt vào các ngày 03/9; 10/9; 17/9 và 24/9. Theo đó giá nhiên liệu tăng 7,54%; giá xăng tăng 7,69%; giá dầu diesel tăng 4,50%.Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,50%, chủ yếu do các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán và thực hiện các chương trình khuyến mại nhằm kích cầu tiêu dùng. Cùng với đó, sự xuất hiện của các mẫu điện thoại mới khiến giá bán các sản phẩm thế hệ trước giảm theo chu kỳ, trong khi cạnh tranh giữa các thương hiệu và nhà phân phối tiếp tục góp phần kéo giảm mặt bằng giá điện thoại.Nhóm giáo dục tăng 1,37%, trong đó chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 1,97%. Nguyên nhân do tháng Chín là thời điểm bắt đầu năm học mới 2026 - 2027, một số cơ sở giáo dục thực hiện mức thu học phí và các khoản dịch vụ giáo dục theo năm học mới, làm mặt bằng giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng so với tháng trước. Đây là yếu tố có tính mùa vụ, thường tác động đến chỉ số giá nhóm giáo dục vào thời điểm đầu năm học. So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín tăng 3,53%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,32%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,97%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,90%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,83%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,51%; giao thông tăng 10,12%; thông tin và truyền thông tăng 0,48%; giáo dục tăng 0,38%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,71%.So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng chín tăng 4,08%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,32% (lương thực tăng 1,20%; thực phẩm tăng 4,99%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,95%); đồ uống và thuốc lá tăng 4,84%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,18%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,46%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,84%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,34%; giao thông tăng 8,42%; thông tin và truyền thông tăng 0,67%; giáo dục tăng 0,38%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,29%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,15%.Bình quân quý III năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,39%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,23% (lương thực tăng 2,43%; thực phẩm tăng 5,80%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,02%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,20%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,43%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,40%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,37%; giao thông tăng 5,90%; thông tin và truyền thông tăng 0,96%; giáo dục tăng 0,17%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,56%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,13%.Bình quân chung chín tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,29% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,23%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,46%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,87%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,25%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,30%; giao thông tăng 5,07%; thông tin và truyền thông tăng 0,95%; giáo dục tăng 0,90%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,33%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,21%.Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân chín tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,71% chủ yếu do giá thịt gia súc tăng 5,45%, thịt gia cầm tăng 4,75%, thịt chế biến tăng 7,90%, trứng các loại tăng 11,31%; mỡ động vật tăng 10,57%; thủy sản tươi sống tăng 6,78%; rau tươi, khô và chế biến tăng 13,18%, do giá thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chi phí vận chuyển tăng dẫn đến giá bán tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,98% chủ yếu do giá nguyên liệu thực phẩm, chi phí điện nước, nhân công, chi phí thuê mặt kinh doanh tăng; bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng và tình hình kinh doanh dịch vụ ăn uống trong từng kỳ đã tác động đến giá dịch vụ.(2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,23%, chủ yếu do nhóm nước khoáng tăng 6,80%; nước ép quả tăng 5,33%; rượu mạnh tăng 5,94%; bia chai tăng 5,36%; thuốc lá tăng 5,15%;... nguyên nhân do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng; giá nguyên liệu sản xuất đồ uống như đường, sữa, chè, hoa quả, malt, bao bì nhựa, thủy tinh và nhôm tăng; giá lá thuốc lá, giấy cuốn, đầu lọc và vật tư nhập khẩu tăng làm chi phí sản xuất tăng cao hơn. (3) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,87% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê và các loại nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,21%; giá các loại vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,09%, dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 7,32% do giá vật liệu và nhu cầu xây dựng, cải tạo nhà ở, đầu tư cơ sở hạ tầng tăng đã tác động tăng giá nhóm này. (4) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 5,07%, do giá xăng tăng 10,29%; giá dầu diezel tăng 39,21% so với cùng kỳ. Giá xăng, dầu biến động theo giá dầu thô thế giới và tỷ giá, làm tăng chí phí vận hành phương tiện cá nhân và vận tải hàng hóa, hành khách, khi chi phí nhiên liệu tăng, giá thành dịch vụ vận tải cũng tăng theo. (5) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 3,95% do nhu cầu sử dụng điện tăng cao trong mùa nắng nóng, cùng với tác động từ chi phí sản xuất, vận hành hệ thống điện, việc điều chỉnh giá điện theo biến động chi phí đầu vào cũng góp phần làm tăng mức giá điện bình quân. (6) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,33%, chủ yếu do nhóm dịch vụ văn hóa tăng 4,64%; nhóm giải trí tăng 8,40%; nhóm hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 11,00% nhóm du lịch trọn gói tăng 8,77%;... do nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch của người dân tăng vào các dịp lễ, tết, kỳ nghỉ hè, nghỉ cuối tuần, cùng với chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển và cung ứng dịch vụ tăng.b)  Chỉ số giá vàng và đô la MỹChỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 9/2026 tăng 2,33% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 9/2026, giá vàng xấp xỉ 14.673.330 VNĐ/chỉ.Tháng 9/2026, tỷ giá USD trong nước biến động giảm theo xu hướng giảm của đồng USD trên thị trường quốc tế. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 9/2026 giảm 0,69% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.010 VNĐ.c)  Chỉ số giá sản xuấtChỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Chín tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,41% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp ổn định so với tháng trước và tăng 12,56% so với cùng kỳ; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 1,27% so với tháng trước và tăng 7,31% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,41%; mía cây tươi tăng 0,82%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 0,99%; rau lấy lá tăng 9,50%; dưa lấy quả tăng 1,57%; rau họ đậu tăng 9,19%; rau lấy quả tăng 8,69%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân tăng 5,56%; nấm trồng các loại tăng 1,51%; đậu/đỗ hạt khô các loại tăng 3,83%; hoa phong lan tăng 1,54%; hoa cúc bông tăng 1,10%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 7,49%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm tăng 4,98%; quả na tăng 1,07%; mít tăng 1,86%; ổi tăng 2,88%; các loại quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới còn lại tăng 2,58%; quýt tăng 1,13%; bưởi tăng 1,45%; nhãn tăng 2,28%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 2,23%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 1,14%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 0,21%; sản phẩm chăn nuôi khác tăng 1,10%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,48%; cá chép tăng 1,48%; giống thủy sản nuôi nội địa tăng 0,52%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: thóc khô giảm 0,22%; thuốc lào giảm 0,86%; hoa hồng giảm 0,43%; chuối giảm 1,18%; thanh long giảm 0,65%; chanh thường giảm 7,75%; các loại quả có múi còn lại giảm 2,52%; bò giảm 0,63%; lợn giảm 1,82%; sản phẩm thủy sản khai thác biển giảm 3,08%; cá nuôi biển giảm 2,06%; tôm nuôi biển còn lại giảm 3,17%; tôm nuôi nội địa giảm 2,40%;...Quý III năm 2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 0,51% so với quý trước và tăng 4,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,64% và tăng 3,67%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 9,99% và tăng 14,18%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 0,04% và tăng 8,25%. Chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu quý III năm 2026 so với quý trước như sau: thóc khô giảm 0,20%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,02%; vừng/mè tăng 1,71%; rau lấy lá tăng 2,66%; rau họ đậu tăng 1,88%; rau lấy quả tăng 3,37%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân tăng 2,38%; đậu/đỗ hạt khô các loại tăng 1,25%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 3,57%; xoài tăng 3,43%; chuối giảm 4,94%; quả na tăng 4,13%; mít giảm 5,25%; ổi tăng 3,13%; chanh thường giảm 4,02%; nhãn tăng 13,55%; vải tăng 19,76%; lợn giảm 0,64%; sản phẩm chăn nuôi gia cầm giảm 0,83%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 0,43%; cá trôi tăng 1,26%; tôm nuôi nội địa giảm 3,67%; giống thủy sản nuôi nội địa tăng 0,75%;...Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Chín năm 2026 tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,62% và tăng 5,48%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,39% và tăng 3,72%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,08% và tăng 1,37%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến , bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 1,43%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 0,88%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 0,44%; sợi tăng 0,98%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,05%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 2,18%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu tăng 1,64%; dịch vụ liên quan đến in tăng 2,83%; hóa chất cơ bản tăng 59,20%; sản phẩm từ plastic tăng 1,52%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 6,54%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 0,82%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 3,20%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 1,38%; đồ chơi, trò chơi tăng 4,65%; sản phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 1,85%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải (trừ ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác) tăng 2,16%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 3,38%; nước tự nhiên khai thác tăng 1,41%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: cà phê giảm 4,58%; đồ uống không cồn, nước khoáng giảm 1,69%; sản phẩm hàng dệt khác chưa được phân vào đâu giảm 0,76%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 5,34%; mô tơ, máy phát giảm 2,11%; pin và ắc quy giảm 10,30%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 6,08%; mô tô, xe máy giảm 2,31%; điện sản xuất giảm 0,49%; điện mặt trời giảm 0,78%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 2,70%;...Quý III năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,87% so với quý trước và tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,95% và tăng 4,94%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 0,10% và tăng 2,55%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,12% và tăng 1,74%. So với quý trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,28%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 3,24%; món ăn, thức ăn chế biến sẵn tăng 4,61%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 2,37%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 1,33%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 3,37%; sản phẩm may trang phục tăng 5,50%; giày dép tăng 4,12%; dịch vụ liên quan đến in tăng 3,05%; hóa chất cơ bản tăng 25,56%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu tăng 2,82%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,02%; sản phẩm từ plastic tăng 4,90%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 3,07%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 4,90%; các cấu kiện kim loại tăng 3,59%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 5,08%; phụ tùng và các bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 2,61%; đồ chơi, trò chơi tăng 5,11%; nước tự nhiên khai thác tăng 3,10%;… Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 5,83%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 1,59%; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh giảm 0,96%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 3,23%; pin và ắc quy giảm 11,49%; thiết bị điện khác giảm 0,61%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 9,06%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 6,68%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 1,36%; sản phẩm khác chưa phân vào đâu giảm 2,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 1,10%; điện mặt trời giảm 2,44%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 0,64%;... III.  MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hộiĐời sống dân cư: Chín tháng năm 2026, toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số; đẩy mạnh cơ cấu lại thực chất, hiệu quả hơn nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và môi trường kinh doanh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn; chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội. Nhờ vậy, đời sống nhân dân tiếp tục ổn định và từng bước được phát triển, nâng cao.Lao động việc làm: Trong tháng Chín, toàn tỉnh giải quyết việc làm 5.200 người, trong đó xuất khẩu lao động là 620 người. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 898 người; tư vấn giới thiệu việc làm cho 4.048 người. Trong quý III năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 15.500 người, trong đó xuất khẩu lao động là 1.990 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 3.580 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 12.500 người. Tính chung chín tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 46.420 người (đạt 77,3% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 5.310 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 8.110 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 29.000 người.Tỉnh tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 5.700 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 3.942 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 1.263 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 402 lượt doanh nghiệp. Tiếp nhận 695 lượt doanh nghiệp khai báo sử dụng 4.664 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 47 lượt doanh nghiệp với 12.811 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 104 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.Tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lực lượng lao động và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh: tổ chức Hội nghị kết nối, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp năm 2026; ký kết với tỉnh Lào Cai và Lai Châu bản ghi nhớ hợp tác về việc phối hợp cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; tổ chức “Ngày hội tư vấn, định hướng nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động năm 2026”. Phối hợp làm việc với Đoàn Khảo sát của Ủy ban Văn hóa - Xã hội Quốc hội việc thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động tại 56 doanh nghiệp, kiểm tra đột xuất việc thực hiện pháp luật lao động tại 06 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.Công tác Người có công: Từ đầu năm đến nay, công tác đền ơn đáp nghĩa và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, thiết thực và hiệu quả. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, toàn tỉnh đã tổ chức trao tặng quà của Đảng, Nhà nước cho 100.791 người có công với cách mạng, thân nhân và người thờ cúng liệt sĩ; hoàn thành trao 106.413 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí 32,65 tỷ đồng. Đồng thời, quà tặng của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh được trao với tổng kinh phí 104,58 tỷ đồng; các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đã trao trên 15.000 suất quà, với tổng kinh phí trên 8,4 tỷ đồng. Tổ chức các đoàn lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà người có công và thân nhân người có công tại gia đình, các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh.Thực hiện chủ trương của Trung ương và của tỉnh nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), toàn tỉnh đã trao tặng quà của Chủ tịch nước đối với 104.681 người có công, với tổng kinh phí trên 32,1 tỷ đồng; quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đối với 115.490 người có công, với tổng kinh phí 103,941 tỷ đồng. Tổ chức 03 Đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh đi dâng hương, viếng các Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và các công trình ghi công liệt sĩ từ ngày 10-19/7/2026, gồm: Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 (tỉnh Quảng Trị), Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) và các Nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tổ chức 04 Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà tại gia đình đối với người có công với cách mạng và thân nhân tại 18 xã trên địa bàn tỉnh. Thăm, tặng quà tại 07 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng trong và ngoài tỉnh với tổng kinh phí 51.000.000 đồng. Tổ chức Đoàn đại biểu người có công tỉnh Hưng Yên tham dự Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc từ ngày 22/7/2026 đến ngày 23/7/2026.Công tác giải quyết chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã giải quyết khoảng 12.000 lượt hồ sơ thủ tục hành chính, 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 97%. Đã ban hành quyết định giải quyết chế độ điều dưỡng đối với 22.080 người có công và thân nhân liệt sĩ với kinh phí trên 73,1 tỷ đồng. Thực hiện xong kế hoạch tổ chức điều dưỡng tập trung cho người có công và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm Điều dưỡng chăm sóc người có công Sầm Sơn thuộc Cục Người có công; cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, 12 dụng cụ chỉnh hình, thiết bị phục hồi chức năng cho 1.581 người có công với kinh phí trên 2,3 tỷ đồng. Tỷ lệ chi trả trợ cấp ưu đãi qua tài khoản đạt 95,56%.  Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” tại Chỉ thị số 14-TU/CT ngày 21/5/2026 và Kế hoạch lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin trong các nghĩa trang liệt sĩ. Công tác chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Thực hiện Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 06/5/2026 về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, qua rà soát có 105 trường hợp đủ điều kiện hỗ trợ và đang được thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định; lập danh sách đăng ký hỗ trợ cho con dưới 18 tuổi đang hưởng trợ cấp đối với thân nhân liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên để Tập đoàn Vingroup hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/người/tháng cho đến khi tròn 18 tuổi.Công tác giảm nghèo được triển khai gắn với các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ sinh kế, tín dụng ưu đãi, bảo hiểm y tế, giáo dục và nhà ở. Năm 2025, toàn tỉnh có 10.335 hộ nghèo, tỷ lệ 0,99%; 12.134 hộ cận nghèo, tỷ lệ 1,16%. Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi, trong chín tháng năm 2026, có 165 hộ nghèo được hỗ trợ vay vốn với kinh phí 11.875 triệu đồng; 231 hộ cận nghèo vay 17.544 triệu đồng; 117 hộ thoát nghèo vay 9.205 triệu đồng. Đồng thời, triển khai chính sách hỗ trợ thu nhập hằng tháng đối với một số thành viên không có khả năng lao động thuộc hộ nghèo; khảo sát, tư vấn, kết nối việc làm cho thành viên hộ nghèo có khả năng lao động. Thực hiện kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát năm 2026, UBND tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ 1.295 hộ, gồm 641 hộ nghèo và 654 hộ cận nghèo, tổng kinh phí 105,5 tỷ đồng; trong đó 815 hộ xây mới và 480 hộ sửa chữa nhà ở.2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịcha)  Hoạt động văn hoáTỉnh tổ chức Chương trình nghệ thuật quần chúng “Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm (Đêm Giao thừa); Chương trình nghệ thuật tại Liên hoan Ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III, năm 2026; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa hát Chèo, Trống Quân, Ca Trù, Xẩm; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể hát Ca trù tại Lễ hội Đền Trần năm 2026; Tham gia Liên hoan Tuyên truyền lưu động toàn quốc do Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện tổ chức, kết quả đạt được: 01 giải A, 02 giải B; tham gia sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026). Tổ chức Lớp tập huấn truyền dạy nghệ thuật Chèo năm 2026; hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá - Câu lạc bộ tại cơ sở. Tỉnh tham gia Hội diễn đàn, hát dân ca 3 miền tại TP. Huế, giành 02 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc và 01 Giấy khen; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026. Toàn tỉnh tuyên truyền kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhân kỷ niệm 300 năm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.Về thư viện: Tỉnh tổ chức 07 cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương viết 01 bài viết về hoạt động xe ô tô thư viện đăng trên đặc san ngành; biên soạn 14 bài giới thiệu sách chuyên đề, 24 tin bài về hoạt động thư viện đăng tải lên đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; tổ chức trao đổi Báo Xuân với 33 tỉnh, thành; tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách thu hút 204 học sinh đang học tập tại các trường tiểu học và trung học cơ sở thuộc 80 xã, phường trong toàn tỉnh; tổ chức hội nghị nói chuyện chuyên đề "Mở trang sách - nhận niềm vui" và phát động các hoạt động phục vụ thiếu nhi hè năm 2026 với sự tham gia của Tiến sĩ Giáo dục Nguyễn Thụy Anh. Phối hợp với Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên: nói chuyện chuyên đề về văn hóa đọc trong thời đại số; làm tin phóng sự tuyên truyền về hoạt động của Thư viện nhằm giúp các em có không gian và điều kiện học tập trong dịp hè. Biên soạn, phát hành Thư mục toàn văn Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn phục vụ các hoạt động tuyên truyền, tra cứu và tìm tin của bạn đọc trên nền tảng số. Tổ chức phục vụ xe ô tô Thư viện lưu động tại 25 Trường Tiểu học và THCS với 17.202 lượt học sinh tham gia, trên 34.400 lượt tài liệu được luân chuyển, tặng 862 bản sách cho học sinh. Biên soạn thư mục gồm 384 bài trích báo, tạp chí trên các báo Trung ương và địa phương có nội dung về tỉnh Hưng Yên; cấp 2.500 thẻ bạn đọc; phục vụ 20.920 lượt bạn đọc, 22.897 lượt tài liệu luân chuyển; 15.877 lượt truy cập; sưu tầm, bổ sung, xử lý 5.712 bản sách, 60 tên báo tạp chí, 918 trang tài liệu Hán Nôm tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, tổ chức phiên dịch 455 trang bản dịch Tiếng Việt; số hóa 10.927 trang tài liệu liệu phục vụ lưu trữ và nhu cầu đọc của bạn đọc trên nền tảng số. Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức luân chuyển 4.809 bản sách, tặng 1.000 bản sách và hỗ trợ giá sách cho 09 xã, phường trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ biên mục xử lý nghiệp vụ cho Thư viện Công an tỉnh 2.609; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ phần mềm Vietbiblio cho 20 thư viện trường học.Về nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh tổ chức 72 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (đạt 60% kế hoạch) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026; chương trình chào mừng thành công bầu cử Quốc hội khóa XVI, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Tổ chức khoảng trên 20 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp; phục dựng vở chèo “Bảng nhãn Lê Quý Đôn”; dàn dựng vở chèo “Bản hùng ca xứ Nhãn”.Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức khoảng trên 400 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Tổ chức chấm thi các tác phẩm tham gia cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên. Phối hợp với Trung tâm Triển lãm Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam tổ chức trưng bày, triển lãm hình ảnh, hiện vật kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn. Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026.b)  Hoạt động thể dục thể thaoThể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành thể dục thể thao Việt Nam (27/3/1946 - 27/3/2026). Tổ chức thành công các giải: Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; vô địch trẻ Vật dân tộc, Vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; Bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; Pickleball cán bộ công chức cơ quan Văn phòng sở, các sở, ban, ngành của tỉnh; Hội thao nhân dịp chào mừng 80 năm ngày truyền thống ngành TDTT Việt Nam (27/3/1946 – 27/3/2026). Tổ chức giải vô địch Cờ tướng 10 các câu lạc bộ tỉnh Hưng Yên năm 2026. Tổ chức giải Bóng chuyền hơi Cựu chiến binh tỉnh Hưng Yên năm 2026. Ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ phát động phòng, chống đuối nước cho trẻ em và lớp tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Bơi, cứu đuối năm 2026. Tổ chức thành công Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026. Tổ chức các giải thể thao trong chương trình Đại hội TDTT, gồm: Dân vũ; giải Khiêu vũ; Điền kinh; Bóng chuyền hơi nam, nữ; Karate; Võ cổ truyền; Taewondo trong chương trình Đại hội TDTT tỉnh lần thứ X năm 2026.Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tính đến nay, Tỉnh đã tổ chức tập huấn, tham dự thi đấu 48 giải thể thao quốc gia, 08 giải quốc tế, giành tổng số 346 huy chương các loại, trong đó có 79 HCV, 85 HCB và 180 HCĐ; các vận động viên của tỉnh được triệu tập đội tuyển quốc gia tham dự các giải quốc tế, gồm: Vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026 tại Bangkok - Thái Lan đạt 01 HCĐ; Vô địch Vật Bãi biển Thế giới năm 2026 tại Đà Nẵng đạt 1 HCĐ; Vô địch Rowing Châu Á năm 2026 tại Hàn Quốc đạt 2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ; vận động viên Nguyễn Thùy Duyên tham dự giải Jujitsu Vô địch Thế giới năm 2026 tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1 HCV, 1 HCB. Đội Bóng đá nhi đồng U11 tỉnh tham dự 11 vòng đấu bảng giải Bóng đá nhi đồng toàn quốc năm 2026 tranh Cúp Nestlé MILO tại thành phố Hải Phòng, kết thúc vòng đấu bảng đội đạt được 01 trận thắng, 02 trận hòa và giành quyền tham dự Vòng Chung kết toàn quốc thi đấu tại tỉnh Đắk Lắk vào tháng 7, 8; Đội Bóng đá nhi đồng của tỉnh giành quyền vào thi đấu vòng chung kết giải Bóng đá Nhi đồng U11 toàn quốc Cúp Nestlé Milo năm 2026. Tập trung triển khai Kế hoạch tập huấn các đội tuyển trong chương trình thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026.c)  Hoạt động du lịchTỉnh tổ chức thành công Liên hoan ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III năm 2026. Trong chín tháng năm 2026, tỉnh Hưng Yên đón khoảng 220.000 lượt khách: trong đó: khoảng 6.500 lượt khách quốc tế; Doanh thu ước đạt trên 135 tỷ VND. Tỉnh xây dựng và đặt 14 bảng quét QR code thông tin du lịch đặt tại các điểm trên địa bàn tỉnh; bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên: Logo huy hiệu cài áo, túi du lịch Hưng Yên, ảnh đẹp du lịch, móc treo chìa khoá; tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch Hưng Yên. Đón và hướng dẫn trên 1.000 khách về tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh: Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến (đền Mẫu, đền Trần, Văn Miếu Xích Đằng, đình chùa Hiến, chùa Chuông), quần thể di tích làng Nôm; đền Đa Hoà, Chùa Keo, khu lăng mộ và đền thờ các vị vua Trần,… Lượng khách du lịch đến biển Cồn Vành ước đạt 98.900 lượt. Tỉnh nâng cấp giao diện Cổng thông tin du lịch thông minh; cập nhật số hóa các khu, điểm du lịch, các di tích và các sản phẩm OCOP tiêu biểu trên địa bàn tỉnh; viết tin bài đăng trên Cổng du lịch; nâng cấp trang thông tin điện tử du lịch Hưng Yên: hungyentourism.com.vn; ứng dụng di động app mobile tuyên truyền du lịch Hưng Yên; xây dựng Bản đồ số du lịch tỉnh Hưng Yên.3. Giáo dục, đào tạoChín tháng năm 2026, ngành giáo dục của tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ năm học 2025 - 2026 theo đúng kế hoạch và có hiệu quả. Kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Hưng Yên xếp thứ 9/34 tỉnh, thành phố về điểm trung bình các môn thi, tăng 02 bậc so với năm 2025; có 409 điểm 10, 01 học sinh thủ khoa toàn quốc khối A01 và 01 học sinh á khoa toàn quốc khối A00.Đến ngày 31/8/2026, tỉnh Hưng Yên đã hoàn thành việc thực hiện nhiệm vụ sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp, 100% số xã, phường đã hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở giáo dục và bố trí cán bộ quản lý, nhân sự hỗ trợ giáo dục tại các cơ sở giáo dục mới thành lập, giảm 61,9% (từ 1.159 xuống 441) đầu mối cơ sở giáo dục toàn tỉnh. Đồng thời, hoàn thành hợp nhất 15 Trung tâm GDNN-GDTX thành 07 Trung tâm GDNN-GDTX. Sau sắp xếp, cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh cơ bản bảo đảm yêu cầu tinh gọn đầu mối, tập trung nguồn lực. Hiện tại, cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh có: 133 trường mầm non, 133 trường tiểu học, 111 trường THCS, 54 trường THPT, 10 Trung tâm GDNN-GDTX. Ngày 05/9/2026, cùng với các cơ sở giáo dục trên cả nước, toàn bộ các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh tổ chức lễ khai giảng năm học 2026 - 2027. Trước thềm năm học mới, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã chủ động tu bổ, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất trường, lớp học, trong đó tập trung các hạng mục công trình như phòng học, thư viện, bếp ăn, nhà vệ sinh, công trình nước sạch,... huy động các nguồn lực sửa chữa, bổ sung trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, bảo đảm khuôn viên, cảnh quan môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp, an toàn, thân thiện. Tổng số biên chế được tạm giao năm học 2026 - 2027 toàn tỉnh:42.169 biên chế, trong đó: Cán bộ quản lý: 3.165, Giáo viên: 36.899, Nhân viên:2.105. Tổng số người làm việc hiện có mặt: 38.061 người, trong đó: Cán bộ quản lý: 2.978 người, Giáo viên: 33.147 người, Nhân viên: 1.936 người.4. Hoạt động y tếTình hình bệnh truyền nhiễm: Chín tháng năm 2026, toàn tỉnh không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Cụ thể như sau:-   Bệnh tay chân miệng: Không ghi nhận chùm ca bệnh, ổ dịch nguy hiểm.Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 1.567 ca. -  Bệnh sởi: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 82 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. -   Bệnh sốt xuất huyết Dengue: Các hoạt động giám sát, xử lý ổ dịch và phòng, chống véc tơ nhằm kiểm soát nguồn lây, hạn chế sự lan rộng của dịch bệnh và giảm số ca mắc trong những tuần tiếp theo được thực hiện theo quy định. Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 287 ca.-  Ho gà: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 16 ca. -  Bệnh COVID-19: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 422 ca, toàn tỉnh duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo qui định. -   Hội chứng cúm: Chủ yếu các chủng gây bệnh là cúm A, cúm B thông thường. Không phát hiện các trường hợp mắc cúm nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch... được duy trì. -  Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh.Phòng chống HIV/AIDS: Quý III năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 17 ca nhiễm HIV mới (số người còn sống là 3.583), có 08 người nhiễm HIV/AIDS tử vong (lũy tích 2.925 người). Quản lý và điều trị ARV cho 2.307 bệnh nhân tại 11 phòng khám trên địa bàn tỉnh. Tư vấn và kê đơn mua thuốc điều trị dự phòng cho 04 người bị phơi nhiễm với HIV. Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/9/2026 là: 1.431 người; trong đó cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên điạ bàn phía Nam của tỉnh là 993 bệnh nhân, phía Bắc của tỉnh là 438.Hoạt động tiêm chủng: Cung ứng đầy đủ và kịp thời các loại vắc xin và vật tư đảm bảo an toàn, không xảy ra tai biến trong và sau tiêm chủng. Duy trì tiêm chủng thường xuyên cho các đối tượng trong toàn tỉnh từ ngày 25 đến ngày 30 hàng tháng; ước tính đạt tỷ lệ theo kế hoạch đề ra.Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ngành chuyên môn tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về an toàn thực phẩm, tập trung nhiều trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ và lễ hội xuân 2026; Tháng hành động vì an toàn thực phẩm (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) và dịp Tết Trung thu năm 2026. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ nghi ngộ độc thực phẩm.5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổTrong tháng Chín (từ ngày 24/8/2026 - 23/9/2026), toàn tỉnh phát hiện 31 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 31 vụ với số tiền xử phạt 195 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 15 vụ, tương ứng tăng 93,75%; số vụ đã xử lý tăng 15 vụ, tăng 93,75%; số tiền xử phạt giảm 617 triệu đồng, giảm 34,97%. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 22 vụ, tăng 244,44%; số vụ đã xử lý tăng 25 vụ, tăng 416,67%; số tiền xử phạt giảm 105 triệu đồng, giảm 34,97%. Lũy kế chín tháng năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 115 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 127 vụ với số tiền xử phạt 4.886 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 22 vụ, tương ứng giảm 16,06%; số vụ đã xử lý tăng 36 vụ, tăng 39,56%; số tiền xử phạt giảm 482 triệu đồng, giảm 8,98%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là đổ rác thải, xả thải không đúng quy định, với mức xử phạt hành chính tương đối thấp.Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/8/2026 đến ngày 14/9/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 01 vụ cháy (xã Như Quỳnh); không xảy ra vụ nổ; khiến 01 người chết; không có người bị thương; không có giá trị thiệt hại về tài sản. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy, nổ giảm 01 vụ; số người chết tăng 01 người; số người bị thương giảm 01 người. Chín tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 33 vụ cháy, nổ; làm chết 02 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản 4.221,5 triệu đồng.6. An toàn giao thôngTừ ngày 15/8/2026 đến ngày 14/9/2026, toàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 20 người, làm bị thương 15 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 18 vụ, giảm 37,50%; số người chết giảm 03 người, giảm 13,04%; số người bị thương giảm 24 người, giảm 61,54%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 21 vụ, giảm 41,18%; số người chết giảm 11 người, giảm 35,48%; số người bị thương giảm 24 người, giảm 61,54%. Lũy kế chín tháng năm 2026 (từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/9/2026), toàn tỉnh xảy ra 341 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 338 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ), làm chết 230 người (đường bộ 229 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 184 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 85 vụ, giảm 19,95%; số người chết giảm 20 người, giảm 8,0%; số người bị thương giảm 91 người, giảm 33,09%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng. Đánh giá chung: Chín tháng năm 2026, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, hiệu quả và kịp thời, trong đó, xây dựng chi tiết kịch bản điều hành và triển khai thực hiện quyết liệt, kịp thời các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhờ đó kinh tế của tỉnh đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 2 con số và vượt kịch bản đề ra. Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của kinh tế duy trì đà tăng tích cực và hầu hết đạt và vượt kịch bản đề ra. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động, nhất là dịp lễ, Tết được thực hiện đúng, đủ, kịp thời; chất lượng giáo dục nâng cao và y tế bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định.IV.  KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN1. Khó khăn, hạn chếTăng trưởng ngành xây dựng chưa đạt kịch bản đề ra. Thực hiện một số nhiệm vụ đã có chỉ đạo, tiến độ triển khai một số dự án đầu tư công và công tác tác giải phóng mặt bằng ở một số xã, phường vẫn còn chậm; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tạm ngừng kinh doanh, giải thể) còn khá cao.Việc xử lý đối với một số dự án tồn tại được chỉ đạo triển khai quyết liệt nhưng chưa dứt điểm. Việc xử lý tài sản công, trụ sở dôi dư sau sắp xếp còn gặp khó khăn do vướng mắc về quy hoạch, chuyển đổi công năng và thủ tục pháp lý. Công tác quản lý đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… ở một số địa phương còn hạn chế, vi phạm vẫn còn tiếp diễn và chưa xử lý dứt điểm.Cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, chuyển đổi số tại một số cơ quan, đơn vị chưa có sự chuyển biến rõ nét. Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở một số địa bàn còn thấp. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Quá trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế. 2. Nguyên nhânBên cạnh các nguyên nhân khách quan (tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là xung đột quân sự tại Trung Đông ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; thị trường tài chính, bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; giá nguyên liệu đầu vào (xăng, dầu…) tăng cao; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn bất cập, thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung,...), một số nguyên nhân chủ quan vẫn chưa được khắc phục triệt để, cụ thể: -  Việc lãnh đạo, chỉ đạo của một số cơ quan, đơn vị thiếu quyết liệt, sâu sát; chưa linh hoạt, sáng tạo trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tính chủ động, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhất là những vấn đề khó, phức tạp còn hạn chế. Công tác dự báo, nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ của một số đơn vị chưa thực sự chủ động, kịp thời tham mưu giải quyết các vấn đề phát sinh. -  Một số chủ đầu tư còn thiếu chủ động, chưa linh hoạt trong triển khai các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Một số dự án còn khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư; nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công; năng lực của một số nhà thầu còn hạn chế. -  Ý thức chấp hành quy định về đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… của một số người dân chưa cao. Nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính đôi lúc chưa thống nhất. Năng lực, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu.V.  ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM QUÝ IV NĂM 2026Nắm bắt, tháo gỡ kịp thời các khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, sớm đưa các dự án vào khai thác, tạo năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp; đẩy nhanh tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư, triển khai các dự án công nghiệp, nhất là dự án có quy mô lớn, quan trọng của tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước và Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của phía Bắc giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nhất là năng lượng sạch; nghiên cứu xây dựng Đề án xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm năng lượng vùng đồng bằng sông Hồng. Đẩy nhanh hoàn thiện Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên. Rà soát xây dựng phương án điều chỉnh ranh giới, điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế, Kế hoạch phát triển khu kinh tế 5 năm giai đoạn 2026-2030, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế giai đoạn 2026-2030. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, bảo đảm tính đồng bộ, chất lượng và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy nhanh tiến độ lập, phủ kín quy hoạch chung, quy hoạch phân khu các đô thị, quy hoạch chung đô thị, nông thôn, làm cơ sở để thu hút, mời gọi đầu tư các dự án theo quy định. Tổ chức lập Đề án xây dựng tỉnh trở thành đô thị loại I đến năm 2035 và thành phố trực thuộc Trung ương, thông minh, sinh thái đến năm 2045 và Kế hoạch phát triển các khu đô thị trung tâm của tỉnh. Theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án, công trình xây dựng trên địa bàn; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác quy hoạch, đầu tư, quản lý xây dựng, vật liệu xây dựng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng, chất lượng công trình và trật tự xây dựng.Rà soát, lập danh mục chi tiết dự án đầu tư công theo từng địa phương, từng chủ đầu tư, đặc biệt là các dự án, công trình trọng điểm; lập đường găng tiến độ giải ngân cụ thể, khả thi, sát thực tiễn, phấn đấu đạt và vượt mức giải ngân trung bình của cả nước, tạo bứt phá rõ nét về tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ngay trong Quý II/2026. Nghiên cứu triển khai phương án chấm điểm KPI việc thực hiện giải ngân vốn đầu tư công của các cơ quan, đơn vị, địa phương làm cơ sở để công khai, đánh giá kết quả giải ngân vốn đầu tư công của các đơn vị. Tiếp tục hoàn thiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 sau khi Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn cho tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, kiên quyết không để chậm tiến độ triển khai dự án đầu tư công do thiếu mặt bằng; đẩy nhanh tiến độ lập chủ trương đầu tư các dự án kết nối, tiến độ thi công các công trình, dự án, nhất là hạ tầng giao thông trọng điểm của tỉnh, có tính chất liên kết, kết nối vùng và hạ tầng kinh tế - xã hội khác.Đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác khuyến công, khuyến thương và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, kết nối cung cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối và tiêu dùng; phát triển mạnh thương mại điện tử. Thực hiện hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tiếp tục thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Tận dụng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), phát triển các thị trường xuất khẩu mới, mở rộng các thị trường xuất khẩu truyền thống.Tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực, từng bước xây dựng thương hiệu riêng của tỉnh đối với các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế như cây ăn quả, lúa chất lượng cao, thủy, hải sản. Xây dựng Đề án phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và Dự án cải tạo, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm cây ăn quả đặc sản, chủ lực tỉnh Hưng Yên theo hướng bền vững phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030. Thực hiện đạt kết quả cao Kế hoạch sản xuất trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị kinh tế cao; thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Hoàn thành Đề án phát triển nuôi trồng thủy hải sản đặc sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Duy trì tốt công tác quản lý, phát triển và bảo vệ rừng.Tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh. Chủ động hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương trong công tác quản lý đất đai, công tác giải phóng mặt bằng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng, hành lang giao thông, thủy lợi, đê điều; kiên quyết ngăn chặn, xử lý tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích.Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác thu ngân sách; rà soát đầy đủ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá và gian lận thuế bám sát các Bộ ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu, nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích nguồn thu; quản lý hiệu quả các nguồn thu phát sinh từ các giao dịch thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh qua mạng. Điều hành, quản lý chi ngân sách trong phạm vi dự toán được giao. Tăng cường quản lý chặt chẽ chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi đầu tư công, bảo đảm phân bổ và sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng quy định, tránh dàn trải, thất thoát, lãng phí. Nghiên cứu tham mưu cấp có thẩm quyền đảm bảo bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.Tăng cường thu hút đầu tư; tập trung xúc tiến, thu hút các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có quy mô lớn, công nghệ cao, bảo vệ môi trường; cam kết đồng hành với nhà đầu tư, lắng nghe và trân trọng ý kiến đóng góp, tạo sự gắn kết và tin tưởng; kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư, cắt giảm thủ tục hành chính để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Tập trung đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân sách, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, phát triển đô thị và kinh tế đô thị; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.Đẩy mạnh triển khai chuyển đổi số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin tại cơ quan, đơn vị, đặc biệt là Trung tâm phục vụ Hành chính công các cấp. Hỗ trợ tích cực người dân, doanh nghiệp chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Ban hành Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn đến năm 2030, trong đó, cụ thể hóa theo từng năm để các cơ quan, đơn vị, địa phương bám sát, triển khai thực hiện.Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, bảo đảm kịp thời, chính xác, đa dạng, phong phú và hấp dẫn; thực hiện đúng quy định về xử lý tin giả theo quy định. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch tiêu biểu. Phê duyệt Đề án phát huy giá trị truyền thống văn hóa, con người trở thành động lực phát triển quan trọng của tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quan tâm, ưu tiên nguồn lực bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa, di tích lịch sử.Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đảm bảo đủ thuốc, vật tư y tế chăm sóc và phục vụ Nhân dân. Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh (sốt xuất huyết, tay chân miệng...); đẩy mạnh phòng chống tác hại rượu bia, bệnh không lây nhiễm; triển khai các chương trình về dinh dưỡng, y tế trường học…Chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức tổng kết năm học 2025-2026, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học mới 2026-2027; hướng dẫn và chuẩn bị công tác tuyển sinh vào các cơ sở giáo dục mầm non, lớp 1 và lớp 6 năm học 2026-2027; quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm ở các cấp học. Tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; bảo đảm công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục mầm non. Tổ chức triển khai Đề án phát triển các trường THPT chuyên thuộc tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đẩy mạnh phát triển giáo dục nghề nghiệp, hợp tác doanh nghiệp trong công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và giải quyết việc làm.Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút, giữ chân lao động; triển khai các kế hoạch, chương trình về an toàn vệ sinh lao động, lao động - việc làm; tổ chức tập huấn, kiểm tra chuyên đề tại doanh nghiệp và hướng dẫn cơ sở, doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật về lao động - việc làm. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và quan tâm, chăm lo người nghèo, các đối tượng yếu thế. Tiếp tục phối hợp triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Tập trung triển khai quyết liệt, bài bản “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Rà soát các hộ nghèo, phân nhóm, đề xuất cơ chế chính sách và xây dựng kế hoạch giảm nghèo năm 2026 hướng tới mục tiêu đến hết năm 2026 tỉnh không còn hộ nghèo. Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; kiểm soát và giảm số lượng trẻ em bị xâm hại, tai nạn, thương tích, bạo lực học đường, đuối nước, tai nạn giao thông...;Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự; đảm bảo phù hợp với năng lực thực tiễn của chính quyền cơ sở, giúp cơ sở chủ động trong công tác cán bộ. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Rà soát tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm theo quy định. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, công vụ.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2026
  •   27/10/2026 09:53

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sảna) Nông nghiệpChiều tối ngày 21/8/2026, áp thấp nhiệt đới trên khu vực Bắc Vịnh Bắc Bộ đã mạnh lên thành bão - Cơn bão số 4 (bão Narra). Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 kết hợp mưa lớn kéo dài, tại nhiều xã, phường trên địa bàn tỉnh đã xảy ra hiện tượng ngập lụt. Các công ty Khai thác công trình thủy lợi và các địa phương đã khẩn trương triển khai mở cống tiêu và vận hành 144 trạm bơm phòng úng. Công tác tiêu tốt nên diện tích lúa ngập úng đã giảm, không gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến năng suất lúa.Trồng trọtCây hằng nămVụ mùa năm nay, toàn tỉnh hoàn thành gieo cấy 96.000 ha lúa mùa, đạt 100% kế hoạch; trong đó lúa chất lượng cao chiếm trên 50% (giống Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1...). Diện tích gieo sạ đạt 24.500 ha (25,5% diện tích gieo cấy), cấy máy đạt 35.000 ha (36,5% diện tích gieo cấy). Hiện nay, diện tích lúa trà sớm đã trỗ bông được khoảng 4.500 ha; lúa đại trà và trà muộn ở giai đoạn phân hóa đòng đến làm đòng. Thời nắng nóng sau đó mưa to dài ngày do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 đã tạo điều kiện cho sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn phát sinh gây hại. Ngành chức năng khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng, theo dõi diễn biến sâu bệnh và chủ động phòng trừ kịp thời, bảo vệ năng suất lúa.Song song với việc chăm sóc lúa mùa, tại thời điểm này, nhà nông tiếp tục gieo trồng và thu hoạch các loại cây rau màu vụ mùa. Tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm khác vụ mùa đến ngày 20/8/2026 như sau: cây ngô 2.891 ha; khoai lang 339 ha; lạc 391 ha; đậu tương 449 ha; rau các loại 11.748 ha. Các địa phương đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ gieo trồng các diện tích còn lại, bảo đảm hoàn thành trong khung thời vụ.Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Trà nhãn chín sớm cơ bản đã thu hoạch xong, các nhà vườn tập trung cắt tỉa, phục hồi cây; trà nhãn chính vụ đang được tập trung thu hoạch. Năm nay, sản lượng nhãn dự kiến giảm khá sâu so với năm trước do tỷ lệ đậu quả thấp. Đối với cây có múi (cam, bưởi) đang trong giai đoạn phát triển quả, các nhà vườn cần tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh gây hại cho cây.Từ ngày 7/8 - 9/8/2026, tại Công viên Nam Hòa, phường Phố Hiến đã diễn ra Lễ hội và xúc tiến thương mại Nhãn lồng Hưng Yên năm 2026. Chương trình có tổ chức lễ công bố và trao Chứng nhận của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc đưa “Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên” của các địa phương vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.Chăn nuôiHoạt động chăn nuôi cơ bản ổn định, song cũng gặp khó khăn do giá thức ăn chăn nuôi, con giống và vật tư đầu vào duy trì ở mức cao. Trong tháng, dịch tả lợn châu Phi phát sinh tại và cúm gia cầm H5N1 tại một số hộ trong tỉnh nhưng đã được khoanh vùng, tiêu hủy kịp thời, không để phát sinh ổ dịch lớn.Đàn trâu, bò có xu hướng giảm do quá trình phát triển các khu, cụm công nghiệp và hạ tầng giao thông làm thu hẹp diện tích chăn thả. Ước tính cuối tháng Tám, đàn trâu đạt 11.022 con, giảm 6,05% (giảm 710 con) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 73.750 con, giảm 9,55% (giảm 7.791 con); đàn lợn 1.045.237 con (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ), tăng 1,5% (tăng 15.402 con); đàn gia cầm (chỉ bao gồm gà, vịt, ngan) 23.105 nghìn con, tăng 0,10% (tăng 22 nghìn con), trong đó, đàn gà đạt 17.130 nghìn con, tăng 0,16% (tăng 28 nghìn con). Đàn gia cầm chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm.b) Lâm nghiệpTrong tháng qua, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng hay phá rừng.Cây trồng phân tán trong tháng Tám ước đạt 96,5 nghìn cây, giảm 0,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế tám tháng năm 2026, số lượng cây phân tán toàn tỉnh đạt 1.332 nghìn cây, giảm 1,14% so với cùng kỳ, chủ yếu là cây lấy gỗ (bạch đàn, xoan) và cây bóng mát (keo, hoa sữa, sấu). Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Tám ước đạt 311 m3, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh khai thác 3.638 m3 gỗ , tăng 0,28% so với cùng kỳ năm trước.c) Sản xuất thủy sảnTrước diễn biến bão số 4 (bão Narra) di chuyển chậm, hoàn lưu gây mưa lớn kéo dài, tính đến 17 giờ ngày 23/8/2026, toàn tỉnh có 1.239 tàu với 3.264 lao động làm ăn trên biển; 1.237 phương tiện với 3.253 lao động đã neo đậu tại bến, còn 2 phương tiện với 11 lao động hoạt động ngoài tỉnh. Tại các khu vực nuôi trồng thủy sản, các địa phương tiếp tục thực hiện phương án đưa người lao động vào nơi an toàn.Khai thác thủy sản biển: Sản lượng khai thác biển tháng Tám ước đạt 8.162 tấn, tăng 5,35% (tăng 415 tấn); lũy kế tám tháng ước đạt 73.094 tấn, tăng 3,57% (tăng 2.520 tấn). Ngành chức năng quản lý tốt hoạt động tàu cá: 731 tàu đã đăng ký trên dữ liệu VnFishbase; 100% tàu từ 15m trở lên (126 tàu) đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS), cấp phép khai thác và chứng nhận an toàn thực phẩm.Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng tháng Tám ước đạt 22.911 tấn, tăng 5,43% (tăng 1.189 tấn). Trong đó, sản lượng cá 8.827 tấn, tăng 5,4% (tăng 452 tấn); tôm 856 tấn, tăng 5,1% (tăng 42 tấn); thủy sản khác 13.228 tấn, tăng 5,47% (tăng 685 tấn). Lũy kế tám tháng năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 160.045 tấn, tăng 4,15% (tăng 6.383 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá 67.964 tấn, tăng 4,09% (tăng 2.669 tấn); tôm 3.106 tấn, tăng 4,41% (tăng 131 tấn); thủy sản khác 88.975 tấn, tăng 4,2% (tăng 3.583 tấn).2. Sản xuất công nghiệpa) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Tám và tám tháng năm 2026 như sau:So với tháng trước, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 0,83%, trong đó: khai khoáng tăng 0,08%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,38%; sản xuất và phân phối điện giảm 4,17%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,02%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 82,98%; mạch in khác tăng 24,90%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 16,01%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 13,27%; tôm đông lạnh tăng 12,24%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 7,92%; khí tự nhiên dạng khí tăng 7,36%; thức ăn cho gia súc tăng 5,15%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: nitơrat Amoni giảm 78,95%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 62,98%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 11,87%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 6,64%; bao và túi bằng plastic các loại giảm 6,52%; điện sản xuất giảm 5,59%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 5,47%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 4,99%;...So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám tăng 18,41%, trong đó: khai khoáng giảm 9,57%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,13%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,41%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,09%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 258,60%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 181,69%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 77,60%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 76,53%; mạch điện tử tích hợp tăng 51,21%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 40,48%; khí tự nhiên dạng khí tăng 32,08%; mạch in khác tăng 23,49%; quần áo các loại tăng 21,90%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 19,80%;....Chỉ số sản xuất công nghiệpTháng Tám và tám tháng năm 2026 (%) T8.20268T.2026T8.20258T.2025Chung toàn ngành CNKhai khoáng118,4190,43115,78100,55Công nghiệp chế biến, chế tạo119,13116,45SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng109,41108,57Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải121,09116,86Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: nitơrat Amoni giảm 79,06%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 32,68%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 16,72%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,70%; giày dép khác chưa được phân vào đâu giảm 10,45%; tôm đông lạnh giảm 8,33%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 7,22%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 4,11%; nước khoáng không có ga giảm 1,33%;......Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 173,21%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 10,57%; CN Công ty Cổ phần Daikin tăng 13,7%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 16,67%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 96,75%; Công ty Cổ phần Thiết bị và Cầu trục AVC tăng 25,0%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 81,18%; Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 17,26%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 34,43%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 26,47%; Công ty Cổ phần May Hưng Việt tăng 49,27%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 24,19%; Công ty TNHH May Đại Hướng tăng 47,77%; CN Công ty May 10 tăng 16,67%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 16,55%; Công ty TNHH TAV tăng 17,88%; Công ty TNHH MXP tăng 51,49%; Công ty TNHH PS Vina tăng 11,7%; Công ty TNHH IVORY Việt Nam tăng 20,0%; CN Công ty TNHH Tân Đệ tăng 175,2 %; Công ty Cổ phần Đô Lương tăng 30,0%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 10,87%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 181,69%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 40,48%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 18,09%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 10,16%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 59,46%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 19,21%; Công ty TNHH Điện lạnh Hòa Phát tăng 30,7%; Công ty Cổ phần Kopac tăng 37,47%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 32,65%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 23,06%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 3,59%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 27,4%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 29,03%; Công ty TNHH HSIN YUE HSING tăng 47,48%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 7,63%; Công ty Cổ phần Thép Việt Ý tăng 12,08%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 67,22%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 27,92%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 5,65%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 14,97%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 19,68%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 3,92%; Chi nhánh Công ty TNHH Lixil Việt Nam tăng 5,51%; Công ty TNHH Việt Đức tăng 6,77%; Công ty TNHH Took Việt Nam tăng 121,82%; Công ty TNHH Bê tông và Xây lắp - Petrolimex tăng 8,85%; Nhà máy Gạch men Mikađô tăng 12,83%; Công ty Cổ phần Gạch ốp lát Thái Bình tăng 256,76%; Chi nhánh Công ty Cổ phần VIGLACERA Thái Bình tăng 9,29%;...Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Tám giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina giảm 15,59%; Công ty TNHH Thương mại Mỹ Việt giảm 14,89%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát giảm 2,07%; Công ty Cổ phần Công nghiệp Mytek giảm 10,34%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam giảm 31,03%; Công ty TNHH Kết cấu thép cơ khí Hưng Yên giảm 50,87%; Công ty TNHH Giầy Ngọc Tề giảm 16,28%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 0,13%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 21,25%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 78,68%; Công ty TNHH GOEN Việt Nam giảm 6,67%;...Tính chung tám tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 0,55%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 7,55%; khai khoáng khác tăng 0,55%.Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,45%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 91,48%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 90,49%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 40,56%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,62%; sản xuất trang phục tăng 28,50%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 26,61%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 26,34%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,85%; sản xuất thiết bị điện tăng 17,66%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,78%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 21,91%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,89%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 2,96%; dệt tăng 3,28%;…Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tám tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 132,79%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 68,68%; mạch điện tử tích hợp tăng 47,62%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 42,52%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 27,56%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 19,70%; quần áo các loại tăng 19,45%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 18,01%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 17,10%; mạch in khác tăng 14,54%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 14,40%; điện thương phẩm tăng 14,20%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 29,84%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,72%; Nitơrat Amoni giảm 8,55%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 1,68%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 1,24%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 0,07%;...Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành điện tử, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng tăng công suất để đáp ứng các đơn hàng quý III và cuối năm, kéo theo sản lượng điện tiêu thụ của khu vực công nghiệp tăng. Đồng thời, trên địa bàn Hưng Yên, các khu công nghiệp như: Thăng Long II, Phố Nối A, Phố Nối B, Yên Mỹ II,... tiếp tục mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp đi vào hoạt động hoặc tăng quy mô sản xuất, làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện. Việc bảo đảm nguồn điện sản xuất và phân phối điện là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và khu vực miền Bắc là nhiệm vụ quan trọng của ngành điện tỉnh Hưng Yên. Tám tháng năm 2026, ước chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng 8,57% so với cùng kỳ; sản lượng điện sản xuất ước đạt 7.994 triệu Kwh, tăng 7,65%; sản lượng điện thương phẩm 8.072 triệu Kwh, tăng 14,20%.Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tám tháng năm 2026 tăng 16,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,13%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,71%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 17,96%.b) Chỉ số sử dụng lao độngTình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Tám toàn ngành tăng 5,21% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,90%, cộng dồn tám tháng tăng 4,22% so với cùng kỳ. Mức tăng này cho thấy nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vẫn ở mức cao, nhất là tại các doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, mở rộng quy mô sản xuất hoặc đưa thêm dây chuyền vào hoạt động. Lao động tăng chủ yếu tập trung ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện, cơ khí chế tạo, sản phẩm kim loại, thực phẩm và đồ uống, may mặc... Đây là những ngành có nhiều đơn hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp như Thăng Long II, Phố Nối A, Phố Nối B, Yên Mỹ II, Minh Đức tiếp tục tuyển dụng lao động để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong quý III và chuẩn bị cho mùa sản xuất cuối năm. Việc các dự án đầu tư mới đi vào hoạt động, cùng với quá trình mở rộng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất của một số doanh nghiệp FDI cũng góp phần làm gia tăng nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm hoặc tăng chậm do sản lượng sản xuất chưa phục hồi hoàn toàn, đơn hàng giảm hoặc doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa các công đoạn sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí nhân công. Một số doanh nghiệp cũng có xu hướng sử dụng lao động có trình độ, tay nghề cao thay thế lao động phổ thông, dẫn đến số lượng lao động giảm nhưng hiệu quả sản xuất vẫn được duy trì.Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 40,97%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,67%; sản xuất đồ uống tăng 19,14%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 18,61%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 18,30%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,72%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,66%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,12%; dệt giảm 4,06%;...3. Hoạt động đầu tưa) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lýTháng Tám, trên các công trường trọng điểm của tỉnh, các nhà thầu đang tăng tốc thi công. Các công trình trọng điểm của tỉnh đang được đẩy mạnh thi công như: Trên tuyến cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (CT.08), 14 gói thầu xây lắp gồm 11 gói đường và 3 gói cầu lớn đang được triển khai; Dự án tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng cũng đang bước vào giai đoạn cần tăng tốc; Dự án Khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái, sân golf Khoái Châu đến nay đã hoàn thành trên 90% công tác giải phóng mặt bằng, nhà đầu tư đã tổ chức thi công những hạng mục đầu tiên của dự án;... Tuy nhiên, để bảo đảm tiến độ và giải ngân kế hoạch vốn năm 2026, những điểm nghẽn về mặt bằng, tái định cư và nguồn vật liệu cần tiếp tục được tháo gỡ.Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Tám toàn tỉnh ước đạt 4.076 tỷ đồng, tăng 9,84%, tương ứng tăng 365 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.115 tỷ đồng, tăng 44,42%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 961 tỷ đồng, giảm 38,16%. Tính chung tám tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 24.098 tỷ đồng, tăng 15,88%, tương ứng tăng 3.302 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 49,58% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 16.758 tỷ đồng, tăng 43,56%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 7.340 tỷ đồng, giảm 19,54%.b) Hoạt động đầu tư nước ngoàiTính đến ngày 26/8/2026, toàn tỉnh có 1.006 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 20.232,79 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/8/2026, có 40 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 645,67 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 204 dự án, vốn đăng ký là 8.193,06 triệu USD, chiếm 40,49% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 389 dự án, vốn đăng ký 4.640,66 triệu USD, chiếm 22,94% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 217 dự án, vốn đăng ký 2.333,23 triệu USD, chiếm 11,53% tổng vốn đăng ký.c) Phát triển doanh nghiệpTính từ ngày 22/7/2026 đến ngày 21/8/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn tỉnh là 365 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.643 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 2.715 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 74 doanh nghiệp, sử dụng 1.424 lao động, vốn đăng ký 859 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 130 doanh nghiệp, sử dụng 524 lao động, vốn đăng ký 608 tỷ đồng; vận tải kho bãi 32 doanh nghiệp, sử dụng 116 lao động, vốn đăng ký 115 tỷ đồng; xây dựng 41 doanh nghiệp, sử dụng 159 lao động, vốn đăng ký 208 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 9 doanh nghiệp, sử dụng 38 lao động, vốn đăng ký 677 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 19 doanh nghiệp, sử dụng 61 lao động, vốn đăng ký 39 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, sử dụng 94 lao động, vốn đăng ký 41 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 11 doanh nghiệp, sử dụng 40 lao động, vốn đăng ký 21 tỷ đồng;...Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/8/2026, toàn tỉnh có 3.775 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 28.572 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 41.535 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.539 doanh nghiệp, sử dụng 5.965 lao động, vốn đăng ký đạt 6.115 tỷ đồng (chiếm 14,72% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 735 doanh nghiệp, sử dụng 15.366 lao động, vốn đăng ký đạt 8.056 tỷ đồng (chiếm 19,40%); xây dựng 356 doanh nghiệp, sử dụng 1.616 lao động, vốn đăng ký 2.094 tỷ đồng (chiếm 5,04%); hoạt động vận tải, kho bãi 298 doanh nghiệp, sử dụng 1.111 lao động, vốn đăng ký 1.362 tỷ đồng (chiếm 3,28%); giáo dục và đào tạo 77 doanh nghiệp, sử dụng 279 lao động, vốn đăng ký 129 tỷ đồng (chiếm 0,31%); kinh doanh bất động sản 137 doanh nghiệp, sử dụng 1.294 lao động, vốn đăng ký 19.872 tỷ đồng (chiếm 47,84%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 178 doanh nghiệp, sử dụng 797 lao động, vốn đăng ký 441 tỷ đồng (chiếm 1,06%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 131 doanh nghiệp, sử dụng 583 lao động, vốn đăng ký 532 tỷ đồng (chiếm 1,28%);...Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Tám (tính từ ngày 22/7/2026 đến ngày 21/8/2026) toàn tỉnh là 53 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/8/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 610 doanh nghiệp.Cũng từ ngày 22/7/2026 đến ngày 21/8/2026, số doanh nghiệp giải thể là 170 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 82 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/8/2026, toàn tỉnh có 744 doanh nghiệp giải thể và 1.540 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 149 doanh nghiệp giải thể và 374 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,03% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,29% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 269 doanh nghiệp giải thể và 528 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,16% và 34,29%; kinh doanh bất động sản có 45 doanh nghiệp giải thể và 35 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,05% và 2,27%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 32 doanh nghiệp giải thể và 66 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,30% và 4,29%; giáo dục và đào tạo có 72 doanh nghiệp giải thể và 33 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 9,68% và 2,14%;...4. Thương mại, dịch vụTổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám ước đạt 25.010 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 19,62% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn tám tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 197.106 tỷ đồng, tăng 17,57% so cùng kỳ năm trước.Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hộiTháng Tám và tám tháng năm 2026                                                                     Tháng 8.20268T.2026T8.2026T8.20258T.20268T.2025(Tỷ đồng)(Tỷ đồng)(%)(%)Tổng số25.010197.106119,62118,75Thương nghiệp12.28498.389123,52118,75Lưu trú, ăn uống1.22410.024123,52115,82Du lịch1682102,22112,41Dịch vụ11.48688.611115,37116,48Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau:Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Tám ước đạt 12.284 tỷ đồng, chiếm 48,51% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 23,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 24,29%; hàng may mặc tăng 20,05%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 25,08%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 112,94%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 33,09%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 66,37%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 14,13%; xăng, dầu các loại tăng 22,18%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 84,25%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 60,88%; duy nhất chỉ có nhóm hàng hóa khác giảm 6,71%.Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 98.389 tỷ đồng, tăng 18,75% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 23,56%; hàng may mặc tăng 18,77%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 13,11%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 65,22%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,34%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 34,40%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 4,00%; xăng dầu các loại tăng 21,26%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 45,89%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 37,00%; hàng hóa khác tăng 8,12%.Dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng Tám ước đạt 1.224 tỷ đồng, giảm 3,02% so với tháng trước và tăng 24,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 37 tỷ đồng, giảm 1,64% so với tháng trước và tăng 10,72% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.187 tỷ đồng, giảm 3,06% so với tháng trước và tăng 23,96% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm so với tháng trước đã phần nào phản ánh sự hạ nhiệt của nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng khi mùa cao điểm hè dần kết thúc. Tuy nhiên, mức tăng so với cùng kỳ lại cho thấy nhu cầu của dịch vụ lưu trú, ăn uống đang tăng lên. Một số doanh nghiệp chủ lực đạt kết quả kinh doanh tích cực, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của toàn ngành, như: Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Quang Minh; Công ty Cổ phần Lam Sơn Global;...Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 10.024 tỷ đồng, tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 291 tỷ đồng, tăng 13,75%; dịch vụ ăn uống 9.733 tỷ đồng, tăng 15,88%.Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Tám ước đạt 16 tỷ đồng, tăng 8,96% so với tháng trước và tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 82 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Tám ước đạt 11.486 tỷ đồng, tăng 8,55% so với tháng trước và tăng 15,37% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản 10.110 tỷ đồng, tăng 8,46% so với tháng trước và tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 507 tỷ đồng, tăng 3,17% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 210 tỷ đồng, tăng 57,72% so với tháng trước và tăng 0,66% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 255 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 15,59% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 316 tỷ đồng, tăng 5,80% so với tháng trước và tăng 111,54% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 88.611 tỷ đồng, tăng 16,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,30% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 17,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,61%; giáo dục và đào tạo tăng 11,22%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,05%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 15,06%; dịch vụ khác tăng 11,13%. Thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp. Một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường.5. Chỉ số giáa) Chỉ số giá tiêu dùngChỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2026 tăng 0,16% so với tháng trước, chủ yếu do chỉ số giá nhóm giao thông, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI vẫn duy trì mức tăng 4,63%; bình quân 8 tháng năm 2026 CPI tăng 4,32% so với cùng kỳ.So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 0,16%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm hàng có chỉ số giá tăng và 06 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: nhóm hàng may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,13%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 4,38%; nhóm giáo dục tăng 0,01%. Ngược lại, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,25%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,58%; thông tin và truyền thông giảm 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%.Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹtháng Tám năm 2026                                                                      T8.2026T7.2026T8.2026T8.20258T.20268T.2025(%)(%)(%)Chỉ số giá tiêu dùng chung   100,16   104,63   104,32Chỉ số vàng   96,91   116,76   150,54Chỉ số đô la Mỹ    99,63   99,12   101,73Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,25%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,69%, do nguồn cung lúa, gạo tăng sau thu hoạch, trong khi nhu cầu tiêu dùng ổn định, đồng thời chi phí vận chuyển không tăng góp phần làm giá nhóm lương thực giảm trong tháng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,21% do: Nhóm thịt gia súc giảm 0,80% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 0,80%; thịt bò giảm 0,81%; nội tạng động vật giảm 0,56%; thịt chế biển giảm 1,26%; thịt gà giảm 0,06%; mỡ nội tạng giảm 1,40%) do nguồn cung lợn hơi tăng khi nhiều đàn lợn đến kỳ xuất chuồng sau thời gian tái đàn, trong khi nhu cầu tiêu dùng không có sự gia tăng tương ứng. Chỉ số giá nhóm thủy sản tươi sống giảm 0,37%, do thời tiết và điều kiện khai thác thuận lới, sản lượng đánh bắt các loại như cá, tôm, cua,... tăng, sản lượng nuôi trồng bước vào thời kỳ thu hoạch, nguồn cung dồi dào, nên giá bán giảm nhẹ. Chỉ số giá quả tươi chế biến giảm 1,59% chủ yếu do nguồn cung một số loại trái cây tăng khi bước vào vụ thu hoạch, sản lượng đưa ra thị trường dồi dào. Trong khi đó nhu cầu thị trường không tăng trương ứng, khiến giá một số loại mặt hàng trái cây giảm, bên cạnh đó hoạt động lưu thông, vận chuyển thuận lợi cũng góp phần làm giảm chỉ số giá nhóm này.Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,13%, tăng ở một số mặt hàng: quần áo trẻ em tăng 0,35%; các loại khăn mặt, mũ nón tăng 0,71%; các loại giày dép tăng 0,09%; giá sửa chữa, giày dép 0,94%. Chủ yếu do nhu cầu mua sắm quần áo, đồng phục, giày dép phục vụ năm học mới tăng nhẹ, bên cạnh đó, giá một số nguyên phụ liệu và chi phí kinh doanh có xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, do nguồn cung hàng hóa dồi dào và các chương trình khuyến mại tại các cơ sở kinh doanh đã góp phần hạn chế mức tăng giá của nhóm hàng này.Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,58%, chủ yếu do giá điện, nước sinh hoạt và một số loại vật liệu xây dựng giảm. Trong đó, chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 3,57%; chỉ số giá nước sinh hoạt giảm 0,47% do thời tiết chuyển mùa, không quá oi bức, mưa nhiều, làm giảm nhu cầu sử dụng điện, nước cho cả sản xuất và sinh hoạt; chỉ số nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,25% do một số mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền giảm góp phần kéo giảm chỉ số giá chung của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%, chủ yếu do giá một số mặt hàng thiết yếu như: tủ lạnh, máy xay sinh tố, đồ điện thắp sáng, nồi điện, ấm phích nước điện, đồ nhôm, đồ kim loại,… tăng giá. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu mua sắm một số thiết bị, đồ dùng gia đình tăng, giá một số nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào cùng với chi phí vận chuyển, nhân công tăng đã tác động tăng giá bán.Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,38%, chủ yếu do giá nhiên liệu được điều chỉnh tăng theo diễn biến giá thế giới; theo đó giá nhiên liệu tăng 10,97%; giá xăng tăng 11,09%; giá dầu diezel tăng mạnh 21,96%. Chỉ số giá vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,65%; chỉ số giá vận tải hành khách bằng taxi tăng 0,78%; chỉ số giá vận tải hành khách kết hợp tăng 0,02%.Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17%, chủ yếu do một số dịch vụ du lịch, vui chơi và giải trí giảm. Trong tháng nhu cầu đối với một số dịch vụ có xu hướng giảm so với tháng trước, cùng với việc các cơ sở kinh doanh thực hiện các chương trình giảm giá, khuyến mại làm mặt bằng giá nhóm này giảm.So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 3,54%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục giảm 0,97%; các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,98%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,44%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,30%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,16%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,28%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,50%; giao thông tăng 7,83%; thông tin và truyền thông tăng 0,98%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,80%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,62%.So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 4,63%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,62% (lương thực tăng 2,93%; thực phẩm tăng 6,17%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,44%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,33%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,61%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,51%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,38%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,36%; giao thông tăng 6,96%; thông tin và truyền thông tăng 1,09%; giáo dục giảm 0,02%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,60%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,08%.Bình quân chung Tám tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,44%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,27%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,49%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,30%; giao thông tăng 4,66%; thông tin và truyền thông tăng 0,99%; giáo dục tăng 0,97%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,33%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,97%.Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân Tám tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,80% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,23% do giá nguyên liệu thực phẩm và chi phí đầu vào tăng dẫn đến giá các suất ăn, đồ uống và dịch vụ ăn uống tăng theo. Bên cạnh đó nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng đã góp phần tác động đến mặt bằng giá của nhóm ăn uống. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 6,05% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà và chi phí duy trì, sửa chữa nhà ở tăng, giá một số vật liệu xây dựng và bảo dưỡng nhà ở tăng do chi phí đầu vào, nhân công và vận chuyển tăng, đồng thời nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở tăng đã tác động tăng giá nhóm này. (3) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,29% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa hè, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (4) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,27%, do giá nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, nhân công, vận chuyển tăng dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,66%, chủ yếu do giá nhiên liệu, đặc biệt là giá xăng, dầu tăng so với cùng kỳ; đồng thời chi phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện và giá một số dịch vụ vận tải tăng do chi phí đầu vào tăng. Nhu cầu đi lại và hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch phục hồi góp phần làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ vận tải. (6) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 4,33% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí tăng, nhất là trong các dịp nghỉ lễ và mùa du lịch; đồng thời giá một số dịch vụ lưu trú, tham quan, giải trí và lữ hành tăng so với cùng kỳ, góp phần làm tăng chỉ số giá của nhóm này.b) Chỉ số giá vàng và đô la MỹChỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 8/2026 giảm 3,09% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 8/2026 giá vàng xấp xỉ 14.339.640 VNĐ/chỉ.Chỉ số giá đô la Mỹ (USD) tháng 8/2026 giảm so với tháng trước, chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường trong nước có xu hướng giảm do nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định, bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 8/2026 giảm 0,37% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1USD xấp xỉ 26.190 VNĐ.c) Chỉ số giá sản xuấtSo với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tám tăng nhẹ - tăng 0,04%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,01%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 2,70%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,22%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 0,13%; khoai tây tăng 0,68%; lạc tăng 0,22%; vừng/mè tăng 0,34%; bắp cải tăng 0,98%; súp lơ tăng 2,42%; dưa lấy quả tăng 0,21%; cà chua tăng 3,21%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân còn lại tăng 0,22%; hoa các loại còn lại tăng 0,34%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 0,68%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm tăng 0,47%; xoài tăng 2,02%; hồng xiêm tăng 0,45%; quả na tăng 5,69%; ổi tăng 0,64%; cam tăng 0,35%; nhãn tăng 2,86%; sảm phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 1,09%; sản phẩm cây chè tăng 1,03%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 0,22%; sản phẩm chăn nuôi dê, cừu, hươu, nai tăng 1,57%; sản phẩm chăn nuôi vịt, ngan, ngỗng tăng 0,40%; mật ong tăng 2,44%; dịch vụ chăn nuôi tăng 0,42%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 0,36%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,18%; cá trắm tăng 0,31%; cá trôi tăng 0,39%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 0,43%; giống thủy sản nuôi nội địa tăng 0,93%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: sản phẩm cây lấy củ có chất bột giảm 0,24%; đậu tương giảm 0,27%; rau lấy lá giảm 0,33%; dưa chuột giảm 1,50%; hành củ tươi giảm 0,44%; hoa phong lan giảm 0,63%; hoa cúc bông giảm 0,69%; sản phẩm cây hàng năm khác còn lại giảm 5,14%; chuối giảm 2,07%; mít giảm 2,24%; chanh thường giảm 3,29%; các loại quả có múi còn lại giảm 1,05%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm giảm 0,65%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 2,70%; lợn giảm 0,07%; cá nuôi nội địa còn lại giảm 0,22%;...So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tám tăng 4,37%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 3,49%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 12,76%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 8,95%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,76%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 3,21%; mía cây tươi tăng 7,43%; thuốc lá, thuốc lào tăng 4,68%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 3,53%; rau lấy lá tăng 5,26%; dưa lấy quả tăng 8,53%; rau họ đậu tăng 4,79%; rau lấy quả 13,01%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 6,20%; nấm trồng các loại tăng 8,93%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 4,42%; hoa hồng tăng 6,04%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 16,58%; xoài tăng 16,74%; ổi tăng 18,95%; chanh thường tăng 19,42%; các loại quả có múi còn lại tăng 17,40%; nhãn tăng 13,59%; vải tăng 34,32%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 11,07%; sản phẩm cây chè tăng 8,89%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,83%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 4,83%; dịch vụ nông nghiệp tăng 5,13%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 12,76%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 15,62%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 2,70%; cá nuôi biển tăng 4,23%; tôm nuôi biển còn lại tăng 8,22%; cá nuôi nội địa tăng 5,19%; tôm nuôi nội địa tăng 11,69%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 11,74%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: sắn/mỳ tươi giảm 0,19%; quả na giảm 0,44%; quýt giảm 1,04%; táo giảm 1,09%;...So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 0,74%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,74%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,66%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,89%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 4,26%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 0,68%; món ăn, thức ăn chế biến sẵn tăng 7,00%; đồ uống không cồn và nước khoáng tăng 2,83%; sợi tăng 0,68%; sản phẩm may trang phục tăng 2,18%; giày, dép tăng 1,99%; hóa chất cơ bản tăng 12,24%; sản phẩm từ plastic tăng 2,91%; sản phẩm từ bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 2,16%; cấu kiện kim loại tăng 2,02%; máy vi tính và các thiết bị ngoại vi của máy vi tính tăng 4,80%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,76%; mô tô, xe máy tăng 1,95%; đồ chơi, trò chơi tăng 5,01%; điện sản xuất tăng 4,29%; điện mặt trời tăng 2,02%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 2,60%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 1,29%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 1,47%; sản phẩm gang, sắt thép giảm 0,58%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý giảm 2,16%; sản phẩm kim loại khác chưa được phân vào đâu giảm 1,83%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,45%; máy thông dụng giảm 0,46%; máy cho ngành dệt, may và da giảm 1,16%; sản phẩm khác chưa phân vào đâu giảm 2,91%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 0,45%; nước tự nhiên khai thác giảm 0,57%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 0,88%;...So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 4,79%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,92%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,04%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,43%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,69%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 8,11%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 17,00%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 10,99%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 4,39%; sản phẩm may trang phục tăng 8,61%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 16,77%; dịch vụ liên quan đến in tăng 9,51%; hóa chất cơ bản tăng 10,79%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,89%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 12,19%; sản phẩm từ plastic tăng 6,21%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 11,40%; đá đã được cắt, tạo dáng và hoàn thiện tăng 5,60%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 28,87%; cấu kiện kim loại tăng 6,90%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 42,44%; máy khai thác mỏ và xây dựng tăng 5,26%; mô tô, xe máy tăng 14,03%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,31%; đồ chơi, trò chơi tăng 5,15%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,42%; điện sản xuất tăng 11,38%; điện mặt trời tăng 5,63%; nước tự nhiên khai thác tăng 7,04%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 23,50%; vải dệt thoi giảm 5,55%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,58%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 1,39%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 1,93%; thiết bị điện khác giảm 1,48%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 9,12%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 11,66%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,53%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,72%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,53%;...6. Hoạt động vận tải Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Tám ước đạt 2.510 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 19.525 tỷ đồng, tăng 17,28% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 6,1 triệu lượt người vận chuyển và 554 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 0,76% về lượt người vận chuyển, tăng 0,52% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 12,85% về lượt người vận chuyển, tăng 12,25% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng 8 ước đạt 430 tỷ đồng, tăng 1,96% so với tháng trước và tăng 14,45% so cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 47 triệu lượt người vận chuyển và 4.310 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,47% về lượt người vận chuyển và tăng 10,31% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.347 tỷ đồng, tăng 12,28%.Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Tám ước đạt 6,8 triệu tấn vận chuyển và 1.838 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 1,64% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,38% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,31% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,18% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.853 tỷ đồng, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 17,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 52,9 triệu tấn vận chuyển và 14.324 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 12,79% về tấn hàng hóa vận chuyển và 12,99% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 14.420 tỷ đồng, tăng 19,51%.Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tám ước đạt 206 tỷ đồng, giảm 0,60% so với tháng trước và tăng 6,86% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.575 tỷ đồng, tăng 8,25%.Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Tám ước đạt 20 tỷ đồng, tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 55,10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 184 tỷ đồng, tăng 24,28% so với cùng kỳ năm trước.7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểma) Thu ngân sách nhà nướcThu ngân sách nhà nước tháng Tám ước đạt 4.076 tỷ đồng, giảm 24,45% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 3.481 tỷ đồng, giảm 28,73%; thuế xuất nhập khẩu 595 tỷ đồng, tăng 16,43%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 99 tỷ đồng, giảm 52,73%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 355 tỷ đồng, tăng 111,99%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.104 tỷ đồng, tăng 96,53%; thu thuế thu nhập cá nhân 200 tỷ đồng, giảm 41,16%; các khoản thu về đất 1.555 tỷ đồng, giảm 53,14%;...Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnhtháng Tám và tám tháng năm 2026T8.2026(Tỷ đồng)8T.2026(Tỷ đồng)T8.2026T8.2025(%)8T.20268T.2025(%)Tổng số4.07650.37475,5575,24Thu nội địa3.48145.11271,2771,82Tr. đó: Thu từ đất1.55517.08746,8643,27Thu Hải quan5955.261116,43127,15Tính chung tám tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 50.374 tỷ đồng, giảm 24,76% so với cùng kỳ năm trước và đạt 59,79% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 45.112 tỷ đồng, giảm 28,18%; thuế xuất nhập khẩu 5.261 tỷ đồng, tăng 27,15%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 881 tỷ đồng, giảm 4,91%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.663 tỷ đồng, tăng 26,65%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 18.530 tỷ đồng, tăng 29,56%; thu lệ phí trước bạ 1.131 tỷ đồng, tăng 3,96%; thuế thu nhập cá nhân 2.478 tỷ đồng, giảm 5,69%; các khoản thu về đất 17.087 tỷ đồng, giảm 56,73%.b) Chi ngân sách nhà nước địa phươngChi ngân sách nhà nước địa phương tháng Tám ước đạt 5.201 tỷ đồng, tăng 76,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 2.200 tỷ đồng, tăng 120,29%; chi thường xuyên 3.000 tỷ đồng, tăng 54,44%.Tính chung tám tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 50.128 tỷ đồng, tăng 14,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 31.067 tỷ đồng, tăng 14,94%; chi thường xuyên 19.061 tỷ đồng, tăng 14,23%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 7.413 tỷ đồng, tăng 20,25%; chi sự nghiệp y tế 1.754 tỷ đồng, tăng 30,42%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 202 tỷ đồng, giảm 24,53%; chi đảm bảo xã hội 4.326 tỷ đồng, tăng 108,43%; chi quản lý hành chính 3.344 tỷ đồng, giảm 28,45%.c) Hoạt động ngân hàngƯớc tính đến 31/8/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 335.500 tỷ đồng, tăng 8,47% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 330.500 tỷ đồng, tăng 7,58% và chiếm 98,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 5.000 tỷ đồng, tăng 139,46% và chiếm 1,49%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/8/2026 đạt 282.500 tỷ đồng, tăng 6,64% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 199.000 tỷ đồng, tăng 3,78%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 83.500 tỷ đồng, tăng 14,13%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 272.300 tỷ đồng, tăng 5,32%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 10.200 tỷ đồng, tăng 60,0%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 185.640 tỷ đồng, tăng 6,91% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 119.500 tỷ đồng, tăng 4,52%; xuất khẩu 1.715 tỷ đồng, tăng 5,86%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 59.000 tỷ đồng, tăng 12,71%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%.Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/8/2026 ước tính là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,62% dư nợ tín dụng), giảm 7,06% so với với thời điểm 31/12/2025.d) Bảo hiểm xã hộiLũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 8/2026 là 675.920 người, tăng 79.544 người, tương ứng tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước; tăng 38.589 người, tương ứng tăng 6,1% so với năm 2025, đạt 98,3% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 104,6% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 51,75% so với lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó: số người tham gia BHXH bắt buộc 586.641 người, tăng 7.851 người (tăng 1,4%) so với tháng trước; tăng 69.817 người (tăng 13,5%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 40.345 người (tăng 7,4%) so với năm 2025, đạt 69,1% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 106% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026; số người tham gia BHXH tự nguyện là 89.279 người, tăng 100 người (tăng 0,1%) so với tháng trước; tăng 9.727 người (tăng 12,2%) so với cùng kỳ năm trước, giảm 1.756 người (giảm 1,9%) so với năm 2025, đạt 93,4% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 96,8% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026.Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/7/2026 là 563.645 người, tăng 8.005 người (tăng 1,4%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 35.381 người (tăng 6,7%) so với năm 2025. Số người tham gia BHYT là 2.956.310 người (bao gồm 126.652 người bảo lưu năm 2025), giảm 594 người (giảm 0,02%) so với tháng trước, tăng 146.060 người (tăng 5,2%) với cùng kỳ năm trước, tăng 32.744 người (tăng 1,1%) so với năm 2025.Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 7/2026 là 9.970 tỷ đồng, tăng 1.408 tỷ đồng (tăng 14,1%) so với tháng trước, tăng 1.221 tỷ đồng (tăng 14%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 56,4% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao, đạt 105,8% kế hoạch giao tháng 7/2026. Chi BHXH trong tháng 7/2026 đạt 1.095 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 7/2026, chi BHXH 7.139 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.970 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 5.169 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 7/2026 là 32,5 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đã chi 186 tỷ đồng.Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 7/2026 là 371 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 7/2026, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 2.220 tỷ đồng, tăng 7,90% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 870 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.350 tỷ đồng.II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1.    Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội Trong tháng Tám, tổng số lao động được giải quyết việc làm trong toàn tỉnh là 5.100 người, trong đó xuất khẩu lao động là 650 người. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 1.321 người; tư vấn giới thiệu việc làm cho 4.369 người. Lũy kế tám tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 41.220 người (đạt 69% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 4.690 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 7.851 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 24.000 người.Tỉnh triển khai thực hiện Kế hoạch giảm nghèo bền vững năm 2026 và giai đoạn 2026-2030. Rà soát, xác định nhu cầu hỗ trợ của người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Các hội, đoàn thể tỉnh, UBND các xã, phường và cộng đồng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh phối hợp triển khai các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm, góp phần nâng cao thu nhập và thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững.Công tác Người có công: tám tháng năm 2026, công tác đền ơn đáp nghĩa và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, thiết thực và hiệu quả. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, toàn tỉnh đã tổ chức trao tặng quà của Đảng, Nhà nước cho 100.791 người có công với cách mạng, thân nhân và người thờ cúng liệt sĩ; hoàn thành trao 106.413 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí 32,65 tỷ đồng. Đồng thời, quà tặng của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh được trao với tổng kinh phí 104,58 tỷ đồng; các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đã trao trên 15.000 suất quà, với tổng kinh phí trên 8,4 tỷ đồng.Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), toàn tỉnh đã trao tặng quà của Chủ tịch nước đối với 104.681 người có công, với tổng kinh phí trên 32,1 tỷ đồng; quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đối với 115.490 người có công, với tổng kinh phí 103,941 tỷ đồng. Tổ chức 03 Đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh đi dâng hương, viếng các Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và các công trình ghi công liệt sĩ từ ngày 10-19/7/2026, gồm: Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 (tỉnh Quảng Trị), Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) và các Nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tổ chức 04 Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà tại gia đình đối với người có công với cách mạng và thân nhân tại 18 xã trên địa bàn tỉnh. Thăm, tặng quà tại 07 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng trong và ngoài tỉnh với tổng kinh phí 51.000.000 đồng. Tổ chức Đoàn đại biểu người có công tỉnh Hưng Yên tham dự Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc từ ngày 22-23/7/2026.Công tác giải quyết chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã giải quyết trên 9.820 hồ sơ thủ tục hành chính, 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Tỷ lệ chi trả trợ cấp ưu đãi qua tài khoản đạt 95,56%. Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Trung tâm Điều dưỡng, chăm sóc người có công đang nuôi dưỡng tập trung 21 thương binh, bệnh binh nặng, bảo đảm tốt điều kiện chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần.Đến nay, toàn tỉnh có 369 công trình ghi công liệt sĩ. Tính đến ngày 12/8/2026, hoàn thành lấy mẫu 84/153 nghĩa trang liệt sĩ, đã khai quật lấy mẫu 2.483/4.353 mộ, đã bàn giao 1.777 mẫu hài cốt liệt sĩ về Viện Pháp y Quân đội; số mẫu hiện đang lưu tại Phòng lưu mẫu tạm thời: 312 mẫu.2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịcha) Hoạt động văn hoá và thư việnToàn tỉnh tuyên truyền kỷ niệm niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô, loa phát thanh, tuyên truyền miệng và hình ảnh trực quan trên địa bản tỉnh. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhân kỷ niệm 300 năm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, như: Trưng bày, giới thiệu 2.106 cuốn sách, báo, tài liệu và 28.000 trang tài liệu số; nói chuyện chuyên đề; trao tặng sách cho các em học sinh tiêu; viết chuyên đề giới thiệu sách…; trưng bày sách báo, tài liệu tại Hội thảo khoa học quốc gia “Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn - Di sản văn hóa và giá trị thời đại” tại Trung tâm Hội nghị tỉnh; biên soạn thư mục gồm 80 bài báo, tạp chí của Trung ương có nội dung về tỉnh Hưng Yên; tổ chức Liên hoan “Giai điệu tuổi hồng và Thiếu nhi kể chuyện” hè năm 2026; chấm, chọn bài dự thi Cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc tỉnh Hưng Yên; cấp 475 thẻ bạn đọc, phục vụ 6.355 lượt bạn đọc, luân chuyển 12.448 lượt sách, báo; có 3.200 lượt truy cập Trang thông tin điện tử của Thư viện tỉnh; số hóa 9.201 trang tài liệu liệu phục vụ lưu trữ và nhu cầu của bạn đọc trên nền tảng số; hỗ trợ 04 giá sách, tặng 100 bản sách và luân chuyển 500 bản sách cho Phòng đọc Tổ dân phố 10, phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên.Về nghệ thuật biểu diễn: Tỉnh tổ chức 16 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, tiêu biểu là: Biểu diễn vở chèo “Bảng nhãn Lê Quý Đôn” và hoạt cảnh chèo “Nặng nghĩa non sông” dịp kỷ niệm 300 năm Ngày sinh của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn; Vở chèo “Bản hùng ca xứ nhãn” tại Lễ hội Nhãn lồng năm 2026; chương trình ca múa nhạc tại phố đi bộ Nam Hòa, phường Phố Hiến.Trung tâm văn hóa - điện ảnh tỉnh tổ chức 80 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 60 buổi tại rạp) thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhân dân, khán giả, tiêu biểu là: Tổ chức chiếu phim lưu động miễn phí tuyên truyền kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bộ phim tư liệu “Hồ Chí Minh chân dung một con người"; các phim truyện của Điện ảnh Việt Nam như: “Mưa đỏ”, “Sao tháng Tám”, “Mùi cỏ cháy”.Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh tổ chức chấm thi các tác phẩm tham gia cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên. Phối hợp với Trung tâm Triển lãm Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam tổ chức trưng bày, triển lãm hình ảnh, hiện vật kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn. Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026.b) Hoạt động thể dục thể thaoVề thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức thành công Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026. Tổ chức các giải thể thao trong chương trình Đại hội TDTT, gồm: Dân vũ; Khiêu vũ; Điền kinh; Bóng chuyền hơi nam, nữ; Karate; Võ cổ truyền; Taewondo.Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tỉnh tập huấn, tham dự 11 giải thể thao quốc gia và 02 giải quốc tế, đạt 66 huy chương các loại, trong đó 16 HCV, 18 HCB, 32 HCĐ (02 giải quốc tế, đạt 05 HCĐ).c) Hoạt động du lịchTỉnh tổ chức các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch tỉnh Hưng Yên tại Triển lãm “Không gian Du lịch, Văn hoá - Hội nhập và lan toả” tại Gia Lai, hưởng ứng hoạt động Năm Du lịch quốc gia 2026. Tham dự Hội nghị xúc tiến du lịch Lâm Đồng tổ chức tại Hà Nội; đăng tải tin tức, sự kiện, bài viết quảng bá trên bản đồ số du lịch Hưng Yên; Đặc sản Văn hoá, Thể thao và Du lịch; quảng bá du lịch Hưng Yên trên 5 trang báo điện tử: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam; Tạp chí điện tử Gia đình mới; Tạp chí Nông thôn và Phát triển; Báo điện tử Dân Việt; Tạp chí điện tử Người đưa tin. Phối hợp với Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên thực hiện thu âm, ghi hình chương trình “60 phút lắng nghe”: chủ đề “Du lịch mùa thu tại Hưng Yên – Khám phá không gian du lịch mới”; tổ chức Workshop, Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số; xúc tiến quảng bá du lịch tại Lễ hội và xúc tiến thương mại Nhãn lồng Hưng Yên năm 2026.Hoàn thiện nâng cấp giao diện Cổng du lịch thông minh; bổ sung chuyên mục giới thiệu sản phẩm OCOP; cập nhật số hóa các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử. Viết bài và đưa tin trên website, fanpage, zalo.oa, facebook, youtube về các hoạt động du lịch trong tỉnh và cả nước (01 banner, 8 bài; 02 video livestream; chia sẻ 50 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên thu hút hơn 3.000 lượt truy cập).3. Giáo dục, đào tạoKỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Hưng Yên xếp thứ 9/34 tỉnh, thành phố về điểm trung bình các môn (tăng 2 thứ hạng so với năm 2025), trong đó môn Toán xếp thứ 5; môn Công nghệ Nông nghiệp xếp thứ 5; môn Tin học xếp thứ 7; toàn tỉnh có 409 điểm 10 (trong đó môn Giáo dục kinh tế pháp luật thí sinh Hưng Yên là 1 trong 2 thí sinh của toàn quốc đạt điểm 10); có 01 học sinh đạt thủ khoa toàn quốc khối A01, 01 học sinh đạt á khoa toàn quốc khối A00. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2026 đạt 99,6%. Ngoài ra các tập thể, cá nhân ngành Giáo dục đã tích cực tham gia các kỳ thi, cuộc thi, sân chơi trí tuệ do các bộ, ban, ngành trung ương và các tổ chức tổ chức đã đạt thành tích cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trên địa bàn tỉnh: 01 nhóm học sinh đoạt Huy chương Vàng tại Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật, đổi mới và sáng tạo quốc tế EUREKA WARSAW năm 2026 tại Ba Lan; 10 giáo viên, 61 học sinh đoạt giải tại Hội thi An toàn giao thông cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông năm học 2025-2026; giải Khuyến khích toàn đoàn tại Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc lần thứ IV (trong đó, tập thể: 01 giải Nhất, 01 giải Ba, 3 giải Khuyến khích; cá nhân: 01 giải Nhất, 01 giải Nhì, 04 giải Ba, 3 giải Khuyến khích); 02 nhóm học sinh đoạt giải Ba Vòng Chung kết Cuộc thi Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp lần thứ VIII (SV-STARUP) lần thứ VIII năm 2026; 01 giải Khuyến khích Cuộc thi “Sáng kiến bảo đảm trật tự trường học về phòng, chống bạo lực học đường” cấp toàn quốc; 01 học sinh đoạt giải Nhất vòng thi Quý III và được tham dự Vòng Chung kết chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm 2026 (Hưng Yên là 1 trong 4 điểm cầu truyền hình trực tiếp Vòng chung kết trên toàn quốc);...Năm học 2025-2026, các cơ sở GDNN tuyển sinh được 11.354 người (cao đẳng 3.279 người, trung cấp 7.418 người, sơ cấp 657 người). Tổng số tốt nghiệp: gần 11.000 người (cao đẳng gần 3.000 người, trung cấp khoảng 7.000 người, sơ cấp 650 người). Tỷ lệ lao động có việc làm sau khi tốt nghiệp đạt khoảng 90%.Thực hiện Thông báo số 679-TB/TU ngày 04/8/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập tỉnh Hưng Yên, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ, các sở, ngành và UBND các xã, phường tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2418/QĐ-UBND ngày 05/8/2026 phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục; Kế hoạch số 312/KH-UBND ngày 05/8/2026 tổ chức thực hiện Phương án; đồng thời hướng dẫn các xã, phường xây dựng Đề án sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn cấp xã (Công văn số 2751/SGDĐT-TCCB ngày 07/8/2026). Đến ngày 20/8/2026, 88% xã, phường đã hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm mon, tiểu học, trung học cơ sở công lập trên địa bàn, tổng số đầu mối cơ sở giáo dục công lập toàn tỉnh giảm 60,4% (giảm từ 1.163 cơ sở xuống còn 460 cơ sở, tương đương giảm 703 đầu mối). Sở Giáo dục và Đào tạo hoàn thành Đề án hợp nhất 15 Trung tâm GDNN-GDTX thành 07 Trung tâm GDNN-GDTX. Các cơ sở giáo dục chuẩn bị sách giáo khoa, dụng cụ học tập và các điều kiện cho năm học 2026-2027; hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông; chỉ đạo bố trí học sinh tham dự Lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026. Chuẩn bị tổ chức Lễ Khai giảng năm học 2026-2027 trên địa bàn tỉnh. 4. Hoạt động y tế Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Hè; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 08: Tay chân miệng 159 ca; SXH 97 ca; Sởi 11 ca; Covid 184 ca; Ho gà 04 ca; Lao phổi 58 ca; VGB 43 ca; Bệnh do Adeno vi-rút 104 ca; Cúm 1.781 ca; Quai bị 09; Thủy đậu 10 ca; Tiêu chảy do Rota vi-rút 33 ca; VGC 16 ca.Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 09 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.580 người thuộc 104/104 xã, phường), có 04 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.323 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/8/2026 là: 1.476 người.Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng Tám, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã thành lập 09 đoàn kiểm tra, lấy mẫu (04 Đoàn kiểm tra định kỳ, 04 đoàn kiểm tra đột xuất, 01 đoàn lấy mẫu) đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Tổng số cơ sở được kiểm tra, lấy mẫu: 74 cơ sở, lấy 109 mẫu thực phẩm đang chờ kết quả kiểm nghiệm, xử phạt 05 cơ sở với số tiền 118 triệu đồng.Tổ chức lấy 90 mẫu thực phẩm, trong đó: (1) Xét nghiệm nhanh đối với 43 mẫu thực phẩm, kết quả: 43/43 mẫu thực phẩm đều âm tính với các chỉ tiêu Sabutamol, dư lượng thuốc thuốc trừ sâu, Salicylic, độ sạch bát đĩa,... và đo nồng độ Nitrat trong giới hạn cho phép. (2) Gửi Labo kiểm nghiệm đánh giá chất lượng thực phẩm đối với 47 mẫu, trong đó: 15 mẫu nước uống đóng chai đóng bình, 01 mẫu nước khoáng chanh, 31 mẫu nguyên liệu thực phẩm (đang chờ kết quả).5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổTrong tháng Tám (từ ngày 24/7/2026 - 23/8/2026), toàn tỉnh phát hiện 16 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 16 vụ với số tiền xử phạt 812,5 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 07 vụ, tương ứng giảm 30,43%; số vụ đã xử lý giảm 07 vụ, giảm 30,43%; số tiền xử phạt tăng 299 triệu đồng, tăng 58,20%. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 9 vụ, tăng 128,57%; số vụ đã xử lý tăng 16 vụ, tăng 166,67%; số tiền xử phạt tăng 183 triệu đồng, tăng 28,99%. Lũy kế tám tháng năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 84 vụ vi phạm, đã xử lý 96 vụ với số tiền xử phạt 4.691 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 44 vụ, tương ứng giảm 34,38%; số vụ đã xử lý tăng 11 vụ, tăng 12,94%; số tiền xử phạt giảm 377 triệu đồng, giảm 7,44%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là đổ rác thải, xả thải không đúng quy định, với mức xử phạt hành chính tương đối thấp.Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/7/2026 đến ngày 14/8/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 05 vụ cháy (xã Yên Mỹ 03 vụ, xã Hoàn Long 01 vụ, xã Mỹ Hào 01 vụ); không có vụ nổ; không bị thiệt hại về người. Giá trị thiệt hại về tài sản là 60 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy, nổ tăng 01 vụ, tương ứng tăng 25,0%. Lũy kế tám tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 32 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản là 4.221,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ cháy, nổ tăng 7 vụ, tăng 28,0%; số người chết giảm 6 người, giảm 85,71%; số người bị thương giảm 5 người, giảm 62,50%.6. An toàn giao thông Từ ngày 15/7/2026 đến 14/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 48 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 24 người; làm bị thương 39 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 19 vụ, tăng 65,52%; số người chết giảm 01 người, giảm 4,0%; số người bị thương tăng 28 người, tăng 254,55%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 08 vụ, giảm 14,29%; số người chết giảm 08 người, giảm 25,0%; số người bị thương tăng 06 người, tăng 18,18%. Lũy kế tám tháng đầu năm 2026 (tính từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/8/2026), toàn tỉnh xảy ra 310 vụ (đường bộ 307 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết 210 người (đường bộ 209 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 171 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 65 vụ, giảm 17,33%; số người chết giảm 09 người, giảm 4,11%; số người bị thương giảm 65 người, giảm 27,54%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2026
  •   27/10/2026 09:10

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản a) Nông nghiệp Nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng qua là các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo cấy lúa mùa; phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng và tăng cường bảo vệ an toàn trên đàn gia súc, gia cầm. Tình hình cụ thể như sau: Trồng trọt Cây hằng năm Vụ mùa năm nay, toàn tỉnh có kế hoạch gieo cấy khoảng 96.000 ha lúa mùa, trong đó, diện tích lúa mùa trà sớm chiếm 10-15% diện tích. Tỷ lệ gieo cấy lúa chất lượng cao chiếm trên 50%, bằng các giống lúa: Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1,... còn lại là các giống lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như: Thiên Ưu 8, TBR225, TBR87,... Diện tích gieo sạ là 24.500 ha (đạt 25,5%), diện tích cấy máy khoảng 35.000 ha (đạt 36,5% diện tích gieo cấy). Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến ngày 20/7/2026, toàn tỉnh gieo cấy được 90.000 ha lúa mùa, đạt 93,75% kế hoạch. Diện tích chăm sóc lúa lần 1 đạt 70.000 ha, diện tích chăm sóc lúa lần 2 đạt 28.000 ha. Nông dân các địa phương tăng cường chăm sóc (bón phân, dặm, tỉa, làm cỏ, sục bùn,...) cho diện tích lúa đã gieo cấy xong, bảo đảm đủ nước để cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung. Song song với gieo cấy lúa mùa, nông dân các địa phương tiếp tục gieo trồng các cây rau màu khác. Đến thời điểm ngày 20/7/2026, tiến độ gieo trồng các loại cây rau màu như sau: cây ngô 2.366 ha; khoai lang 207,7 ha; đậu tương 196 ha; lạc 75,5 ha; rau các loại 9.406 ha. Hoạt động tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, một số mặt hàng có xu hướng tăng giá nhẹ so với cùng kỳ và tháng trước, góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh Hưng Yên đến nay cơ bản ổn định. Tháng Bảy là thời điểm bắt đầu bước vào vụ thu hoạch nhãn, các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tập trung thu hoạch nhãn chính vụ. Năm nay, sản lượng nhãn dự kiến giảm sâu so với năm trước do tỷ lệ đậu quả thấp.  Chăn nuôi  Tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và phát triển, con giống tiếp tục được sản xuất tại các trang trại, hộ chăn nuôi, bảo đảm các điều kiện an toàn sinh học, phục vụ cho công tác tái đàn năm 2026. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo. Trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các ổ dịch lớn trên đàn vật nuôi, không có trường hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được các ngành chức năng và địa phương triển khai thường xuyên, góp phần bảo đảm an toàn cho sản xuất chăn nuôi. Đến ngày 13/7/2026, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành xong đợt tiêm phòng vắc xin vụ xuân hè từ nguồn vắc xin hỗ trợ của tỉnh. Ước tính tại thời điểm 31/07/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.016 con, giảm 6,01%; đàn bò 73.610 con, giảm 10,19%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.060.224 con, tăng 0,96%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.155 nghìn con, giảm 0,45% (trong đó: đàn gà đạt 17.041 nghìn con, tăng 0,40%) so với cùng thời điểm năm trước. b) Lâm nghiệp Trong tháng, các xã ven biển có rừng tiếp tục quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở các xã có rừng phi lao; đôn đốc nhà thầu thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ rừng mới trồng thuộc dự án Phục hồi và phát triển rừng ven biển Thái Bình giai đoạn 2016 - 2020; thực hiện nghiêm túc công tác thường trực tiếp nhận các thông tin về phòng cháy, chữa cháy rừng. Thực hiện các nhiệm vụ Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và trí tuệ nhân tạo AI vào công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp. Kiểm kê rừng tỉnh Hưng Yên năm 2026. Tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng thích nghi của cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), cây Giá (Excoecaria agallocha L) tại khu rừng ngập mặn bị suy thoái do lập địa thay đổi để phát triển rừng tại Thái Bình”. Thực hiện xây dựng “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và trí tuệ nhân tạo AI vào công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp tại tỉnh Hưng Yên”: Ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà thầu giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự toán mua sắm: Thuê dịch vụ “Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và trí tuệ nhân tạo AI vào công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp tại tỉnh Hưng Yên”. Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Bảy ước đạt 435 m³, tăng 0,35%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 34 nghìn cây, tăng 0,44% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế bảy tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.327 m³, tăng 0,27%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.235 nghìn cây, tăng 0,11% so với cùng kỳ năm trước. c) Sản xuất thủy sản Sản xuất thủy sản trong tháng Bảy tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Bảy ước đạt 7.980 tấn, tăng 5,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.732 tấn, tăng 5,23%; tôm 234 tấn, tăng 5,06%; thủy sản khác 2.014 tấn, tăng 5,34%. Lũy kế bảy tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển toàn tỉnh ước đạt 64.932 tấn, tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 40.942 tấn, tăng 3,25%; tôm 1.009 tấn, tăng 3,89%; thủy sản khác 22.981 tấn, tăng 3,51%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Thời tiết trong tháng cơ bản thuận lợi, môi trường nước tương đối ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng, phát triển tốt. Người nuôi từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng con giống và quản lý chăm sóc, góp phần tăng năng suất và sản lượng. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Bảy ước đạt 22.412 tấn, tăng 5,60% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.620 tấn, tăng 5,51%; tôm 844 tấn, tăng 5,33%; thủy sản khác 12.948 tấn, tăng 5,67%. Cộng dồn bảy tháng năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 137.134 tấn, tăng 3,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 59.137 tấn, tăng 3,89%; tôm 2.250 tấn, tăng 4,15%; thủy sản khác 75.747 tấn, tăng 3,98%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Bảy tăng 0,56%, trong đó: khai khoáng giảm 0,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,27%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,64%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,09%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 30,17%; mạch in khác tăng 21,22%; Nitơrat Amoni tăng 19,90%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 16,74%; thức ăn cho gia cầm tăng 13,65%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 13,26%; mạch điện tử tích hợp tăng 6,09%; khí tự nhiên dạng khí tăng 6,06%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 5,43%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 10,99%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 15,27%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 5,53%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 21,91%; nước khoáng không có ga giảm 11,70%; điện sản xuất giảm 10,85%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 8,48%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 1,22%; quần áo các loại giảm 0,21%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 18,28%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 2,0%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Bảy tăng 16,50%, trong đó: khai khoáng giảm 9,57%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,19%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,72%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,12%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 223,88%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 91,78%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,…) tăng 73,11%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 63,03%; mạch điện tử tích hợp tăng 51,95%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 51,23%; mạch in khác tăng 35,65%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 33,70%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 23,80%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 23,76%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 54,25%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 10,68%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 9,64%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 30,44%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 21,12%; dây thép không gỉ giảm 19,03%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) giảm 7,68%; nitơrat Amoni giảm 7,55%; tôm đông lạnh giảm 3,85%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 2,51%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 2,40%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 1,36%;... Chỉ số sản xuất công nghiệp Tháng Bảy và bảy tháng năm 2026 (%)   T7.2026 7T.2026 T7.2025 7T.2025 Chung toàn ngành CNKhai khoáng 116,5090,43 115,41102,03 Công nghiệp chế biến, chế tạo 116,19 116,05 SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng 117,72 108,74 Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải 122,12 115,86 Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 205,03%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 33,70%; CN Công ty Cổ phần Daikin tăng 26,2%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 7,69%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 90,27%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 25,48%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 78,62% %; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Hương Linh tăng 11,43%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 19,6%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 36,06%; Công ty Cổ phần Bảo Hưng tăng 45,74%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 36,14%; CN Công ty May 10 tăng 13,7%; Công ty TNHH TAV tăng 13,39%; Công ty TNHH MXP tăng 61,06%; Công ty May Xuất khẩu Việt Thái tăng 21,23%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 18,75%; Công ty TNHH PS Vina tăng 10,10%; Công ty Cổ phần May Hà Thành tăng 336,05%; Công ty TNHH May mặc V.J.ONE tăng 44,34%; Công ty Cổ phần Đô Lương tăng 114,84%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 30,14%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 4,65%; Công ty Thép không gỉ Hà Anh tăng 34,21%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 12,51%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 150,51%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 10,68%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 11,32%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 22,03%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 20,76%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 2,24%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 6,95%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 27,06%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 20,03%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 14,94%; Công ty TNHH TAEYANG Việt Nam tăng 9,09%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam tăng 33,59%; Công ty Tôn Vikor tăng 219,38%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 233,19%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 2,26%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 36,78%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 6,68%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 35,51%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 10,83%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 25,10%; Công ty TNHH Neo – Neon Việt Nam tăng 2,29%; Công ty TNHH Chung Phát tăng 11,17%; Công ty Cổ phần Kopac tăng 9,45%; DNTN bao bì Minh Dũng tăng 18,26%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 23,93%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 41,46%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 6,06%;... Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Bảy giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 4,95%; CN Công ty Cổ phần Giày Thăng Long giảm 24,46%; Công ty TNHH Da giày Xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,6%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 66,36%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 14,67%; Công ty Cổ phần Khu công nghiệp TBS Sông Trà giảm 18,14%;... Tính chung bảy tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,41% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 2,03%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 5,43%; khai khoáng khác tăng 2,03%. Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,05%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 83,44%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 43,30%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 31,53%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 29,96%; sản xuất trang phục tăng 23,15%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 23,12%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,36%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,25%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,46%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 20,89%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,66%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,43%; dệt tăng 3,07%; …… Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong bảy tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 103,53%; mạch điện tử tích hợp tăng 43,05%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 31,12%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 29,48%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 61,97%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 23,25%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 21,20%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 20,68%; mạch in khác tăng 17,14%; quần áo các loại tăng 16,52%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 15,81%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 14,86%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 12,50%;.... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,64%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 21,08%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,34%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 2,78%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 1,24%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 0,25%;.... Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Ước chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện bảy tháng năm 2026 tăng 17,72% so với cùng kỳ do khí hậu năm nay chịu ảnh hưởng của El Nino gây nắng nóng kéo dài, nhiệt độ duy trì ở mức cao trong nhiều ngày khiến nhu cầu sử dụng điện cho điều hòa, quạt, hệ thống làm mát tại các hộ gia đình, cơ quan và cơ sở dịch vụ tăng mạnh. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành điện tử, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng tăng công suất để đáp ứng các đơn hàng quý III và cuối năm, kéo theo sản lượng điện tiêu thụ của khu vực công nghiệp tăng. Đồng thời, trên địa bàn Hưng Yên, các khu công nghiệp như: Thăng Long II, Phố Nối A, Phố Nối B, Yên Mỹ II,... tiếp tục mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp đi vào hoạt động hoặc tăng quy mô sản xuất, làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng Bảy, sản lượng điện sản xuất ước đạt 7.094 triệu Kwh, tăng 7,63%; sản lượng điện thương phẩm ước đạt 6.988 triệu Kwh, tăng 15,52% so với cùng kỳ năm 2025. Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải bảy tháng năm 2026 tăng 22,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,53%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 0,70%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 16,80%. b) Chỉ số sử dụng lao động Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Bảy toàn ngành tăng 4,51% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 1,51%, cộng dồn bảy tháng tăng 4,17% so với cùng kỳ. Mức tăng này cho thấy nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vẫn ở mức cao, nhất là tại các doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, mở rộng quy mô sản xuất hoặc đưa thêm dây chuyền vào hoạt động. Lao động tăng chủ yếu tập trung ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện, cơ khí chế tạo, sản phẩm kim loại, thực phẩm và đồ uống, may mặc... Đây là những ngành có nhiều đơn hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp như : KCN Thăng Long II; KCN Phố Nối A; KCN Phố Nối B; KCN Yên Mỹ II; KCN Minh Đức,... tiếp tục tuyển dụng lao động để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong quý III và chuẩn bị cho mùa sản xuất cuối năm. Việc các dự án đầu tư mới đi vào hoạt động, cùng với quá trình mở rộng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất của một số doanh nghiệp FDI cũng góp phần làm gia tăng nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm hoặc tăng chậm do sản lượng sản xuất chưa phục hồi hoàn toàn, đơn hàng giảm hoặc doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa các công đoạn sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí nhân công. Một số doanh nghiệp cũng có xu hướng sử dụng lao động có trình độ, tay nghề cao thay thế lao động phổ thông, dẫn đến số lượng lao động giảm nhưng hiệu quả sản xuất vẫn được duy trì. Bảy tháng năm 2026, các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 39,49%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,37%; sản xuất đồ uống tăng 18,91%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 18,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 18,62%;... Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,35%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,81%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,52%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,16%; dệt giảm 4,09%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Năm 2026, tỉnh Hưng Yên được Thủ tướng Chính phủ giao vốn (sau khi trừ tiết kiệm 5% vốn ngân sách địa phương) là 41,1 nghìn tỷ đồng. 6 tháng đầu năm, tỉnh Hưng Yên đã triển khai quyết liệt các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy và UBND tỉnh về đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2026. Đến hết ngày 30/6, toàn tỉnh đã giải ngân được 16,6 nghìn tỷ đồng, đạt 40,3% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thuộc nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về giải ngân vốn đầu tư công. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Bảy năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 3.726 tỷ đồng, tăng 28,66%, tương ứng tăng 830 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.728 tỷ đồng, tăng 50,52%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 997 tỷ đồng, giảm 7,91%. Tính chung bảy tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 19.950 tỷ đồng, tăng 16,77%, tương ứng tăng 2.865 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 41,05% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 13.515 tỷ đồng, tăng 42,02%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 6.434 tỷ đồng, giảm 14,99%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/7/2026, toàn tỉnh có 1.002 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 18.772,79 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/7/2026, có 36 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 639,17 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 204 dự án, vốn đăng ký là 6.753,96 triệu USD, chiếm 35,98% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 386 dự án, vốn đăng ký 4.624,16 triệu USD, chiếm 24,63% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.328,83 triệu USD, chiếm 12,41% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/6/2026 đến ngày 21/7/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn tỉnh là 427 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.988 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 11.038 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 77 doanh nghiệp, sử dụng 1.418 lao động, vốn đăng ký 1.151 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 156 doanh nghiệp, sử dụng 600 lao động, vốn đăng ký 1.032 tỷ đồng; vận tải kho bãi 36 doanh nghiệp, sử dụng 114 lao động, vốn đăng ký 152 tỷ đồng; xây dựng 34 doanh nghiệp, sử dụng 179 lao động, vốn đăng ký 180 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 25 doanh nghiệp, sử dụng 254 lao động, vốn đăng ký 7.642 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 25 doanh nghiệp, sử dụng 137 lao động, vốn đăng ký 72 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 20 doanh nghiệp, sử dụng 76 lao động, vốn đăng ký 173 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 13 doanh nghiệp, sử dụng 36 lao động, vốn đăng ký 14 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/7/2026, toàn tỉnh có 3.410 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 25.929 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 38.821 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.409 doanh nghiệp, sử dụng 5.441 lao động, vốn đăng ký đạt 5.507 tỷ đồng (chiếm 14,19% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 661 doanh nghiệp, sử dụng 13.942 lao động, vốn đăng ký đạt 7.197 tỷ đồng (chiếm 18,54%); xây dựng 315 doanh nghiệp, sử dụng 1.457 lao động, vốn đăng ký 1.885 tỷ đồng (chiếm 4,86%); hoạt động vận tải, kho bãi 266 doanh nghiệp, sử dụng 995 lao động, vốn đăng ký 1.247 tỷ đồng (chiếm 3,21%); giáo dục và đào tạo 66 doanh nghiệp, sử dụng 239 lao động, vốn đăng ký 108 tỷ đồng (chiếm 0,28%); kinh doanh bất động sản 128 doanh nghiệp, sử dụng 1.256 lao động, vốn đăng ký 19.196 tỷ đồng (chiếm 49,45%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 159 doanh nghiệp, sử dụng 736 lao động, vốn đăng ký 402 tỷ đồng (chiếm 1,04%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 118 doanh nghiệp, sử dụng 489 lao động, vốn đăng ký 492 tỷ đồng (chiếm 1,27%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Bảy (tính từ ngày 22/6/2026 đến ngày 21/7/2026) toàn tỉnh là 76 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/7/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 557 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/6/2026 đến ngày 21/7/2026, số doanh nghiệp giải thể là 94 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 135 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/7/2026, toàn tỉnh có 574 doanh nghiệp giải thể và 1.458 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 113 doanh nghiệp giải thể và 355 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,69% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,35% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 203 doanh nghiệp giải thể và 504 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 35,37% và 34,57%; kinh doanh bất động sản có 34 doanh nghiệp giải thể và 32 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,92% và 2,19%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 25 doanh nghiệp giải thể và 62 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,36% và 4,25%; giáo dục và đào tạo có 62 doanh nghiệp giải thể và 29 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 10,80% và 1,99%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước đạt 23.968 tỷ đồng, giảm 2,82% so với tháng trước và tăng 19,44% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn bảy tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 172.106 tỷ đồng, tăng 17,28% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Bảy ước đạt 12.097 tỷ đồng, chiếm 50,47% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, giảm 0,02% so với tháng trước và tăng 20,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 22,87%; hàng may mặc tăng 19,58%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 19,22%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 109,77%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 23,42%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 65,86%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 12,65%; xăng, dầu các loại tăng 21,50%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 66,17%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 56,22%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăbg 1,47%. Riêng nhóm hàng hóa khác giảm 10,57%. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 86.101 tỷ đồng, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 23,52%; hàng may mặc tăng 18,60%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 11,68%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 59,72%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,07%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 30,92%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 2,59%; xăng dầu các loại tăng 21,13%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 41,14%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 34,07%; hàng hóa khác tăng 10,23%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 23,67%. Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu tháng Bảy ước đạt 1.309 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 24,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 37 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 22,78% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.272 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 24,76% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân, khách du lịch và lực lượng lao động tại các khu công nghiệp ổn định. Đồng thời, trong thời gian nghỉ hè, các khu, điểm du lịch biển, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh thu hút lượng khách tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số doanh nghiệp chủ lực đạt kết quả kinh doanh tích cực trong tháng Bảy, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của toàn ngành, như: Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Quang Vinh có doanh thu tăng 72,0%; Công ty TNHH Xây dựng và Dịch vụ Khu công nghiệp Phố Nối có doanh thu tăng 31,0% so với cùng kỳ năm trước,... Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 8.847 tỷ đồng, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 254 tỷ đồng, tăng 14,17%; dịch vụ ăn uống 8.593 tỷ đồng, tăng 15,47%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Bảy ước đạt 14 tỷ đồng, tăng 11,18% so với tháng trước và tăng 16,97% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động du lịch lữ hành tiếp tục khởi sắc do tháng Bảy là thời điểm cao điểm của mùa du lịch hè, nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch trải nghiệm của người dân tăng. Cùng với đó, các doanh nghiệp lữ hành đẩy mạnh khai thác các chương trình du lịch nội tỉnh và liên tỉnh, kết hợp với các điểm du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa trên địa bàn và các địa phương lân cận, góp phần thúc đẩy doanh thu của ngành tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 66 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ khác tháng Bảy ước đạt 10.548 tỷ đồng, giảm 6,25% so với tháng trước và tăng 17,79% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.289 tỷ đồng, giảm 7,27% so với tháng trước và tăng 18,54% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 493 tỷ đồng, tăng 2,47% so với tháng trước và tăng 12,85% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 129 tỷ đồng, tăng 5,60% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 257 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 13,77% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác ước đạt 298 tỷ đồng, giảm 3,44% so với tháng trước và tăng 10,07% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 77.092 tỷ đồng, tăng 16,61% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,34% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 17,15% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,58%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,85%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,02%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 14,93%; dịch vụ khác tăng 11,05%. Kết quả trên đã cho thấy thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 năm 2026 giảm nhẹ so với tháng trước, chủ yếu do chỉ số giá nhóm giao thông, nhóm giáo dục và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống giảm. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI vẫn duy trì mức tăng 4,46%; bình quân 7 tháng năm 2026 CPI tăng 4,27% so với cùng kỳ. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy giảm 0,21%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 06 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,53%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,20%; nhóm giao thông giảm 2,58%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,08%; nhóm giáo dục giảm 1,23%. Ngược lại, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,37%. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Bảy và bảy tháng năm 2026 (%)                                                                        T7.2026T6.2026 T7.2026T7.2025 7T.20267T.2025 Chỉ số giá tiêu dùng chung    99,79    104,46    104,27 Chỉ số vàng    99,01    122,56    156,11 Chỉ số đô la Mỹ     99,86    100,03    102,11 Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,53%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 2,89%, nguyên nhân là do nguồn cung lúa, gạo tăng sau thu hoạch, trong khi nhu cầu tiêu dùng ổn định, đồng thời chi phí vận chuyển không tăng góp phần làm giá nhóm lương thực giảm trong tháng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,16% do nhóm thịt gia súc giảm 1,22% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 1,47%; thịt bò giảm 0,64%; nội tạng động vật giảm 0,37%; thịt chế biển giảm 0,48%; thịt gia cầm giảm 0,38%; mỡ nội tạng giảm 0,29%) do nguồn cung lợn hơi tăng khi nhiều đàn lợn đến kỳ xuất chuồng sau thời gian tái đàn, trong khi nhu cầu tiêu dùng không có sự gia tăng tương ứng. Bên cạnh đó, giá lợn hơi giảm sau thời gian duy trì ở mức cao đã tác động làm giá thịt lợn bán lẻ giảm, qua đó góp phần làm giảm chỉ số giá nhóm thực phẩm. Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,20%, chủ yếu do chỉ số giá nhóm nước khoáng có ga giảm 1,17%; chỉ số giá nhóm bia lon giảm 1,62%, do một số cơ sở kinh doanh, siêu thị thực hiện chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,59%, phần lớn do: chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 6,55%; chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,07% do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt tăng; chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 1,81%, tăng ở mặt hàng công sơn tường và công lao động phổ thông. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27% do một số mặt hàng thiết yếu như: máy hút bụi, ổn áp điện, đèn điện thắp sáng, máy đánh trứng, bàn là điện, bếp gas, nồi điện,... tăng giá. Nhu cầu mua sắm, thay thế thiết bị gia dụng phục vụ sinh hoạt tăng trong mùa hè. Bên cạnh đó, chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và phân phối ở mức tương đối cao cũng tác động đến giá bán một số mặt hàng. Tuy nhiên, do nguồn cung ổn định và sự cạnh tranh trên thị trường đã góp phần hạn chế mức tăng giá của nhóm này. Nhóm giao thông giảm 2,58%, chủ yếu do giá nhiên liệu được điều chỉnh giảm theo diễn biến giá thế giới. Theo đó, giá nhiên liệu giảm 4,02%; giá xăng giảm 4,04%; giá dầu diezel giảm 9,12%. Chỉ số giá phương tiện đi lại giảm 1,36% do giá ô tô mới, ô tô đã qua sử dụng, xe máy và xe đạp giảm nhẹ. Nhóm giáo dục giảm 1,23% do giá một số mặt hàng và dịch vụ giáo dục giảm theo quy định về mức thu và chính sách hỗ trợ học phí; giá sách giáo khoa giảm do việc sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa trong cả nước từ năm học 2026 - 2027. Bên cạnh đó, tháng Bảy là thời điểm học sinh nghỉ hè, nhu cầu đối với một số hàng hóa, dịch vụ phục vụ học tập giảm, góp phần làm giảm chỉ số giá nhóm giáo dục. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,37%, nguyên nhân chính là do giá bảo hiểm y tế công chức và bảo hiểm y tế lao động tự do tăng theo nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; giá về hỉ tăng 0,51%; giá về hiếu tăng 0,18%; và giá một số loại đồ dùng cá nhân tăng 1,25%. So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 3,37%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục giảm 0,97%, các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,52%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,16%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,48%; giao thông tăng 3,31%; thông tin và truyền thông tăng 1,03%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,69%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 4,46%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,75% (lương thực tăng 3,18%; thực phẩm tăng 6,25%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,68%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,42%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,51%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,94%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,43%; giao thông tăng 2,43%; thông tin và truyền thông tăng 1,13%; giáo dục tăng 0,16%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,80%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,17%. Bình quân chung bảy tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,42%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,27%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,47%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,01%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,29%; giao thông tăng 4,34%; thông tin và truyền thông tăng 0,97%; giáo dục tăng 1,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,29%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,67%. Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân bảy tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,75% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,35% do giá nguyên liệu thực phẩm tăng làm chi phí chế biến cao hơn, bên cạnh đó chi phí vận hành như thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng điện, nước, nhiên liệu, vận chuyển tăng khiến giá dịch vụ ăn uống tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 6,12% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, bảo trì, hoàn thiện nhà cửa tăng; đồng thời giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước. (3) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 5,09% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa hè, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (4) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,27% do giá dầu tăng, kéo theo chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất tăng, dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,34%, chủ yếu do giá nhiên liệu, đặc biệt là giá xăng, dầu tăng so với cùng kỳ; đồng thời chi phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện và giá một số dịch vụ vận tải tăng do chi phí đầu vào tăng. Nhu cầu đi lại và hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch phục hồi góp phần làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ vận tải. (6) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 4,29% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí tăng, nhất là trong các dịp nghỉ lễ và mùa du lịch; đồng thời giá một số dịch vụ lưu trú, tham quan, giải trí và lữ hành tăng so với cùng kỳ, góp phần làm tăng chỉ số giá của nhóm này. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 7/2026 giảm 0,99% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 7/2026, giá vàng xấp xỉ 14.858.000 VNĐ/chỉ. Chỉ số giá đô la Mỹ (USD) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 7/2026 giảm 0,14% so với tháng trước, chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường trong nước có xu hướng giảm, trong bối cảnh diễn biến của đồng đô la Mỹ trên thị trường quốc tế và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn có nhiều biến động. Bên cạnh đó, nguồn cung ngoại tệ trong nước được cải thiện, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và làm giá đô la Mỹ giảm so với tháng trước. Tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.283 VNĐ. c) Chỉ số giá sản xuất So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Bảy tăng 0,22%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,10%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 1,70%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,83%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 0,23%; mía cây tươi tăng 0,85%; dưa chuột tăng 2,39%; cà chua tăng 2,45%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 0,29%; sản phẩm cây gia vị hàng năm còn lại tăng 1,57%; nhãn tăng 10,99%; vải tăng 5,22%; quýt tăng 1,16%; ổi tăng 0,91%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 0,44%; cá ngừ thường tăng 1,36%; cá thu tăng 3,50%; cá nục tăng 6,00%; tôm khai thác biển tăng 2,11%; mực ống tăng 1,87%; cá nuôi biển tăng 1,03%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 0,16%; rau lấy lá giảm 0,33%; dưa lấy quả giảm 0,91%; rau họ đậu giảm 0,28%; đậu/đỗ hạt khô các loại giảm 0,37%; hoa các loại giảm 0,45%; chuối giảm 1,69%; mít giảm 3,38%; chanh thường giảm 1,34%; lợn giảm 0,28%; gà giảm 0,27%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 1,70%; tôm nuôi biển còn lại giảm 5,36%; tôm nuôi nội địa giảm 0,39%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa giảm 0,38%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Bảy năm 2026 tăng 4,09%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 3,22%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 17,27%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 8,51%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,53%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 5,50%; mía cây tươi tăng 7,43%; thuốc lá, thuốc lào tăng 4,68%; đậu tương tăng 7,28%; rau lấy lá tăng 7,42%; dưa lấy quả tăng 11,84%; rau họ đậu tăng 5,18%; rau lấy quả 14,65%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 6,01%; nấm trồng các loại tăng 9,72%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 6,38%; hoa hồng tăng 7,39%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 15,83%; xoài tăng 14,42%; ổi tăng 16,10%; chanh thường tăng 22,88%; vải tăng 29,32%; sản phẩm cây chè tăng 9,38%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,54%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 6,76%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 17,27%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 15,53%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng nội địa tăng 6,14%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: sắn/mỳ tươi giảm 0,19%; quả na giảm 2,49%; quýt giảm 1,04%; táo giảm 2,12%; nhãn giảm 3,02%; lợn giảm 0,91%;... So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Bảy năm 2026 tăng 0,67%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,72%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 1,04%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,31%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 3,45%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,08%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 7,14%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,89%; sản phẩm may trang phục tăng 3,59%; giày dép tăng 1,96%; hóa chất cơ bản tăng 1,50%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,21%; sản phẩm từ plastic tăng 1,10%; đá đã được cắt, tạo dáng và hoàn thiện tăng 1,48%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 2,93%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 1,71%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 1,91%; thiết bị nâng, hạ và bốc xếp tăng 1,50%; máy cho ngành dệt, may và da tăng 3,92%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,42%; mô tô, xe máy tăng 1,02%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải tăng 0,92%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại tăng 1,28%; dịch vụ tái chế phế liệu, vật liệu thứ cấp tăng 1,49%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 1,27%; dịch vụ liên quan đến in giảm 1,15%; máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính giảm 18,33%; pin và ắc quy giảm 5,84%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 3,02%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 1,17%; điện sản xuất giảm 1,11%; điện mặt trời giảm 1,76%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 2,30%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Bảy năm 2026 tăng 4,28%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,42%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,91%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,71%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 7,51%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 17,00%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 7,93%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 5,23%; sản phẩm may trang phục tăng 6,17%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,43%; dịch vụ liên quan đến in tăng 8,16%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,89%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 14,17%; sản phẩm vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 5,51%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 12,55%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 33,11%; cấu kiện kim loại tăng 5,32%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 43,94%; máy khai thác mỏ và xây dựng tăng 5,26%; mô tô, xe máy tăng 10,53%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,31%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,38%; điện sản xuất tăng 8,56%; điện mặt trời tăng 5,25%; nước tự nhiên khai thác tăng 7,63%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 18,42%; vải dệt thoi giảm 5,55%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,57%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 2,32%; máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính giảm 2,19%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 3,02%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 11,66%; máy cho ngành dệt, may và da giảm 2,37%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,53%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,75%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 3,27%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,21%;... 6. Hoạt động vận tải Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Bảy ước đạt 2.471 tỷ đồng, tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 16,99% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 17.032 tỷ đồng, tăng 17,50% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Bảy ước đạt 6 triệu lượt người vận chuyển và 562 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 1,33% về lượt người vận chuyển, tăng 1,13% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 14,94% về lượt người vận chuyển, tăng 14,93% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng 7 ước đạt 432 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 15,38% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 41 triệu lượt người vận chuyển và 3.768 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,43% về lượt người vận chuyển và tăng 10,35% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách bảy tháng ước đạt 2.928 tỷ đồng, tăng 12,38% so cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Bảy ước đạt 7 triệu tấn vận chuyển và 1.763 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 0,86% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,32% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 12,05% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 6,74% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.808 tỷ đồng, giảm 0,11% so với tháng trước và tăng 17,28% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 46 triệu tấn vận chuyển và 12.435 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,06% về tấn hàng hóa vận chuyển và 13,28% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa bảy tháng ước đạt 12.567 tỷ đồng, tăng 19,78% so cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Bảy có doanh thu ước đạt 212 tỷ đồng, tăng 1,18% so với tháng trước và tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.373 tỷ đồng, tăng 8,81% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Bảy ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 7,64% so với tháng trước và tăng 43,11% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 163 tỷ đồng, tăng 20,85% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Bảy ước đạt 4.721 tỷ đồng, giảm 11,40% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 4.026 tỷ đồng, giảm 16,66%; thuế xuất nhập khẩu 695 tỷ đồng, tăng 39,65%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 59 tỷ đồng, giảm 29,48%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 555 tỷ đồng, tăng 13,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.306 tỷ đồng, giảm 39,26%; thu thuế thu nhập cá nhân 300 tỷ đồng, tăng 4,37%; các khoản thu về đất 1.560 tỷ đồng, giảm 42,97%;... Tính chung bảy tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 45.944 tỷ đồng, giảm 25,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 54,53% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 41.777 tỷ đồng, giảm 27,91%; thuế xuất nhập khẩu 4.167 tỷ đồng, tăng 14,92%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 782 tỷ đồng, tăng 9,03%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.337 tỷ đồng, tăng 22,50%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 17.605 tỷ đồng, tăng 28,12%; thu lệ phí trước bạ 1.030 tỷ đồng, tăng 7,96%; thuế thu nhập cá nhân 2.098 tỷ đồng, giảm 8,30%; các khoản thu về đất 15.666 tỷ đồng, giảm 56,39%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Bảy ước đạt 4.610 tỷ đồng, tăng 2.379,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.792 tỷ đồng, tăng 1.489,96%; chi thường xuyên 2.818 tỷ đồng, tăng 3.748,77%. Nguyên nhân chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Bảy năm nay tăng rất mạnh so với cùng kỳ năm trước là do từ 01/7/2025, hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, lấy tên là tỉnh Hưng Yên; không tổ chức cấp huyện; sáp nhập cấp xã và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã) theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Sau ngày 01/7/2025, các đơn vị thuộc hệ thống chính trị tiếp tục hoàn thiện nên chưa thực hiện chi nhiều. Tính chung bảy tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 45.127 tỷ đồng, tăng 10,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 28.813 tỷ đồng, tăng 10,69%; chi thường xuyên 16.314 tỷ đồng, tăng 10,67%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 6.090 tỷ đồng, tăng 8,17%; chi sự nghiệp y tế 1.556 tỷ đồng, tăng 18,89%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 180 tỷ đồng, giảm 29,76%; chi đảm bảo xã hội 3.882 tỷ đồng, tăng 135,84%; chi quản lý hành chính 2.899 tỷ đồng, giảm 25,03%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/7/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 335.000 tỷ đồng, tăng 8,30% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 330.000 tỷ đồng, tăng 7,41% và chiếm 98,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 5.000 tỷ đồng, tăng 139,46% và chiếm 1,49%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/7/2026 đạt 285.000 tỷ đồng, tăng 7,58% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 199.400 tỷ đồng, tăng 3,99%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 85.600 tỷ đồng, tăng 17,0%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 274.500 tỷ đồng, tăng 6,17%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 10.500 tỷ đồng, tăng 64,71%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 182.140 tỷ đồng, tăng 4,90% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 118.500 tỷ đồng, tăng 3,65%; xuất khẩu 1.715 tỷ đồng, tăng 5,86%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 56.500 tỷ đồng, tăng 7,94%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/7/2026 ước tính là 1.700 tỷ đồng (chiếm 0,60% dư nợ tín dụng), giảm 9,72% so với với thời điểm 31/12/2025. d) Bảo hiểm xã hội Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 6 năm 2026 là 667.969 người, tăng 74.965 người, tương ứng tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước; tăng 30.638 người, tương ứng tăng 4,8% so với năm 2025, đạt 97,1% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 103,9% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 6/2026. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 51,21% so với lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó: số người tham gia BHXH bắt buộc 578.790 người, tăng 64.372 người (tăng 12,5%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 32.494 người (tăng 5,9%) so với năm 2025; số người tham gia BHXH tự nguyện 89.179 người (bao gồm 9.521 người bảo lưu năm 2025), tăng 10.593 người (tăng 13,5%) so với tháng trước, giảm 1.856 người (giảm 2%) so với năm 2025. Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 30/6/2026 là 555.640 người, tăng 60.785 người (tăng 12,3%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 27.376 người (tăng 5,2%) so với năm 2025. Số người tham gia BHYT là 2.956.904 người (bao gồm 126.652 người bảo lưu năm 2025), tăng 157.337 người (tăng 5,6%) so với cùng kỳ năm trước, tăng 33.338 người (tăng 1,1%) so với năm 2025. Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 6/2026 là 8.562,7 tỷ đồng, tăng 771 tỷ đồng (tăng 9,9%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 48,4% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 6/2026 đạt 1.044,6 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 6/2026, chi BHXH 6.044,1 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.673,8 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 4.370,3 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 6/2026 là 153,6 tỷ đồng. Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 6/2026 là 342,9 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 6/2026, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 1.849,2 tỷ đồng, tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 727,3 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.121,9 tỷ đồng. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Lao động việc làm và an sinh xã hội Lao động việc làm: Trong tháng Bảy, tổng số lao động được giải quyết việc làm 5.200 người, trong đó xuất khẩu lao động là 720 người. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 1.360 người; tư vấn giới 2 thiệu việc làm cho 4.100 người. Xác nhận việc gửi bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 166 lao động; tiếp tục tiến hành điều tra 17 vụ tai nạn lao động. Tính chung bảy tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 36.120 người (đạt 60,2% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 4.040 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 6.530 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 20.000 người. Toàn tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lực lượng lao động và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như: tổ chức Hội nghị kết nối, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp năm 2026; ký kết với tỉnh Lào Cai và Lai Châu bản ghi nhớ hợp tác về việc phối hợp cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; tổ chức “Ngày hội tư vấn, định hướng nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động năm 2026”. Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 5.000 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 3.270 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 1.055 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 246 lượt doanh nghiệp. Tiếp nhận 615 lượt doanh nghiệp khai báo sử dụng 4.129 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 42 lượt doanh nghiệp với 12.727 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 77 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm. Công tác Người có công: Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Sở Nội vụ tiếp tục phối hợp với các địa phương rà soát, tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt danh sách và kinh phí tặng quà của Chủ tịch nước đối với 104.681 người có công, với tổng kinh phí trên 32,1 tỷ đồng; đồng thời tham mưu triển khai tặng quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đối với 115.490 người có công, với tổng kinh phí 103,941 tỷ đồng. Tổ chức các đoàn lãnh đạo tỉnh dâng hương, viếng các nghĩa trang liệt sĩ quốc gia, thăm hỏi, tặng quà người có công và thân nhân người có công; phối hợp triển khai các hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, góp phần lan tỏa sâu rộng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” trên địa bàn tỉnh. Công tác giải quyết chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ đầu năm đến nay đã tham mưu giải quyết trên 8.700 hồ sơ thủ tục hành chính, 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Tỷ lệ chi trả trợ cấp ưu đãi qua tài khoản đạt 95,56%. Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 21/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, đến ngày 15/7/2026, tỉnh đã bàn giao 955 mẫu hài cốt liệt sĩ cho Viện Pháp y Quân đội để phục vụ công tác giám định; thực hiện Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 06/5/2026 về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, qua rà soát có 105 trường hợp đủ điều kiện hỗ trợ và đang được thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Bảo tàng tỉnh mở cửa trưng bày đón, phục vụ 72 lượt khách tham quan; sưu tầm 76 tài liệu, hiện vật tại cơ sở phục vụ trưng bày Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam; dàn dựng trưng bày chuyên đề: “Danh nhân văn hóa, nhà bác học Lê Quý Đôn - Cuộc đời và sự nghiệp”. Tổ chức tập huấn xây dựng Hồ sơ Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên để trình UNESCO ghi danh “Tri thức dân gian trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên” vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Mở cửa trưng bày đón 259 lượt khách tham quan, 05 đoàn, viết và đăng tải 07 tin bài; phối hợp với Trung tâm hoạt động Văn hóa, khoa học Văn miếu - Quốc Tử Giám khai mạc trưng bày chuyên đề “Quốc Tử Giám Thăng Long với truyền thống hiếu học tỉnh Hưng Yên”; hoàn thiện và bàn giao trưng bày chuyên đề: “Danh nhân Văn hóa, nhà bác học Lê Quý Đôn - Cuộc đời và sự nghiệp” cho Ủy ban nhân dân xã Lê Quý Đôn; xuất bản sách “Sắc phong tỉnh Hưng Yên tập VI”. Tỉnh tổ chức xe ô tô đi tuyên truyền kỷ niệm ngày gia đình Việt Nam 28/6; kỷ niệm 111 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (01/7/1915 - 01/7/2026). Tỉnh tổ chức thành công Hội nghị kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026) và tuyên dương gia đình văn hóa tiêu biểu tỉnh Hưng Yên; thành lập Đoàn tham gia Ngày hội gia đình tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam năm 2026. Tập luyện Chương trình tham gia Hội diễn Đàn, Hát dân ca 3 miền; sưu tầm tư liệu, hình ảnh tham gia trưng bày triển lãm kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn (1726 - 2026); tuyên truyền kỷ niệm 111 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (01/7/1915 - 01/7/2026). Thư viện tỉnh: Viết các tin, bài về hoạt động thư viện đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh. Tổ chức sưu tầm, bổ sung sách báo thường xuyên cho thư viện phục vụ bạn đọc. Lựa chọn tài liệu xếp 8 mô hình tuyên truyền kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn tại Khu lưu niệm và tại Thư viện tỉnh. Về nghệ thuật biểu diễn: tỉnh chấp thuận biểu diễn nghệ thuật cho 03 doanh nghiệp. Tổ chức 05 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp; phục dựng vở chèo “Bảng nhãn Lê Quý Đôn”; dàn dựng vở chèo “Bản hùng ca xứ Nhãn”. Trung tâm văn hóa – Điện ảnh tỉnh tổ chức 82 buổi chiếu phim (22 buổi lưu động, 60 buổi tại rạp) thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ Nhân dân, khán giả. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026; Kế hoạch số 247/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên. b) Hoạt động thể dục thể thao Về thể dục thể thao cho mọi người: Tham mưu UBND tỉnh: (1) Ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026 và thành lập các Tiểu ban phục vụ Lễ khai mạc; (2) quyết định thành lập Câu lạc bộ Bóng đá KBC Hưng Yên. Tổ chức thành công: Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước tỉnh Hưng Yên năm 2026; giải Pickeball, Bơi, Bóng bàn. Thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh môn Karate, Bơi lặn; chấp thuận cho 02 đơn vị tổ chức thi đấu thể thao. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Trong tháng Bảy, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham dự 12 giải thể thao quốc gia và 01 giải quốc tế, đạt 75 huy chương các loại, trong đó 17 HCV, 12 HCB, 46 HCĐ (01 HCV quốc tế, VĐV Vũ Ngọc Khánh, môn Điền kinh gia tham giải vô địch Châu Á 2026). Đội Bóng đá nhi đồng của tỉnh giành quyền vào thi đấu vòng chung kết giải Bóng đá Nhi đồng U11 toàn quốc Cúp Nestlé Milo năm 2026. Tập trung triển khai Kế hoạch tập huấn các đội tuyển trong chương trình thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. c) Hoạt động du lịch Hoạt động quảng bá, xúc tiến, thông tin du lịch: Đăng ký hoạt động, sự kiện hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia 2027; đăng ký tham gia Triển lãm “Không gian Du lịch Di sản văn hóa và sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam”; triển khai xây dựng biển quảng cáo tấm lớn tại 03 điểm: Cồn Vành, Cồn Đen và Chùa Keo; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Hưng Yên; tuyền truyền kỷ niệm 66 năm ngày thành lập ngày Du lịch Việt Nam; hỗ trợ đoàn phim Đài truyền hình Việt Nam thực hiện series chương trình Hành trình vẻ đẹp tại Hưng Yên; viết bài, đăng tải, đưa tin trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube (01banner, 8 bài, 01 video; chia sẻ 52 link thu hút hơn 3.000 lượt truy cập), cập nhật thông tin số hóa bản đồ du lịch Hưng Yên; địa chỉ Google Maps trên https://hungyentourism.com.vn. Chuyển đổi số về du lịch: Tiếp tục phối hợp VNPT chỉnh sửa thiết kế, giao diện, tin bài, văn bản trên Cổng du lịch thông minh; phối hợp với cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch (khách sạn, công ty tour) cập nhật thông tin liên hệ trên Cổng du lịch thông minh. Đầu tư phát triển du lịch: Thẩm định đề xuất dự án Khu đô thị du lịch sinh thái Tống Trân; cử cán bộ tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án WB10; tham gia góp ý dự thảo Chương trình hành động của Bộ VHTTDL thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045. 3. Giáo dục, đào tạo Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Kỳ thi tổ chức từ ngày 10-12/6/2026. Toàn tỉnh có 70 điểm thi, 43.666 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: 41.791 thí sinh học lớp 12; 1.875 thí sinh tự do (thí sinh tự do chưa tốt nghiệp: 51, thí sinh tự do đã tốt nghiệp: 1.824); 36.816 thí sinh học chương trình giáo dục THPT; 6.850 thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên: 6.850. Kết quả: Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Hưng Yên xếp thứ 9/34 tỉnh, thành phố về điểm trung bình các môn (tăng 2 thứ hạng so với năm 2025), trong đó môn Toán xếp thứ 5; môn Công nghệ Nông nghiệp xếp thứ 5; môn Tin học xếp thứ 7; toàn tỉnh có 409 điểm 10 (trong đó môn Giáo dục kinh tế pháp luật thí sinh Hưng Yên là 1 trong 2 thí sinh của toàn quốc đạt điểm 10); có 01 học sinh đạt thủ khoa toàn quốc khối A01, 01 học sinh đạt á khoa toàn quốc khối A00. Trong tháng, toàn ngành giáo dục của tỉnh đã tổ chức Hội nghị tuyên dương khen thưởng cho 276 học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi năm học 2025-2026. Hoàn thành xét tuyển nguyện vọng 2 và hướng dẫn xét tuyển bổ sung vào lớp 10 THPT công lập năm học 2026-2027. 4. Hoạt động Y tế Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Hè; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 07 xảy ra: Tay chân miệng 244 ca; Sởi 22 ca; Ho gà 02 ca; Lao phổi 24 ca; VGB 47 ca; Bệnh do Adeno vi rút 40 ca; Cúm 2.588 ca; Quai bị 05 ca; Thủy đậu 15 ca; Tiêu chảy 1.042 ca; VG virut khác 05 ca; Covid 55 ca. Công tác phòng, chống sốt xuất huyết tiếp tục được triển khai đồng bộ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Trong tháng ghi nhận 25 ca mắc, trong đó có 13 ca nội sinh (tích lũy từ đầu năm là 128 ca, trong đó có 57 ca nội sinh). Các chùm ca bệnh và ổ dịch phát hiện đều được xử lý kịp thời, đúng quy định; không để dịch lan rộng, góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng. Trong tháng 7/2026, không ghi nhận ca bệnh sốt rét, đồng thời không phát hiện ổ dịch sốt rét phát sinh. Tình hình dịch HIV/AIDS: Trong tháng Bảy, toàn tỉnh phát hiện 05 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.575 người thuộc 104/104 xã, phường), có 01 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.324 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/7/2026 là: 1.476 người. Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tỉnh tổ chức giám sát đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm phục vụ Đại lễ cầu quốc thái dân an và cầu siêu, tưởng niệm, tri ân các anh hùng liệt sĩ tỉnh Hưng Yên, các hoạt động hưởng ứng ngày Dân số Thế giới (11/7) năm 2026, Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Hưng Yên lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 2031. Kết quả: Tổng số suất ăn: khoảng 2.870 suất ăn. Tổ chức lấy 130 mẫu nguyên liệu, thực phẩm thực hiện xét nghiệm nhanh, kết quả: 130/130 mẫu âm tính với các chỉ tiêu Sabutamol, dư lượng thuốc thuốc trừ sâu, Salicylic, Ure,... và đo nồng độ Nitrat trong giới hạn cho phép; lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định. Công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong thời gian diễn ra Đại lễ, hội nghị: thực hiện đúng theo quy định, không có trường hợp bị ngộ độc thực phẩm. Trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh không có vụ ngộ độc lớn xảy ra. 5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ Trong tháng Bảy (từ ngày 24/6/2026 - 23/7/2026), toàn tỉnh phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 514 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 01 vụ, tương ứng tăng 4,55%. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 16 vụ, tăng 228,57%. Lũy kế bảy tháng năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 68 vụ vi phạm, đã xử lý 80 vụ với số tiền xử phạt 3.878 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 53 vụ, tương ứng giảm 43,80%; số vụ đã xử lý tăng 1 vụ, tăng 1,27%; số tiền xử phạt giảm 559 triệu đồng, giảm 12,61%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là đổ rác thải, xả thải không đúng quy định, với mức xử phạt hành chính tương đối thấp. Từ ngày 15/6/2026 đến ngày 14/7/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 04 vụ cháy (xã Kiến Xương 01 vụ, xã Bình Thanh 01 vụ, xã Nghĩa Trụ 01 vụ, xã Nam Thụy Anh 01 vụ); không có vụ nổ; làm bị thương 01 người; không có người chết; giá trị thiệt hại về tài sản là 171,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, tổng số vụ cháy, nổ bằng với cùng kỳ năm trước, số người chết giảm 07 người, số người bị thương bằng với cùng kỳ năm trước. Lũy kế bảy tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản là 4.161,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ cháy, nổ tăng 6 vụ, tăng 28,57%: số người chết giảm 06 người, giảm 85,71%; số người bị thương giảm 5 người, giảm 62,50%. 6. An toàn giao thông Từ ngày 15/6/2026 đến ngày 14/7/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 24 người; làm bị thương 11 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 15,15%; số người chết giảm 04 người, giảm 14,29%; số người bị thương tăng 05 người, tăng 83,33%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 22 vụ, giảm 44,0%; số người chết giảm 03 người, giảm 11,11%; số người bị thương giảm 23 người, giảm 67,65%. Lũy kế bảy tháng năm 2026 (từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/7/2026), toàn tỉnh xảy ra 262 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 259 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết 186 người (đường bộ 185 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 132 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 65 vụ, giảm 19,88%; số người chết giảm 04 người, giảm 2,11%; số người bị thương giảm 69 người, giảm 34,33%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm biệt nghiêm trọng.

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2026
  •   27/10/2026 08:53

Sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài, tác động mạnh đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa cơ bản, dịch vụ vận tải và thương mại toàn cầu. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo; tuy nhiên, áp lực điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng, kiểm soát lạm phát còn rất lớn,... Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo của Trung ương; nắm chắc tình hình, chủ động có giải pháp ứng phó, thích ứng linh hoạt, kịp thời, chắc chắn trước các vấn đề phát sinh; đổi mới, sáng tạo, đột phá, quyết liệt chỉ đạo, điều hành trên các lĩnh vực; quyết liệt chỉ đạo công tác thu ngân sách, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư; tổ chức làm việc với các sở, ngành, xã, phường trong tỉnh, rà soát các “điểm nghẽn”, “rào cản” trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương để có giải pháp tháo gỡ kịp thời... Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sát, kịp thời, có trọng tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; sự chủ động, tích cực của các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh; sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong sáu tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực. I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,72% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,71% (đóng góp 0,42 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); công nghiệp và xây dựng tăng 14,26% (đóng góp 7,51 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); khu vực thương mại, dịch vụ tăng 8,87% (đóng góp 2,28 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,28% (đóng góp 3,28 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh). Như vậy, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh đạt mức khá cao, bảo đảm mức tăng trưởng hai con số. So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 4/6 tỉnh, thành phố và xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng của các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Ninh Bình tăng 11,44%; Hải Phòng tăng 11,33%; Quảng Ninh tăng 11,11%; Bắc Ninh tăng 10,56%; Hà Nội tăng 8,22%. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: Trong sáu tháng đầu năm 2026, thời tiết tương đối thuận lợi, không có dich bệnh xảy ra đối với cây trồng, vật nuôi. Sơ bộ diện tích gieo trồng vụ đông xuân năm 2026 ước đạt 157.149 ha, giảm 2,21% (giảm 3.543 ha) so với năm 2025. Trong cơ cấu cây trồng, diện tích lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất - chiếm 60,49% với 95.054 ha, giảm 1,91% (giảm 1.755 ha). Qua khảo sát cho thấy, năng suất của hầu hết các loại cây hằng năm vụ đông xuân đều tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Ước tính trong sáu tháng năm nay, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh được đẩy mạnh nên sản lượng thủy sản tiếp tục có xu hướng tăng. Tính chung sau tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 114.721 tấn, tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước. Sản xuất công nghiệp và xây dựng: Sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá như: sản xuất trang phục tăng 22,21%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 28,41%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,09%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,46%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,34%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 21,76%... tuy nhiên, cũng có một số ngành có kết quả giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 23,60%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,32%; dệt tăng 3,23%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,36%;... Hoạt động xây dựng trong sáu tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên duy trì đà tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất theo giá so sánh của ngành xây dựng tăng 13,38% so với cùng kỳ năm trước. Các khu công nghiệp; các công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông, tiếp tục được tập trung đầu tư, nâng cấp và mở rộng theo quy hoạch phát triển đô thị và vùng; các dự án khu đô thị lớn, hiện đại được triển khai như khu đô thị Ecopark; Vinhomes Ocean Park 2, 3; khu đô thị Phố Nối;... cùng với các dự án nhà ở xã hội tại một số địa phương đã tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Khu vực dịch vụ có tăng trưởng đạt 8,87%. Hầu hết các ngành dịch vụ đều duy trì mức tăng trưởng khá, như: ngành thương nghiệp tăng 12,55%; vận tải, kho bãi tăng 9,57%; lưu trú và ăn uống tăng 7,14%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,51%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 13,52%; hoạt động vui chơi và giải trí tăng 10,01%; giáo dục và đào tạo tăng 8,0%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,12%;... 2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản a) Nông nghiệp Trồng trọt Cây hằng năm: Diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông xuân năm 2026 trên địa bàn tỉnh ước đạt 157.149 ha, giảm 2,21% (giảm 3.543,48 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa 95.054 ha, giảm 1,81% tương đương giảm 1.755,28 ha. Diện tích gieo một số cây hàng năm khác như sau: ngô 8.984 ha, giảm 3,89%; cây lấy củ có chất bột 6.171 ha, giảm 1,97%; cây có hạt chứa dầu 3.832 ha, giảm 0,75%; cây rau, đậu, hoa các loại 39.884 ha, giảm 3,27%; cây hằng năm khác đạt 2.745 ha, tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng vụ đông xuân năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích lúa giảm là yếu tố chủ yếu làm giảm diện tích gieo trồng chung. Nguyên nhân chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp để triển khai các dự án công nghiệp, đô thị và hạ tầng kỹ thuật như Khu công nghiệp Kim Động, Khu công nghiệp số 5, KCN VSIP Thái Bình, KCN Hải Long và một số dự án khác trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, một số diện tích được chuyển sang trồng cây lâu năm, cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn hoặc tạm thời không đưa vào sản xuất. Cụ thể: 1.828 ha chuyển sang đất phi nông nghiệp; chuyển sang cây hằng năm khác 23,5 ha; chuyển sang cây lâu năm 26,5 ha; chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản 18,5 ha; bỏ hoang 126,8 ha. Vụ đông xuân năm 2026, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi: rét đậm không kéo dài; đầu vụ xuân, thời tiết khô hanh, có nắng, thuận lợi cho làm đất (100% diện tích lúa Xuân đã được cày ải đúng kế hoạch). Công tác cung ứng giống, phân bón, nước tưới được triển khai kịp thời, đồng bộ, góp phần bảo đảm khung thời vụ. Trên cây lúa, các đối tượng sâu bệnh chính như bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá nhỏ, rầy các loại, bệnh khô vằn, sâu đục thân, chuột và ốc bươu vàng phát sinh ở mức độ từ nhẹ đến trung bình, được kiểm soát hiệu quả, không để phát sinh dịch lớn gây thiệt hại trên diện rộng; tổng diện tích được hướng dẫn và tổ chức phòng trừ các đối tượng sinh vật gây hại đạt hàng chục nghìn ha, góp phần bảo vệ an toàn sản xuất vụ Xuân. Trên cây rau màu và cây ăn quả, các đối tượng sâu bệnh hại chính như sâu keo mùa thu trên ngô, sâu vẽ bùa, nhện đỏ trên cây có múi; bệnh sương mai, thán thư, sâu đục cuống quả trên nhãn, vải được theo dõi chặt chẽ và hướng dẫn phòng trừ kịp thời, hạn chế thiệt hại cho sản xuất. Hiện nay, các cây trồng đang phát triển tốt, hứa hẹn năng suất, sản lượng ổn định. Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến thời điểm ngày 20/6/2026, toàn tỉnh cơ bản đã thu hoạch xong diện tích lúa đông xuân. Mặc dù đầu vụ có khô hạn nhẹ, nhưng điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi với nền nhiệt ấm sớm, mưa rào cuối vụ hợp lý. Các địa phương thực hiện tốt lịch thời vụ, cơ cấu giống hợp lý; người dân áp dụng kỹ thuật canh tác đồng bộ nên lúa sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh. Đánh giá chung, vụ lúa xuân năm nay được mùa. Ước tính năng suất và sản lượng của một số cây trồng vụ đông xuân năm 2026 như sau: năng suất lúa xuân 70,70 tạ/ha, tăng 0,41% (tăng 0,29 tạ/ha), sản lượng lúa xuân 672.030 tấn, giảm 1,41% (giảm 9.595 tấn) so với cùng kỳ năm trước; năng suất ngô 61,08 tạ/ha, tăng 0,99% (tăng 0,60 tạ/ha), sản lượng ngô 54.869 tấn, giảm 2,95% (giảm 1.666 tấn); năng suất đậu tương 18,73 tạ/ha, tăng 0,32% (tăng 0,06 tạ/ha), sản lượng 1.974 tấn, tăng 9,61% (tăng 173,14%); năng suất rau các loại 246,39 tạ/ha, giảm 0,59% (giảm 1,45 tạ/ha), sản lượng rau các loại 931.217 tấn, giảm 3,81% (giảm 36.923 tạ/ha);... Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm của Hưng Yên cơ bản ổn định. Ước tính tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm sáu tháng đầu năm 2026 đạt 23.716 ha, tăng 0,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây ăn quả (chiếm 85,61% diện tích) đạt 20.302 ha, tăng 0,06% (tương ứng tăng 12,10 ha). Ước tính diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như: cây chuối 4.684 ha, giảm 2,14% (giảm 102 ha); cây ổi 1.105 ha, tăng 0,81% (tăng 9 ha); cây cam 1.831 ha, giảm 0,73% (giảm 14 ha); cây bưởi 2.483 ha, tăng 1,0% (tăng 25 ha), cây nhãn 5.690 ha, tăng 0,08% (tăng 4 ha); cây vải 1.802 ha, tăng 1,75% (tăng 31 ha). So với cùng kỳ năm trước, diện tích bưởi, vải, ổi và nhãn tiếp tục tăng, trong khi diện tích chuối và cam giảm do người dân chuyển đổi những diện tích cây ăn quả già cỗi, hiệu quả kinh tế thấp sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn hoặc dễ chăm sóc, phù hợp với nhu cầu thị trường. Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu như sau: chuối 82.300 tấn, tăng 4,11% (tăng 3.250 tấn); ổi 13.800 tấn, tăng 5,05% (tăng 663 tấn); đu đủ 3.720 tấn, tăng 3,65% (tăng 131 tấn); cam 22.860 tấn, tăng 0,34% (tăng 78 tấn); táo 4.600 tấn, tăng 1,55% (tăng 70 tấn). Từ giữa tháng Năm đến hết tháng Sáu, trên địa bàn các xã Tống Trân, Đoàn Đào, Tiên Tiến, Nguyễn Trãi, các nhà vườn bước vào cao điểm thu hoạch vải lai chín sớm và vải trứng Hưng Yên. Năm nay, do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất lợi trong giai đoạn phân hóa mầm hoa và đậu quả nên tỷ lệ đậu quả thấp hơn năm trước, dẫn đến sản lượng vải dự kiến giảm. Mặc dù vậy, chất lượng quả nhìn chung vẫn được bảo đảm, mẫu mã đẹp, vị ngọt đậm và giá bán tương đối thuận lợi. Đối với cây nhãn - cây trồng đặc sản của tỉnh, phần lớn diện tích đang trong giai đoạn phát triển quả. Hiện các nhà vườn tập trung thực hiện các biện pháp chăm sóc như tỉa cành, tạo tán, bón phân, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh nhằm nâng cao chất lượng quả. Năm nay cây nhãn có tỷ lệ ra hoa, đậu quả thấp hơn cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, dẫn đến sản lượng dự kiến giảm đáng kể. Chăn nuôi  Tình hình chăn nuôi trên địa bản tỉnh Hưng Yên trong tháng cơ bản ổn định và phát triển, con giống tiếp tục được sản xuất tại các trang trại, hộ chăn nuôi đảm bảo các điều kiện an toàn sinh học, phục vụ cho công tác tái đàn năm 2026. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được các cấp các ngành quan tâm chỉ đạo. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trong tháng cơ bản được kiểm soát tốt. Không ghi nhận trường hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên địa bàn tỉnh. Công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được các ngành chức năng và địa phương triển khai thường xuyên, góp phần bảo đảm an toàn cho sản xuất chăn nuôi. Trong 6 tháng đầu năm, từ nguồn vắc xin hỗ trợ của tỉnh, các địa phương đã thực hiện tiêm được: 44.890 liều vắc xin Dịch tả lợn; 33.725 liều vắc xin Lở mồm long móng; 126.360 liều vắc xin Tai xanh; 41.630 liều vắc xin Viêm da nổi cục; 40.600 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò; 3.296.600 liều vắc xin Cúm gia cầm. Việc triển khai tiêm phòng được thực hiện đồng bộ, đúng kế hoạch, góp phần nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong đàn vật nuôi, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển ổn định. Ước tính tại thời điểm 30/06/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.015 con, giảm 7,48%; đàn bò 73.503 con, giảm 10,31%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.025.315 con, giảm 1,19%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 23.039 nghìn con, giảm 2,96% (trong đó: đàn gà đạt 17.050 nghìn con, giảm 1,60%) so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng toàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 ước ước tính như sau: thịt trâu 751 tấn, tăng 3,87%; thịt bò 7.445 tấn, tăng 3,89%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 148.460 tấn, tăng 5,90%; sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng đạt 56.325 tấn, tăng 4,11% (trong đó thịt gà 42.990 tấn, tăng 4,23%); sản lượng trứng gia cầm 513.658 nghìn quả, tăng 3,89%; sản lượng sữa 5.120 tấn, giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước. b) Lâm nghiệp Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được các địa phương, đơn vị chức năng triển khai hiệu quả; không xảy ra cháy rừng, phá rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng Sáu ước đạt 8 ha, tăng 14,29%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 825 m³, tăng 0,73%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 281 nghìn cây, tăng 0,90% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 8 ha, tăng 14,29%, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 2.660 m³, tăng 0,23%; sản lượng củi ước đạt 6.560 ster, giảm 0,02 % so với cùng kỳ năm trước. c) Sản xuất thủy sản Sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 173.855 tấn, tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 87.476 tấn, tăng 3,26%; tôm 2.316 tấn, tăng 3,09%; thủy sản khác 84.066 tấn, tăng 3,54%. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Sáu ước đạt 10.067 tấn, tăng 3,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.222 tấn, tăng 3,62%; tôm 128 tấn, tăng 3,44%; thủy sản khác 3.717 tấn, tăng 3,27%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 56.952 tấn, tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 35.210 tấn, tăng 2,93%; tôm 775 tấn, tăng 3,54%; thủy sản khác 20.967 tấn, tăng 3,34%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định. Các hình thức nuôi ngày càng đa dạng, từng bước được đầu tư theo hướng thâm canh, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong sáu tháng đầu năm 2026, thời tiết tương đối thuận lợi, môi trường nước ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng và phát triển tốt. Người nuôi chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong quản lý môi trường, lựa chọn con giống chất lượng và phòng, chống dịch bệnh, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng nuôi trồng. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Sáu ước đạt 19.217 tấn, tăng 3,66% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.818 tấn, tăng 3,59%; tôm 378 tấn, tăng 3,57%; thủy sản khác 10.021 tấn, tăng 3,73%. Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 114.721 tấn, tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 50.517 tấn, tăng 3,62%; tôm 1.406 tấn, tăng 3,44%; thủy sản khác 62.799 tấn, tăng 3,63%. 3. Công nghiệp, xây dựng a) Chỉ số sản xuất công nghiệp Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Sáu và sáu tháng năm 2026 như sau: So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Sáu tăng 0,03%, trong đó: khai khoáng tăng 0,21%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,12%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,36%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,36%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 45,51%; khí tự nhiên dạng khí tăng 19,23%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 5,95%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 5,39%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 5,03%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 3,7%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: tôm đông lạnh giảm 33,33%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 26,16%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 24,0%; quần áo các loại giảm 15,28%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 11,13%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 10,05%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu tăng 16,56%, trong đó: khai khoáng giảm 7,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,82%; sản xuất và phân phối điện tăng 22,45%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,04%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 60,64%; mạch điện tử tích hợp tăng 56,15%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 53,99%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 52,99%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 51,91%; Nitơrat Amoni tăng 36,38%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 32,40%; điện sản xuất tăng 27,90%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 26,07%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 25,95%;.... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 43,43%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 17,72%; tôm đông lạnh giảm 17,70%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 13,55%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 10,28%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 2,90%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 1,93%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 0,52%;...Chỉ số sản xuất công nghiệp (%) T6.2026T6.2025 6T.20266T.2025 Chung toàn ngành CN 116,56 115,15 Khai khoáng 92,01 104,03 Công nghiệp chế biến, chế tạo 115,82 115,96 SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng 122,45 107,26 Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải 122,04 115,04 Trong quý II năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 15,75% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: khai khoáng giảm 3,10%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,62%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,24%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 23,40%. Một số sản phẩm công nghiệp có khối lượng sản xuất trong quý II tăng so với cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 57,17%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 47,21%; mạch điện tử tích hợp tăng 40,62%; sắt, thép các loại tăng 39,84%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,…) tăng 26,09%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 22,17%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 16,39%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 15,73%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 15,26%; điện sản xuất tăng 14,39%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 14,20%;.... Các sản phẩm trong quý II giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 38,28%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 10,40%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 9,58%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 6,95%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 6,03%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 2,96%; tôm đông lạnh giảm 2,14%;.... Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 4,03%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 17,62%; khai khoáng khác tăng 4,03%. Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,96%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 80,37%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 34,13%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 30,55%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 28,41%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,09%; sản xuất trang phục tăng 22,21%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 21,76%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,46%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,34%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,82%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 23,60%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,32%; dệt tăng 3,23%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,36%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,87%;…… Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong sáu tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia cầm tăng 86,03%; quần áo các loại tăng 56,12%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 47,38%; mạch điện tử tích hợp tăng 40,00%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 27,74%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 23,01%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 18,22%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 16,41%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 16,03%; mạch in khác tăng 14,09%;.... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,58%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 16,04%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 7,08%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 3,15%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 0,47%.... Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Việc bảo đảm nguồn điện sản xuất và phân phối điện là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và khu vực miền Bắc là nhiệm vụ quan trọng của ngành điện tỉnh Hưng Yên. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện sáu tháng đầu năm 2026 của tỉnh tăng 7,26% so với cùng kỳ, sản lượng điện sản xuất ước đạt 6.128 triệu Kwh tăng 9,58% so với cùng kỳ và điện thương phẩm đạt 5.750 triệu Kwh tăng 14,15% so với cùng kỳ. Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải 6 tháng đầu năm 2026 tăng 15,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,68%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 2,99%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 15,86%. Trong sáu tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH thương mại và CN Mỹ Việt sản phẩm sản xuất (SPSX) tăng 7,46%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 22,19%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 9,2%; Công ty TNHH Kết cấu thép Cơ khí Xây dựng tăng 44,49%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 45,87%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam tăng 33,36%; Công ty Tôn Vikor tăng 28,3%; Công ty TNHH Quốc tế Công cụ Đỉnh Lực tăng 9,53%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 44,93%; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Hương Linh tăng 11,43%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 19,6%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 36,06%; Công ty Cổ phần Bảo Hưng tăng 45,74%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 36,14%; CN Công ty May 10 tăng 13,7%; CN Công ty Cổ phần Sản xuất Hàng thể thao tăng rất cao - tăng 251,5%; Công ty TNHH TAV tăng 13,39%; Công ty TNHH MXP tăng 61,06%; Công ty May xuất khẩu Việt Thái tăng 21,23%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 18,75%; Công ty TNHH PS Vina tăng 10,10 %; Công ty Cổ phần May Hà Thành tăng 336,05%; Công ty TNHH May mặc V.J.ONE tăng 44,34%; Công ty Cổ phần Đô Lương tăng 114,84%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 30,14%; Công ty TNHH Greenworks (sản xuất máy cắt cỏ) tăng 204,15%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 9,7%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 10,76%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 76,89%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 11,77%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 12,7%; Công ty Thép không gỉ Hà Anh tăng 23,99%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 12,51%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 44,64%; Công ty TNHH Thép dây Hoà Phát tăng 54,0%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 15,83%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 10,37%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 24,91%; Công ty TNHH Jp corelex Việt Nam tăng 13,09%; Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm tăng 5,06%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 14,33%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 23,1%; Công ty TNHH Chung Phát Hưng Yên tăng 96,97%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 4,36%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 49,86%; Công ty TNHH Hsin Yue Hsing tăng 38,91%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 6,57%; Công ty TNHH thiết bị điện Lioa tăng 36,78%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 6,68%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 35,51%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 10,83%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 25,10%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 2,29%;... Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 11,36%; CN Công ty Cổ phần Daikin giảm 23,13%; Công ty TNHH Thép Chính Đại giảm 6,91%; Công ty Cổ phần Thép Việt Ý giảm 15,9%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 4,95%; CN Công ty Cổ phần Giày Thăng Long giảm 24,46%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,6%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 66,36%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 14,67%; Công ty Cổ phần Khu công nghiệp TBS Sông Trà giảm 18,14%;... b) Chỉ số sử dụng lao động Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tại thời điểm cuối tháng Sáu tăng 4,05% so với tháng 6/2025, so với tháng trước tăng 0,59%, cộng dồn sáu tháng tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tháng Sáu tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện ổn định và có sự phát triển khá. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 40,41%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,20%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 22,42%; sản xuất đồ uống tăng 18,76%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,21%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,41%;... Bên cạnh đó, trong sáu tháng đầu năm, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,22%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 5,22%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,78%; dệt giảm 4,41%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,95%;... c) Hoạt động xây dựng Hoạt động xây dựng trong sáu tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên duy trì đà tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các dự án hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị được triển khai đồng bộ, tạo động lực thúc đẩy ngành xây dựng phát triển. Hiện nay, trên địa bàn có 38 khu công nghiệp được quy hoạch phát triển. Trong đó, 19 khu công nghiệp đã được phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; 8 khu công nghiệp đang lập. Trong năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp nhằm tăng khả năng thu hút đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh. Song song với phát triển công nghiệp, lĩnh vực bất động sản và nhà ở tiếp tục là điểm sáng. Đề án đưa 48 xã lên phường đang được tăng tốc nhằm mở rộng mạng lưới đô thị. Nhiều dự án khu đô thị lớn, hiện đại được triển khai như khu đô thị Ecopark; Vinhomes Ocean Park 2, 3; khu đô thị Phố Nối,... cùng với các dự án nhà ở xã hội tại một số địa phương. Các dự án này góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng. Bên cạnh đó, các công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông, tiếp tục được tập trung đầu tư, nâng cấp và mở rộng theo quy hoạch phát triển đô thị và vùng. Công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh được thực hiện quyết liệt; tiến độ thi công các công trình, nhất là công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, được kiểm tra, đôn đốc thường xuyên. Khu vực dân cư duy trì hoạt động xây dựng ổn định; nhiều hộ gia đình đầu tư xây dựng, sửa chữa nhà ở, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh. Khu vực doanh nghiệp tiếp tục mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất. Giá trị sản xuất xây dựng toàn tỉnh sáu tháng đầu năm nay theo giá so sánh ước đạt 46.998 tỷ đồng, tăng 13,38% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: giá trị công trình nhà để ở ước đạt 23.218 tỷ đồng, tăng 15,89%; giá trị công trình nhà không để ở 9.216 tỷ đồng, tăng 43,75%; công trình kỹ thuật dân dụng 10.622 tỷ đồng, giảm 16,04%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 3.942 tỷ đồng, tăng 67,27%. Theo giá hiện hành, giá trị sản xuất ngành xây dựng ước đạt 64.449 tỷ đồng, tăng 26,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị xây dựng của doanh nghiệp nhà nước 127 tỷ đồng, chiếm 0,20% tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng; doanh nghiệp ngoài nhà nước 42.738.258 tỷ đồng, chiếm 66,31%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.618 tỷ đồng, chiếm 2,51%; loại hình khác (xã, phường, hộ dân cư) 19.966 tỷ đồng, chiếm 30,98%. Phân theo loại công trình, giá trị công trình nhà để ở ước đạt 32.091 tỷ đồng, chiếm 49,79% tổng giá trị; giá trị công trình nhà không để ở 12.696 tỷ đồng, chiếm 19,70%; giá trị công trình kỹ thuật dân dụng 14.665 tỷ đồng, chiếm 22,76%; giá trị hoạt động xây dựng chuyên dụng 4.996 tỷ đồng, chiếm 7,75%. 4. Thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp Công tác thu hút đầu tư: Các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư vào tỉnh được đẩy mạnh. Tổ chức làm việc với tổ chức nước ngoài và trong nước tìm hiểu môi trường đầu tư của tỉnh: Đoàn công tác Đại sứ quán Vương quốc Đan Mạch tại Việt Nam; Tập đoàn WHA (Thái Lan); Đại diện Quỹ đầu tư Lotus Invest Limited; Tập đoàn xây dựng Thái Bình Dương (Trung Quốc); Đoàn công tác Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam; Đoàn công tác Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam; Công ty TNHH phát triển Phú Mỹ Hưng; Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội;… Sau các buổi làm việc có thông báo kết luận cụ thể về các nội dung công việc phải tập trung triển khai thực hiện, các khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ và giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp cụ thể cho các sở, ngành, đơn vị liên quan, có đường găng tiến độ hoàn thành nhiệm vụ, công việc. Tổ chức các hội nghị gặp mặt doanh nghiệp, doanh nhân; đối thoại với doanh nghiệp; chương trình kết nối Hưng Yên - Nhật Bản;… nhằm tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 12/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và ban hành Kế hoạch hành động triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ và Kế hoạch số 51-KH/TU của Tỉnh ủy. Phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh thu hút được 175 dự án đầu tư mới và 103 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn mới và tăng thêm đạt khoảng 48,7 nghìn tỷ đồng và 858,1 triệu USD; cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 2.870 doanh nghiệp, tăng 20,7% với tổng vốn 26.666 tỷ đồng và 1.481 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, tăng 4,1% so với cùng kỳ. Về phát triển doanh nghiệp: Tính từ ngày 22/5/2026 đến ngày 21/6/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 413 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 4.829 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 4.548 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 81 doanh nghiệp, sử dụng 3.238 lao động, vốn đăng ký 1.354 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 148 doanh nghiệp, sử dụng 560 lao động, vốn đăng ký 654 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 11 doanh nghiệp, sử dụng 163 lao động, vốn đăng ký 1.132 tỷ đồng; vận tải kho bãi 33 doanh nghiệp, sử dụng 122 lao động, vốn đăng ký 152 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 23 doanh nghiệp, sử dụng 109 lao động, vốn đăng ký 36 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 17 doanh nghiệp, sử dụng 83 lao động, vốn đăng ký 43 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 7 doanh nghiệp, sử dụng 15 lao động, vốn đăng ký 27 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/6/2026, toàn tỉnh có 2.983 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 22.941 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 27.783 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.253 doanh nghiệp, sử dụng 4.841 lao động, vốn đăng ký đạt 4.475 tỷ đồng (chiếm 16,11% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 584 doanh nghiệp, sử dụng 12.524 lao động, vốn đăng ký đạt 6.046 tỷ đồng (chiếm 21,76%); xây dựng 281 doanh nghiệp, sử dụng 1.278 lao động, vốn đăng ký 1.706 tỷ đồng (chiếm 6,14%); hoạt động vận tải, kho bãi 230 doanh nghiệp, sử dụng 881 lao động, vốn đăng ký 1.095 tỷ đồng (chiếm 3,94%); giáo dục và đào tạo 53 doanh nghiệp, sử dụng 203 lao động, vốn đăng ký 95 tỷ đồng (chiếm 0,34%); kinh doanh bất động sản 103 doanh nghiệp, sử dụng 1.002 lao động, vốn đăng ký 11.553 tỷ đồng (chiếm 41,58%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 134 doanh nghiệp, sử dụng 599 lao động, vốn đăng ký 330 tỷ đồng (chiếm 1,19%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 98 doanh nghiệp, sử dụng 413 lao động, vốn đăng ký 318 tỷ đồng (chiếm 1,19%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Sáu (tính từ ngày 22/5/2026 đến ngày 21/6/2026) là 53 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/6/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 481 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/5/2026 đến ngày 21/6/2026, số doanh nghiệp giải thể là 78 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 146 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/6/2026, toàn tỉnh có 480 doanh nghiệp giải thể và 1.323 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 99 doanh nghiệp giải thể và 318 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,63% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,04% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 164 doanh nghiệp giải thể và 458 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,17% và 34,62%; kinh doanh bất động sản có 27 doanh nghiệp giải thể và 29 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,63% và 2,19%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 18 doanh nghiệp giải thể và 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,75% và 4,16%; giáo dục và đào tạo có 56 doanh nghiệp giải thể và 27 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,67% và 2,04%;... 5. Thương mại, dịch vụ Từ đầu năm đến nay, hoạt động lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; việc cung ứng hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân thuận lợi, nhất là trong dịp Tết; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt là đối với hàng hóa thiết yếu, xăng dầu,... được tăng cường. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược “Phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh, ban hành Quy định một số nội dung về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến công, khuyến thương, thúc đẩy tiêu dùng,... được tổ chức linh hoạt, hiệu quả như: Tham gia Hội chợ Mùa Xuân, Hội chợ EXPO, Hội chợ Hùng Vương tại Phú Thọ; khu trưng bày các sản phẩm đặc trưng của tỉnh Hưng Yên tại Hội nghị kết nối Hưng Yên - Nhật Bản. Tổ chức thành công Lễ phát động hưởng ứng Ngày Quyền của Người tiêu dùng Việt Nam trên địa bàn; tổ chức triển khai thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”;... a)    Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu ước đạt 24.909 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và tăng 20,79% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 148.381 tỷ đồng, tăng 17,13% (quý I tăng 16,47%; quý II tăng 17,82%) so cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Sáu và sáu tháng đầu năm 2026 (Theo giá hiện hành)                                                                        Quý II.2026 6T.2026 QII.2026QII.2025 6T.20266T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 73.582 148.381 117,82 117,13 Thương nghiệp 37.298 74.242 118,23 118,11 Lưu trú, ăn uống 3.865 7.538 112,82 113,97 Du lịch 32 52 112,75 113,02 Dịch vụ 32.387 66.549 117,99 116,43 Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau: Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Sáu ước đạt 12.338 tỷ đồng, chiếm 49,53% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 0,30% so với tháng trước và tăng 23,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 20,33%; hàng may mặc tăng 23,68%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 42,38%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 109,34%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 6,94%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 31,38%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 22,19%; xăng, dầu các loại tăng 13,48%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 59,38%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 9,62%; hàng hóa khác tăng 27,12%. Một số doanh nghiệp hoạt động trong tháng đã nhận được nhiều đơn hàng với mức tăng trưởng khá như: Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Tân Long; Công ty TNHH Nông sản Gia Huy (nhóm hàng lương thực thực phẩm); Công ty Cổ phần 5S Fashion (nhóm hàng may mặc); Công ty Quốc Tế Long Anh; Công ty Cổ phần Việt Phúc Hưng Yên (nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình); Công ty TNHH Toyota Hưng Yên, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Hoàng Hiền (nhóm hàng ô tô con);... Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 74.242 tỷ đồng, tăng 18,11% (quý I tăng 17,99%; quý II tăng 18,11%) so với cùng kỳ năm trước. Có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 23,15%; hàng may mặc tăng 18,51%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 18,23%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 53,10%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,09%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 24,94%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 0,29%; xăng dầu các loại tăng 19,47%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 37,16%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 26,35%; hàng hóa khác tăng 18,96. Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu trong tháng Sáu ước đạt 1.302 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 13,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 37 tỷ tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,88% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.265 tỷ đồng, tăng 1,38% so với tháng trước và tăng 13,87% so với cùng kỳ năm trước. Tháng Sáu, hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động nhờ nhiều hoạt động văn hóa, thương mại và du lịch được tổ chức, tạo sức hút đối với người dân và du khách. Đặc biệt, Tuần lễ quảng bá, giới thiệu sản phẩm OCOP, văn hóa đọc và ẩm thực phường Phố Hiến năm 2026 được tổ chức tại phố đi bộ Nam Hòa từ ngày 06/6 đến ngày 13/6/2026 đã góp phần quảng bá các giá trị văn hóa, ẩm thực đặc trưng của địa phương, thu hút đông đảo người dân và du khách tham quan, trải nghiệm, qua đó góp phần kích thích nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy doanh thu của ngành dịch vụ ăn uống trên địa bàn. Đồng thời, tháng Sáu bước vào mùa du lịch hè, nhu cầu nghỉ dưỡng, lưu trú của người dân và du khách tăng lên, góp phần nâng cao công suất sử dụng phòng tại các cơ sở lưu trú trên địa bàn. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 7.538 tỷ đồng, tăng 13,97% (quý I tăng 15,21%; quý II tăng 12,82%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 217 tỷ đồng, tăng 12,78%; dịch vụ ăn uống 7.321 tỷ đồng, tăng 14,0%. Trong sáu tháng đầu năm, ngành dịch vụ lưu trú ăn uống duy trì mức tăng trưởng khá nhờ sự phục hồi của hoạt động thương mại, du lịch và các hoạt động văn hóa trên địa bàn. Một số doanh nghiệp chủ lực đạt kết quả kinh doanh tích cực, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của toàn ngành, như: Công ty TNHH Xây dựng và Dịch vụ Khu công nghiệp Phố Nối tăng 47,05%; Công ty Cổ phần Lam Sơn GLOBAL tăng 103,66% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Sáu ước đạt 12,52 tỷ đồng, tăng 18,93% so với tháng trước và tăng 10,76% so với cùng kỳ năm trước. Tháng Sáu đã bước vào mùa du lịch hè, hoạt động du lịch và lữ hành trên địa bàn tỉnh Hưng Yên diễn ra sôi động hơn khi nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân tăng cao, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành trên địa bàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh khai thác các chương trình du lịch hè, tập trung vào các tour ngắn ngày và các tuyến du lịch biển. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã chủ động liên kết với các đơn vị vận tải, lưu trú và các điểm tham quan để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 52 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn duy trì đà tăng trưởng tích cực trong nửa đầu năm 2026, trong đó các chương trình du lịch hè và việc mở rộng các tuyến du lịch ngắn ngày đã đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành. Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Sáu ước đạt 11.257 tỷ đồng, tăng 4,40% so với tháng trước và tăng 18,43% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 10.016 tỷ đồng, tăng 5,53% so với tháng trước và tăng 18,88% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 489 tỷ đồng, tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 122 tỷ đồng, giảm 37,73% so với tháng trước và tăng 14,01% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 247 tỷ đồng, tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 308 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước và tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 66.549 tỷ đồng, tăng 16,43% (quý I tăng 15,00%; quý II tăng 17,99%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,37% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,93% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,86%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,79%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,02%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 14,96%; dịch vụ khác tăng 11,18%. Thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường. 6. Hoạt động vận tải Tình hình chiến sự ở các nước Trung Đông giữa liên minh Mỹ- Israel với Iran diễn ra từ đầu tháng Ba kéo dài đến nay đã gây ảnh hưởng mạnh đến giá xăng dầu trong nước, làm tác động trực tiếp đến chi phí vận tải cũng như doanh thu đối với hoạt động này trong thời gian qua. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Sáu ước đạt 2.433 tỷ đồng, tăng 1,08% so với tháng trước và tăng 15,20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 14.531 tỷ đồng, tăng 17,35% (quý I tăng 18,37%; quý II tăng 16,35%) so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 5,72 triệu lượt người vận chuyển và 533 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 7,97% về lượt người vận chuyển, tăng 9,70% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 7,60% về lượt người vận chuyển, tăng 8,87% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 405 tỷ đồng, tăng 5,81% so với tháng trước và tăng 8,42% so cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 34,6 triệu lượt người vận chuyển và 3.183 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 8,62% về lượt người vận chuyển và tăng 8,84% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách 6 tháng ước đạt 2.473 tỷ đồng, tăng 10,89% (quý I tăng 14,27%; quý II tăng 7,55%) so cùng kỳ năm trước. Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 6,77 triệu tấn vận chuyển và 1.689 triệu tấn luân chuyển, lần lượt giảm 0,29% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 4,04% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,44% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,08% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.796 tỷ đồng, giảm 0,23% so với tháng trước và tăng 16,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 vận tải hàng hóa ước đạt 39,5 triệu tấn vận chuyển và 10.603 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,57% về tấn hàng hóa vận chuyển và 13,70% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa 6 tháng ước đạt 10.746 tỷ đồng, tăng 20,06% (quý I tăng 20,28%; quý II tăng 19,84%) so cùng kỳ năm trước. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Sáu ước đạt 209 tỷ đồng, tăng 3,53% so với tháng trước và tăng 18,47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.161 tỷ đồng, tăng 7,58% (quý I tăng 9,01%; quý II tăng 6,26%) so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Sáu ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 3,77% so với tháng trước và tăng 31,54% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 150 tỷ đồng, tăng 23,31% (quý I tăng 34,00%; quý II tăng 12,31%) so với cùng kỳ năm trước. II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT 1. Hoạt động đầu tư a) Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phục hồi sản xuất kinh doanh và thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư ngoài nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh sáu tháng qua ước đạt 72.164 tỷ đồng, tăng 14,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, quý I đạt 32.134 tỷ đồng, tăng 10,03%; quý II ước thực hiện 40.030 tỷ đồng, tăng 18,16%. Phân theo nguồn vốn, ước tính sáu tháng đầu năm 2026, nguồn vốn nhà nước đạt 18.495 tỷ đồng, tăng 13,29%; vốn ngoài nhà nước 41.580 tỷ đồng, tăng 12,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 12.089 triệu đồng, tăng 22,81% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 56.168 tỷ đồng, chiếm 77,83% trong tổng vốn và tăng 37,08% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 3.839 tỷ đồng (chiếm 5,32%), giảm 63,33%; vốn đầu tư sửa chữa lớn và nâng cấp sản cố định đạt 10.024 tỷ đồng (chiếm 13,89%), giảm 1,20%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động đạt 2.104 tỷ đồng (chiếm 2,92%), tăng 42,41%; vốn đầu tư khác 29 tỷ đồng (chiếm 0,04%), tăng 98,92%. Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2026 (tỷ đồng) Thực hiện6 thángnăm 2025 Ước tính6 thángnăm 2026 So sánh(%) TỔNG SỐ 63.083 72.164 114,40 Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước 14.603 16.713 114,45 Vốn trái phiếu Chính phủ 0 0 Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch NN 3 26 988,27 Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước) 145 8 5,38 Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước (Vốn tự có) 664 507 76,33 Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 36.914 41.580 112,64 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 9.844 12.089 122,81 Vốn huy động khác 910 1.241 136,29 Một số dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh được thi công trong sáu tháng đầu năm 2026: Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình theo phương thức đối tác công tư (CT.08), vốn đầu tư 19.784 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 4.712 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng, vốn đầu tư 6.091 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng đạt 600 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên (nay là tuyến đường từ phường Thái Bình đến xã Hưng Hà), Vốn đầu tư 2.684 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng đạt 408 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình, vốn đầu tư 3.156 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 347 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường Tân Phúc -Võng Phan (giao ĐT.378), tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 2.049 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng đạt 649 tỷ đồng; Dự án tuyến đường nối từ thành phố Thái Bình đến cầu Nghìn theo hình thức đầu tư công, vốn đầu tư 2.121 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 44 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng nút giao Phúc Khánh, vốn đầu tư 842 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 344 tỷ đồng;... b) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Sáu ước đạt 3.532 tỷ đồng, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 16.233 tỷ đồng, tăng 14,40% so với cùng kỳ năm trước, đạt 33,40% kế hoạch năm. Trong đó, quý I đạt 6.642 tỷ đồng, tăng 2,19%; quý II đạt 9.591 tỷ đồng, tăng 24,73%.Vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN do địa phương quản lý6 tháng đầu năm 2026                                                         6T.2025 6T.2026 6T.2026 6T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) Tổng số 14.189 16.233 114,40 Vốn NS nhà nước cấp tỉnh 7.704 10.796 140,14 Vốn NS nhà nước cấp xã 6.485 5.437 83,83 Phân theo cấp quản lý, vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng mạnh ở cấp tỉnh, trong khi đó vốn cấp xã giảm. Cụ thể: cấp tỉnh ước đạt 10.796 tỷ đồng, tăng 40,14% so với cùng kỳ năm trước và đạt 28,14% kế hoạch năm; cấp xã đạt 5.437 tỷ đồng, giảm 16,17% và đạt 53,15% kế hoạch năm. Vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý cấp tỉnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do trong năm 2026, tỉnh tập trung triển khai nhiều dự án trọng điểm quy mô lớn, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp xã, nguồn vốn tiếp tục được sử dụng chủ yếu cho các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, trường học, nhà văn hóa và các công trình phục vụ dân sinh. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm do vướng mắc trong công tác chuẩn bị đầu tư, năng lực tổ chức thực hiện ở một số địa phương còn hạn chế, cùng với tác động của biến động giá nguyên vật liệu xây dựng. c) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến 24/6/2026, toàn tỉnh có 997 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 18.055,77 triệu USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 31 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 634,12 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 204 dự án, vốn đăng ký là 6.725,72 triệu USD, chiếm 37,25% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 381 dự án, vốn đăng ký 4.616,47 triệu USD, chiếm 25,57% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.327,75 triệu USD, chiếm 12,89% tổng số vốn đăng ký. 2. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Sáu trên địa bàn tỉnh ước đạt 7.304 tỷ đồng, giảm 58,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa 6.632 tỷ đồng, giảm 60,98%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 672 tỷ đồng, tăng 26,18%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 57 tỷ đồng, giảm 82,08%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 407 tỷ đồng, tăng 131,09%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.187 tỷ đồng, tăng 8,46%; thu thuế thu nhập cá nhân 317 tỷ đồng, tăng 8,16%; các khoản thu về đất 4.372 tỷ đồng, giảm 70,07%;...  Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026 T6.2026(Tỷ đồng) 6T.2026(Tỷ đồng) T6.2026T6.2025(%) 6T.20266T.2025(%) Tổng số 7.304 43.847 41,67 78,04 Thu nội địa 6.632 40.361 39,02 76,01 Tr. đó: Thu từ đất 4.372 17.530 29,93 52,43 Thu Hải quan 672 3.486 126,18 112,95 Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 43.847 tỷ đồng, giảm 21,96% so với cùng kỳ năm trước và đạt 52,04% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 40.631 tỷ đồng, giảm 23,99%, đạt 52,01% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 3.486 tỷ đồng, tăng 12,95%, đạt 52,43% kế hoạch năm. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 630 tỷ đồng, tăng 6,44%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.000 tỷ đồng, tăng 34,10%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 15.300 tỷ đồng, tăng 19,50%; thu lệ phí trước bạ 900 tỷ đồng, tăng 9,24%; thuế thu nhập cá nhân 2.000 tỷ đồng, giảm 0,02%; các khoản thu về đất 17.530 tỷ đồng, giảm 47,57%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Sáu ước đạt 7.919 tỷ đồng, giảm 20,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 5.334 tỷ đồng, giảm 16,67%; chi thường xuyên 2.584 tỷ đồng, giảm 27,25%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 189 tỷ đồng, giảm 9,69%; chi giáo dục, đào tạo 1.035 tỷ đồng, giảm 9,81%; chi sự nghiệp y tế 292 tỷ đồng, giảm 13,41%; chi sự nghiệp văn hóa, thông tin 33 tỷ đồng, giảm 45,25%; chi đảm bảo xã hội 524 tỷ đồng, tăng 9,10%; chi quản lý hành chính 392 tỷ đồng, giảm 64,97%;... Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 36.452 tỷ đồng, tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 22.843 tỷ đồng, tăng 0,39%; chi thường xuyên 13.608 tỷ đồng, tăng 4,57%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 514 tỷ đồng, tăng 17,74%; chi giáo dục, đào tạo 4.840 tỷ đồng, giảm 3,56%; chi sự nghiệp y tế 1.296 tỷ đồng, tăng 8,29%; chi sự nghiệp văn hóa, thông tin 152 tỷ đồng, giảm 32,78%; chi đảm bảo xã hội 3.199 tỷ đồng, tăng 97,93%; chi quản lý hành chính 2.651 tỷ đồng, giảm 27,23%. c) Hoạt động ngân hàng Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh tập trung vào thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; hội nhập quốc tế trong tình hình mới; đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; phát triển kinh tế tư nhân; cấp tín dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn; tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng và kinh doanh vàng. Thực hiện các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, đẩy mạnh tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh lúa gạo, các chương trình, chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035. Chủ động cân đối nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ lắp đặt điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ năng lượng, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Tích cực triển khai Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ, chủ động tiếp cận, thẩm định và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư, người mua nhà được tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo Chương trình kịp thời, đúng quy định,.. Ước tính tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 30/6/2026 đạt 323.200 tỷ đồng, tăng 4,49% so với 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 318.600 tỷ đồng, tăng 3,70%; phát hành giấy tờ có giá 4.600 tỷ đồng, tăng 120,31%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến 30/6/2026 đạt 275.500 tỷ đồng, tăng 1.993 tỷ đồng (tăng 4,0%) so với 31/12/2025. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 197.400 tỷ đồng, tăng 2,95%; dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt 78.100 tỷ đồng, tăng 6,75%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 266.900 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 96,88% tổng dư nợ và tăng 3,24%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 8.600 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,12% tổng dư nợ và tăng 34,90%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 178.440 tỷ đồng, tăng 3,74% so với thời điểm 31/12/2025, chia ra: nông nghiệp, nông thôn 117.500 tỷ đồng, tăng 4,54%; xuất khẩu 1.715 tỷ đồng, tăng 5,86%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.800 tỷ đồng, tăng 2,57%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%. Về chất lượng tín dụng: Ước tính đến 30/6/2026, nợ xấu trên toàn địa bàn là 1.700 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,62% tổng dư nợ, giảm 183 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2025. d) Bảo hiểm xã hội Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 5/2026 là 648.160 người, tăng 9.643 người, tương ứng tăng 1,5% so với tháng trước; tăng 20.350 người, tương ứng tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 51,01% so với lực lượng lao động. Trong đó: BHXH bắt buộc 568.503 người, tăng 10.201 người (tăng 1,8%) so với tháng trước; tăng 58.364 người (tăng 11,4%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 79.657 người, giảm 558 người (giảm 0,7%) so với tháng trước, tăng 2.637 người (tăng 3,4%) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/5/2026 là 545.397 người, tăng 8.824 người (tăng 1,9%) so với tháng trước; tăng 54.734 người (tăng 11,2%) so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia BHYT là 2.815.179 người, tăng 6.021 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 17.814 người (tăng 0,6%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 95,61%. Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 5/2026 là 6.709,2 tỷ đồng, tăng 1.456,6 tỷ đồng (tăng 21,7%) so với tháng trước, tăng 675,3 tỷ đồng (tăng 11,2%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 37,9% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 5/2026 đạt 1.028,7 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi BHXH 5.024,1 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.396,7 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 3.627,4 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 5/2026 là 128,9 tỷ đồng. Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 5/2026 là 329,2 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 1.506,3 tỷ đồng, tăng 5,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 597,9 tỷ đồng; chi KCB nội trú 908,4 tỷ đồng. 3. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới giảm, cùng với giá lương thực giảm là những nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,33% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI tháng Sáu tăng 3,56% và tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu giảm 0,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 06 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,03%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông giảm 4,78%; thông tin và truyền thông giảm 0,02%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,72%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,17%. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Sáu năm 2026                                                                        T6.2026T5.2026 T6.2026T6.2025 6T.20266T.2025 (%) (%) (%) Chỉ số giá tiêu dùng chung     99,67    105,10    104,24 Chỉ số vàng     90,48    125,91    162,53 Chỉ số đô la Mỹ     99,92    100,85    102,47 Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,38%, trong đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 1,83% so với tháng trước (gạo tẻ thường giảm 1,82%; gạo tẻ ngon giảm 1,87%; gạo nếp giảm 1,67%) do nguồn cung dồi dào, giá gạo xuất khẩu bình quân giảm dẫn đến giá bán trong nước giảm theo; chỉ số giá nhóm bún, phở, bánh đa giảm 0,17% do ảnh hưởng từ giá gạo giảm. (2) Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,74% do ảnh hưởng giảm giá từ tháng trước. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,36%, chủ yếu do: chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 3,08%; chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,68%, do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt tăng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,30% tăng ở các mặt hàng các đen san lấp, cát vàng xây dựng,... Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%, chủ yếu do nhóm đồ dùng trong nhà tăng 0,13%, tăng ở các mặt hàng quạt điện, đèn điện thắp sáng, giường tủ, bàn ghế,… nhóm đồ dùng nấu ăn trong nhà tăng 0,28%; nhóm đồng hồ treo tường để bàn và gương tăng 0,58%; nhóm hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,25%; nhóm hàng dệt trong nhà tăng 0,49%; nhóm sửa chữa thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,74%, nguyên nhân do nhà sản xuất tăng giá, đẩy giá bán lẻ tăng theo. Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 4,78%, chủ yếu do giá xăng, dầu giảm. Giá xăng, dầu trong tháng giảm theo các kỳ điều chỉnh, do ảnh hưởng của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới giảm. Trong kỳ giá tiêu dùng tháng 6/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 03 đợt vào các ngày 04/6; 11/6 và 18/6. Theo đó giá xăng giảm 9,49%; giá dầu diesel 0,05 giảm 9,40%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,72%, chủ yếu do giá các dịch vụ du lịch trọn gói trong và ngoài nước tăng 2,01% do nhu cầu du lịch tăng vào mùa hè; chỉ số giá khách sạn, nhà khách tăng 2,07%; giá thiết bị, dụng cụ thể dục, thể thao, bóng rổ, vợt cầu lông,… tăng 0,27%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,17%, tăng chủ yếu ở nhóm hàng đồ trang sức (+7,61%); giá đồng hồ đeo tay (+0,85%); giá sửa đồng hồ (+0,02%); hiếu hỉ (+0,61%). So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 3,56%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,79%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,73%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,12%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,55%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%; giao thông tăng 6,36%; thông tin và truyền thông tăng 1,11%; giáo dục tăng 0,26%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,27%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 5,10%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,56% (lương thực tăng 4,86%; thực phẩm tăng 6,93%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,04%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,60%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,59%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,95%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,31%; giao thông tăng 4,75%; thông tin và truyền thông tăng 1,25%; giáo dục tăng 1,40%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 6,35%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,75%. Bình quân quý II năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,48%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,52% (lương thực tăng 5,08%; thực phẩm tăng 6,63%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,96%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,60%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,79%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,50%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,75%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,34%; giao thông tăng 9,26%; thông tin và truyền thông tăng 1,30%; giáo dục tăng 1,35%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,21%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,62%. Bình quân chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,36%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,24%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,47%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,85%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,26%; giao thông tăng 4,71%; thông tin và truyền thông tăng 0,94%; giáo dục tăng 1,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,21%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,26%. Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,67% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt lợn, thịt gia cầm, trứng các loại, thủy sản tươi sống và rau củ có xu hướng tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,46% chủ yếu do giá nguyên liệu thực phẩm, chi phí điện nước, nhân công, chi phí thuê mặt kinh doanh tăng; bên cạnh đó nhu cầu ăn uống, du lịch và vui chơi giải trí tăng cao trong mùa hè đã góp phần làm giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng. (2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,24% do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng; giá nguyên liệu sản xuất đồ uống như đường, sữa, cà phê, chè, hoa quả, malt, bao bì nhựa, thủy tinh và nhôm tăng; giá lá thuốc lá, giấy cuốn, đầu lọc và vật tư nhập khẩu tăng làm chi phí sản xuất tăng cao hơn. (3) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 6,06% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê và các loại nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,44%; giá các loại vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,92%, do giá vật liệu xây dựng, chi phí sửa chữa nhà ở tăng; bên cạnh đó nhu cầu xây dựng, cải tạo nhà ở và đầu tư cơ sở hạ tầng tăng cũng góp phần tạo áp lực tăng giá trong nhóm này. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 5,09% do nhu cầu sử dụng điện tăng cao trong mùa nắng nóng, cùng với tác động từ chi phí sản xuất, vận hành hệ thống điện, việc điều chỉnh giá điện theo biến động chi phí đầu vào cũng góp phần làm tăng mức giá điện bình quân. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,71% do giá dầu diezel tăng 36,48% so với cùng kỳ. Giá xăng, dầu biến động theo giá dầu thô thế giới và tỷ giá, làm tăng chí phí vận hành phương tiện cá nhân và vận tải hàng hóa, hành khách, khi chi phí nhiên liệu tăng, giá thành dịch vụ vận tải cũng tăng theo. (6) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,21%, do thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tăng vào các dịp lễ, tết, kỳ nghỉ hè, nghỉ cuối tuần, lượng khách du lịch tăng cao dẫn đến giá nhiều dịch vụ du lịch tăng theo quy luật cung - cầu. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 6/2026 giảm 9,52% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến giảm của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 6/2026, giá vàng xấp xỉ 14.994.860 VNĐ/chỉ. Tháng 6/2026, tỷ giá USD trong nước biến động giảm theo xu hướng giảm của đồng USD trên thị trường quốc tế. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 6/2026 giảm 0,08% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.322 VNĐ. c) Chỉ số giá sản xuất Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Sáu giảm nhẹ - giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 3,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,14% và tăng 2,79%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 7,17% và tăng 19,48%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 1,20% và tăng 7,16%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác giảm 0,98%; đậu tương giảm 0,32%; lạc giảm 0,59%; rau muống giảm 1,89%; rau lấy lá còn lại giảm 0,97%; rau họ đậu giảm 0,86%; hoa hồng giảm 1,11%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm giảm 0,43%; chuối giảm 1,47%; mít giảm 3,37%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò giảm 0,35%; sản phẩm chăn nuôi gia cầm giảm 0,79%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 7,17%; sản phẩm thủy sản khai thác biển giảm 3,03%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa giảm 0,17%; cá nuôi biển giảm 1,02%; cá nuôi nội địa giảm 0,21%; tôm nuôi nội địa giảm 0,35%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,00%; mía cây tươi tăng 0,47%; thuốc lào tăng 0,87%; vừng/mè tăng 1,07%; dưa chuột tăng 2,92%; cà chua tăng 4,77%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân tăng 0,45%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 1,60%; các loại quả có múi còn lại tăng 1,64%; vải tăng 13,25%; lợn tăng 0,33%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,51%;... Quý II năm 2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,43% so với quý trước và tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,58% và tăng 2,23%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 4,19% và tăng 28,52%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 5,93% và tăng 7,43%. Chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu quý II năm 2026 so với quý trước như sau: thóc khô tăng 1,46%; sản phẩm cây lấy củ cso chất bột tăng 1,96%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 0,93%; rau các loại giảm 0,50%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 3,84%; xoài tăng 4,81%; thanh long tăng 2,38%; ổi tăng 4,99%; chanh thường tăng 14,34%; các loại quả có múi còn lại tăng 9,74%; vải tăng 14,39%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 2,08%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 10,40%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 1,77%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng biển tăng 3,55%; cá nuôi nội địa tăng 2,35%; tôm nuôi nội địa tăng 6,71%; giống thủy sản nội địa tăng 1,26%;... Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Sáu năm 2026 tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,46% và tăng 3,75%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 1,05% và tăng 2,13%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47% và tăng 1,17%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến , bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 3,24%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,39%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,29%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,40%; trang phục dệt kim, đan, móc tăng 2,03%; giày, dép tăng 1,13%; dịch vụ liên quan đến in tăng 2,49%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu tăng 3,72%; sản phẩm khác từ cao su tăng 3,49%; sản phẩm từ plastic tăng 2,06%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 2,01%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 3,60%; nước tự nhiên khai thác tăng 2,99%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: cà phê giảm 3,09%; hóa chất cơ bản giảm 2,94%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý giảm 1,23%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 5,32%; mô tơ, máy phát giảm 0,74%; pin và ắc quy giảm 2,53%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 8,00%; mô tô, xe máy giảm 2,20%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ giảm 0,62%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 1,18%; điện sản xuất giảm 0,13%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 2,62%;... Quý II năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,77% so với quý trước và tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,82% và tăng 3,36%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,91% và tăng 0,60%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,45% và tăng 0,90%. So với quý trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 3,24%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến và bảo quản tăng 7,29%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 4,57%; bánh làm từ tinh bột tăng 1,54%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 3,26%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 3,28%; giày dép tăng 1,72%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 12,91%; đồ gỗ xây dựng tăng 2,07%; dịch vụ liên quan đến in tăng 2,52%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 6,76%; sản phẩm từ plastic tăng 2,01%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 3,68%; sản phẩm kim loại tăng 4,48%; cấu kiện kim loại tăng 2,51%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 3,39%; pin và ắc quy tăng 11,94%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 11,03%; mô tô, xe máy tăng 3,61%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 6,49%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 4,41%; nước tự nhiên khai thác tăng 2,45%;...  Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 15,63%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 1,56%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 1,95%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 2,41%; thiết bị điện khác giảm 0,99%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 5,34%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác giảm 2,48%; điện sản xuất giảm 4,44%; điện mặt trời giảm 7,06%;... III. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1.    Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội Đời sống dân cư: Sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số; đẩy mạnh cơ cấu lại thực chất, hiệu quả hơn nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và môi trường kinh doanh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn; chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội. Nhờ vậy, đời sống nhân dân tiếp tục ổn định và từng bước được phát triển, nâng cao. Lao động việc làm: Tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lực lượng lao động và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như: tổ chức Hội nghị kết nối, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp năm 2026; ký kết với tỉnh Lào Cai và Lai Châu bản ghi nhớ hợp tác về việc phối hợp cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; tổ chức “Ngày hội tư vấn, định hướng nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động năm 2026”. Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 4.000 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 2.732 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 821 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Xác nhận cho 506 lượt doanh nghiệp sử dụng 3.229 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 39 lượt doanh nghiệp với 10.716 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 62 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm. Trong 6 tháng đầu năm, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 30.920 người (đạt 51,5% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 3.320 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 4.530 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 16.500 người. Công tác người có công: Công tác người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, đúng quy định. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa được tổ chức thiết thực, hiệu quả. Toàn tỉnh đã thực hiện trao tặng quà của Đảng, Nhà nước cho 100.791 người có công với cách mạng, thân nhân và người thờ cúng liệt sĩ; hoàn thành trao 106.413 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí 32,65 tỷ đồng. Quà tặng của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh được trao với tổng kinh phí 104,58 tỷ đồng; các địa phương, tổ chức, cá nhân trao trên 15.000 suất quà, kinh phí trên 8,4 tỷ đồng. Đồng thời, tham mưu tổ chức các đoàn lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà người có công và thân nhân người có công tại gia đình, cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng trong và ngoài tỉnh. Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Trung tâm Điều dưỡng, chăm sóc người có công đang nuôi dưỡng tập trung 21 thương binh, bệnh binh nặng, bảo đảm tốt điều kiện chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần. Đồng thời duy trì công tác vệ sinh, quản lý cơ sở vật chất, sử dụng hiệu quả trang thiết bị; đón tiếp chu đáo các đoàn, tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm đến thăm, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Trung tâm cũng đã thực hiện điều dưỡng luân phiên cho 2004 lượt người có công, đạt khoảng 40% kế hoạch năm 2026. Thực hiện Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 06/5/2026 về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, qua rà soát có 105 trường hợp đủ điều kiện hỗ trợ và đang được thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định. Tình hình thiên tai: Tháng 6 năm 2026, toàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai làm 01 người chết: Vào khoảng 14h30 phút ngày 17/5/2026, bà Nguyễn Thị Vòng sinh năm 1968, thường trú tại Phường Vũ Phúc bị sét đánh tử vong tại chỗ trong lúc đi làm đồng. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Sáu tháng đầu năm 2026, tỉnh đã tổ chức thành công một số lễ hội tiêu biểu năm 2026 như: Lễ hội chùa Keo mùa xuân năm 2026; Lễ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập vương triều Trần và Lễ hội Đền Trần, xã Long Hưng; Lễ hội truyền thống đền Mây và đền Kim Đằng, phường Sơn Nam; Triển lãm thư pháp, hát ca trù và cho chữ đầu xuân tại Văn Miếu Xích Đằng. Phối hợp với Ban chuyên đề - khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện chương trình “Giải mã cuộc sống” với nội dung “Bộ sưu tập tượng đất tại chùa Nôm”. Giới thiệu tuyên truyền, hướng dẫn cho hơn 50 đoàn khách, với khoảng 3.000 người tại các di tích trọng điểm. Xuất bản cuốn sách “Lễ hội truyền thống khu di tích Phố Hiến”. Tổ chức trưng bày chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”, “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”, “Hội Báo Xuân và Không gian Chợ Tết Việt năm 2026”, “80 năm - Dấu ấn Quốc hội Việt Nam (1946 - 2026) chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại 06 điểm trường. Sáu tháng đầu năm, Bảo tàng tỉnh đã đón 32.741 lượt khách tham quan. Tỉnh đã tổ chức Chương trình nghệ thuật quần chúng “Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm (Đêm Giao thừa); Chương trình nghệ thuật tại Liên hoan Ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III, năm 2026; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa hát Chèo, Trống Quân, Ca Trù, Xẩm; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể hát Ca Trù tại Lễ hội Đền Trần năm 2026; Tham gia Liên hoan Tuyên truyền lưu động toàn quốc do Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện tổ chức, kết quả đạt được: 01 giải A, 02 giải B; tham gia sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2026). Tổ chức Lớp tập huấn truyền dạy nghệ thuật Chèo năm 2026; hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá - Câu lạc bộ tại cơ sở. Về nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh chức 72 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (đạt 60% kế hoạch) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026; chương trình chào mừng thành công bầu cử Quốc hội khóa XVI, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Thư viện tỉnh tổ chức 07 cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương; viết 01 bài viết về hoạt động xe ô tô thư viện đăng trên đặc san ngành; biên soạn 14 bài giới thiệu sách chuyên đề, 24 tin bài về hoạt động thư viện đăng tải lên đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; tổ chức hội nghị nói chuyện chuyên đề "Mở trang sách - nhận niềm vui" và phát động các hoạt động phục vụ thiếu nhi hè năm 2026 với sự tham gia của Tiến sĩ Giáo dục Nguyễn Thụy Anh và trên 300 giáo viên, phụ huynh, học sinh, bạn đọc tham gia. Biên soạn, phát hành Thư mục toàn văn Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn phục vụ các hoạt động tuyên truyền, tra cứu và tìm tin của bạn đọc trên nền tảng số. Tổ chức phục vụ xe ô tô Thư viện lưu động tại 25 Trường Tiểu học và THCS với 17.202 lượt học sinh tham gia, trên 34.401 lượt tài liệu được luân chuyển, tặng 862 bản sách cho học sinh. Trung tâm văn hóa - Điện tảnh tỉnh tổ chức 318 buổi chiếu phim (68 buổi lưu động, 250 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. b) Hoạt động thể dục thể thao Về thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành thể dục thể thao Việt Nam (27/3/1946 - 27/3/2026). Tổ chức thành công các giải: Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; vô địch trẻ Vật dân tộc, Vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; Bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; Pickleball cán bộ công chức cơ quan Văn phòng sở, các sở, ban, ngành của tỉnh; Hội thao nhân dịp chào mừng 80 năm ngày truyền thống ngành TDTT Việt Nam (27/3/1946 – 27/3/2026). Phối hợp Liên đoàn Cờ vua, Cờ tướng tổ chức giải vô địch Cờ tướng các câu lạc bộ tỉnh Hưng Yên năm 2026. Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức giải Bóng chuyền hơi Cựu chiến binh tỉnh Hưng Yên năm 2026. Ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ phát động phòng, chống đuối nước cho trẻ em và lớp tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Bơi, cứu đuối năm 2026; Kế hoạch tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Lân Sư Rồng năm 2026; chấp thuận cho hơn 10 đơn vị tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh; cấp 05 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động thể dục thể thao cho tổ chức, cá nhân. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo, huấn luyện, tham dự thi đấu năm 2026; huấn luyện 515 vận động viên ở 18 môn thể thao; xây dựng lực lượng, tổ chức tập huấn các đoàn vận động viên chuẩn bị tham gia thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Triển khai kế hoạch tập huấn, tham dự các giải thể thao quốc gia của 18 môn thể thao hiện có, gồm: Đua thuyền, Jujitsu, Pencak Silat, Điền kinh, Muay, Karate, Cầu lông, Wushu, Kickboxing, Boxing, Bóng chuyền nữ, Bóng bàn, Cử tạ, Võ cổ truyền, Bơi lặn, Taekwondo, Bóng đá nhi đồng, Vật. Tính đến nay, đã tổ chức tập huấn, tham dự thi đấu 25 giải thể thao quốc gia, 05 giải quốc tế, giành tổng số 205 huy chương các loại, trong đó có 48 HCV, 55 HCB và 102 HCĐ; các vận động viên của tỉnh được triệu tập đội tuyển quốc gia tham dự các giải quốc tế, gồm: Vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026 tại Bangkok - Thái Lan đạt 01 HCĐ; Vô địch Vật Bãi biển Thế giới năm 2026 tại Đà Nẵng đạt 1 HCĐ; Vô địch Rowing Châu Á năm 2026 tại Hàn Quốc đạt 2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ; vận động viên Nguyễn Thùy Duyên tham dự giải Jujitsu Vô địch Thế giới năm 2026 tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1 HCV, 1 HCB. Đội Bóng đá nhi đồng U11 tỉnh tham dự vòng đấu bảng giải Bóng đá nhi đồng toàn quốc năm 2026 tranh Cúp Nestlé MILO tại thành phố Hải Phòng, kết thúc vòng đấu bảng đội đạt được 01 trận thắng, 02 trận hòa và giành quyền tham dự Vòng Chung kết toàn quốc thi đấu tại tỉnh Đắk Lắk vào tháng 7, 8. c) Hoạt động du lịch Tỉnh tổ chức thành công Liên hoan ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III năm 2026. Quyết định công nhận 03 điểm du lịch và 01 khu du lịch cấp tỉnh. Trong sáu tháng đầu năm, tổng lượng khách du lịch đến Hưng Yên ước đạt 2,8 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 63.000 lượt khách quốc tế. Xây dựng và đặt 14 bảng quét QRcode thông tin du lịch đặt tại các điểm trên địa bàn tỉnh; bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên; tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch Hưng Yên: Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam; lễ hội đền Phù Ủng; lễ hội đền Trần; lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung; hội chợ VITM Hà Nội và tổ chức chương trình Hội nghị xúc tiến bên lề hội chợ; tổ chức “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026” đợt I với chủ đề “Kết nối di sản, lan tỏa hào khí Đông A”; trưng bày quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh tại Chương trình “Kết nối Hưng Yên - Nhật Bản”; Ngày hội gia đình tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam; tham gia Chương trình khảo sát điểm đến và tọa đàm xây dựng chương trình du lịch trải nghiệm “Mùa quả chín xứ Đông”; phối hợp quảng bá Du lịch Hưng Yên trên Đài truyền hình Việt Nam: “Vị Quê và Việt Nam hôm nay”; Around Việt Nam - Phim: “Hành trình tâm linh - Một miền văn hoá”; Trung tâm Phát thanh truyền hình Quân đội sản xuất chương trình “Ký sự ẩm thực” tại tỉnh Hưng Yên;… Phối hợp với Xí nghiệp Đầu tư và Phát triển du lịch sông Hồng tổ chức đón và hướng dẫn đoàn khách tour du lịch sông Hồng; xây dựng Kế hoạch, tổ chức Workshop, Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số; vận động doanh nghiệp, tham gia quảng bá xúc tiến du lịch tỉnh tại Triển lãm Du lịch - Ẩm thực và phát động hưởng ứng kích cầu Du lịch “Tam Đảo - Điểm hẹn trên mây” năm 2026; đón và hướng dẫn trên 1.000 khách về tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh. 3. Giáo dục, đào tạo Từ đầu năm 2026 đến nay, ngành giáo dục tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định quy mô giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Cuối năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có: (1) cấp mầm non có 503 trường (452 công lập, 51 tư thục), 6.117 lớp, 135.970 học sinh; (2) cấp tiểu học có 198 trường tiểu học và 256 trường TH&THCS với 7.456 lớp, 153.943 học sinh; (3) cấp THCS có 187 trường THCS và 256 trường TH&THCS, với 5.489 lớp, 222.143 học sinh; (4)  cấp THPT có 81 trường (55 công lập, 26 tư thục) với 2.508 lớp, 109.841 học sinh; (5) giáo dục thường xuyên, nghề nghiệp và đại học có 18 trung tâm GDTX GDNN với 18.172 học sinh, 48 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, 04 trường đại học công lập đang hoạt động trên địa bàn. Toàn tỉnh duy trì 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS mức độ 3, xóa mù chữ mức độ 2. Tỉnh hoàn thành tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức giáo viên mầm non, phổ thông công lập năm học 2025-2026 với 3.095 thí sinh tham dự, góp phần giải quyết tình trạng thiếu giáo viên. Tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia được bảo đảm. Toàn tỉnh đã công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cho 1.084/1.236 trường, trung tâm (đạt 87,70%). Tỷ lệ trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 1.071/1.218 trường (đạt 87,93%), trong đó cấp tiểu học dẫn đầu với 97,96%, tiếp đến là THCS đạt 95,72%. Sáu tháng đầu năm 2026, ngành giáo dục của tỉnh ghi nhận nhiều thành tích xuất sắc, tiêu biểu như: Học sinh Trường THPT Hưng Yên đoạt Huy chương Vàng lĩnh vực Hóa Sinh tại Cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế EUREKA WARSAW 2026 (Ba Lan). Tại Cuộc thi KHKT cấp quốc gia, tỉnh có 02 dự án đoạt giải (1 giải nhất, 1 giải tư), trong đó dự án của THPT Yên Mỹ được tham gia Hội thi ISEF 2026 tại Hoa Kỳ. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT, Hưng Yên có 125 học sinh đoạt giải (16 giải Nhì, 32 giải Ba, 77 giải Khuyến khích). Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027 tỉnh Hưng Yên diễn ra từ ngày 24 - 26/5/2026. Kỳ thi có 56 Hội đồng coi thi; 42.944 thí sinh (THPT công lập không chuyên: 40.721 thí sinh: THPT chuyên: 2.223 thí sinh); 1.918 phòng thi (THPT công lập không chuyên: 1.816 phòng thi; THPT chuyên: 102 phòng thi). Chiều ngày 24/5, thí sinh đến điểm thi làm thủ tục, nghe phổ biến quy chế. Ngày 25/5/2026: Sáng thi Ngữ văn, chiều thi Toán. Ngày 26/5/2026: Sáng thi Tiếng Anh; chiều thi môn chuyên (đối với thí sinh dự thi vào trường chuyên). Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2025-2026 diễn ra từ ngày 10-12/6/2026. Toàn tỉnh có 70 điểm thi, với 43.666 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: 41.791 thí sinh học lớp 12; 1.875 thí sinh tự do; số thí sinh học chương trình giáo dục THPT là 36.816; số thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên là 6.850. 4. Hoạt động y tế Tình hình bệnh truyền nhiễm: Từ đầu năm 2026 đến nay, toàn tỉnh không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Các đơn vị chủ động theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh, bệnh Cúm, Sốt xuất huyết, Tay chân miệng, Covid-19 và các bệnh truyền nhiễm khác. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh theo mùa. Công tác giám sát, báo cáo, thường trực phòng chống dịch được duy trì, kịp thời xử lý hiệu quả các ca bệnh/nghi bệnh/ổ dịch bệnh truyền nhiễm theo quy định. Tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong sáu tháng đầu năm 2026 như sau: bệnh tay chân miệng 1.096 ca; bệnh sởi 48 ca; bệnh sốt xuất huyết Dengue 103 ca; ho gà 11 ca; bệnh COVID-19 85 ca; hội chứng cúm: Không phát hiện các trường hợp mắc cúm nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh. An toàn vệ sinh thực phẩm: Tính đến 15/6/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ nghi ngộ độc thực phẩm: + Ngày 29/4/2026, xảy ra 01 vụ nghi ngộ độc thực phẩm do ăn tiết canh vịt (tiết vịt sống), có 31 người có triệu chứng nghi ngộ độc thực phẩm, 27 người điều trị tại bệnh viện, 4 người điều trị tại nhà, không có tử vong. Thực phẩm gây ngộ độc là tiết vịt sống; tác nhân gây ngộ độc thực phẩm: nghi nhiều do vi sinh vật. + Điều tra, xác minh thông tin nghi ngộ độc thực phẩm tại Bếp ăn tập thể Chi nhánh Công ty TNHH Toyoda Gosei Hải Phòng tại Thái Bình. Địa chỉ: KCN Tiền Hải, xã Ái Quốc, tỉnh Hưng Yên. 5. Vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ Trong tháng Sáu (Từ ngày 23/5/2026 đến ngày 22/6/2026), toàn tỉnh phát hiện 22 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 22 vụ với số tiền xử phạt 345,40 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 22 vụ; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 20 vụ; số tiền xử phạt tăng 345,40 triệu đồng. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 5 vụ, giảm 18,52%; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 11 vụ, tăng 100,0%; số tiền xử phạt tăng 33,36 triệu đồng, tăng 10,69%. Lũy kế sáu tháng đầu năm (từ ngày 23/12/2025 đến ngày 22/6/2026), toàn tỉnh phát hiện 45 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 57 vụ với số tiền xử phạt 3.364,42 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 69 vụ, tương ứng giảm 60,53%; số vụ đã xử lý giảm 15 vụ, tương ứng giảm 20,83%; số tiền xử phạt giảm 683 triệu đồng, giảm 16,88%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về đổ chất thải trái phép ra môi trường; xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Từ ngày 15/5/2026 đến ngày 14/6/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 04 vụ cháy (xã Mỹ Hào 01 vụ, xã Phụ Dực 01 vụ, xã Như Quỳnh 01 vụ, xã Quỳnh An 01 vụ); không có vụ nổ; không có thiệt hại về người; giá trị thiệt hại về tài sản là 2.135 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ cháy tăng 01 vụ, tương ứng tăng 33,33%. So với tháng cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 03 vụ, tương ứng tăng 300,0%; số người bị thương giảm 05 người. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 23 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 02 người; giá trị thiệt hại về tài sản 3.990 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ cháy, nổ tăng 06 vụ, tăng 35,29%; số người chết tăng 01 người; số người bị thương giảm 05 người, tương ứng giảm 71,43%. 6. An toàn giao thông Trong tháng Sáu (Từ ngày 15/5/2026 đến 14/6/2026), toàn tỉnh xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông (đường bộ xảy ra 32 vụ, đường thủy nội địa xảy ra 01 vụ), làm chết 28 người (đường bộ); làm bị thương 06 người (đường bộ). So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 02 vụ, tăng 6,45%; số người chết tăng 01 người, tăng 3,70%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 40,0%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 10 vụ, giảm 23,26%; số người chết tăng 01 người, tăng 3,70%; số người bị thương giảm 22 người, giảm 78,57%. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 236 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 233 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ), làm chết 160 người (đường bộ 159 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 126 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 42 vụ, giảm 15,11%; số người chết giảm 04 người, giảm 2,44%; số người bị thương giảm 49 người, giảm 28,0%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng. Đánh giá chung: Sáu tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, hiệu quả và kịp thời, trong đó, xây dựng chi tiết kịch bản điều hành và triển khai thực hiện quyết liệt, kịp thời các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhờ đó kinh tế của tỉnh đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 2 con số và vượt kịch bản đề ra. Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của kinh tế duy trì đà tăng tích cực và hầu hết đạt và vượt kịch bản đề ra. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động, nhất là dịp lễ, Tết được thực hiện đúng, đủ, kịp thời; chất lượng giáo dục nâng cao và y tế bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định. IV. KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Khó khăn, hạn chế Tăng trưởng ngành xây dựng chưa đạt kịch bản đề ra. Thực hiện một số nhiệm vụ đã có chỉ đạo, tiến độ triển khai một số dự án đầu tư công và công tác tác giải phóng mặt bằng ở một số xã, phường vẫn còn chậm; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tạm ngừng kinh doanh, giải thể) còn khá cao. Việc xử lý đối với một số dự án tồn tại được chỉ đạo triển khai quyết liệt nhưng chưa dứt điểm. Việc xử lý tài sản công, trụ sở dôi dư sau sắp xếp còn gặp khó khăn do vướng mắc về quy hoạch, chuyển đổi công năng và thủ tục pháp lý. Công tác quản lý đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… ở một số địa phương còn hạn chế, vi phạm vẫn còn tiếp diễn và chưa xử lý dứt điểm. Cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, chuyển đổi số tại một số cơ quan, đơn vị chưa có sự chuyển biến rõ nét. Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở một số địa bàn còn thấp. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Quá trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế. 2. Nguyên nhân Bên cạnh các nguyên nhân khách quan (tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là xung đột quân sự tại Trung Đông ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; thị trường tài chính, bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; giá nguyên liệu đầu vào (xăng, dầu…) tăng cao; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn bất cập, thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung,...), một số nguyên nhân chủ quan vẫn chưa được khắc phục triệt để, cụ thể: - Việc lãnh đạo, chỉ đạo của một số cơ quan, đơn vị thiếu quyết liệt, sâu sát; chưa linh hoạt, sáng tạo trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tính chủ động, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhất là những vấn đề khó, phức tạp còn hạn chế. Công tác dự báo, nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ của một số đơn vị chưa thực sự chủ động, kịp thời tham mưu giải quyết các vấn đề phát sinh. - Một số chủ đầu tư còn thiếu chủ động, chưa linh hoạt trong triển khai các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Một số dự án còn khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư; nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công; năng lực của một số nhà thầu còn hạn chế. - Ý thức chấp hành quy định về đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… của một số người dân chưa cao. Nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính đôi lúc chưa thống nhất. Năng lực, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu. V. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026 Nắm bắt, tháo gỡ kịp thời các khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, sớm đưa các dự án vào khai thác, tạo năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp; đẩy nhanh tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư, triển khai các dự án công nghiệp, nhất là dự án có quy mô lớn, quan trọng của tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước và Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của phía Bắc giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nhất là năng lượng sạch; nghiên cứu xây dựng Đề án xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm năng lượng vùng đồng bằng sông Hồng. Đẩy nhanh hoàn thiện Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên. Rà soát xây dựng phương án điều chỉnh ranh giới, điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế, Kế hoạch phát triển khu kinh tế 5 năm giai đoạn 2026-2030, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế giai đoạn 2026-2030. Khẩn trương rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, bảo đảm tính đồng bộ, chất lượng và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy nhanh tiến độ lập, phủ kín quy hoạch chung, quy hoạch phân khu các đô thị, quy hoạch chung đô thị, nông thôn, làm cơ sở để thu hút, mời gọi đầu tư các dự án theo quy định. Tổ chức lập Đề án xây dựng tỉnh trở thành đô thị loại I đến năm 2035 và thành phố trực thuộc Trung ương, thông minh, sinh thái đến năm 2045 và Kế hoạch phát triển các khu đô thị trung tâm của tỉnh. Theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án, công trình xây dựng trên địa bàn; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác quy hoạch, đầu tư, quản lý xây dựng, vật liệu xây dựng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng, chất lượng công trình và trật tự xây dựng. Rà soát, lập danh mục chi tiết dự án đầu tư công theo từng địa phương, từng chủ đầu tư, đặc biệt là các dự án, công trình trọng điểm; lập đường găng tiến độ giải ngân cụ thể, khả thi, sát thực tiễn, phấn đấu đạt và vượt mức giải ngân trung bình của cả nước, tạo bứt phá rõ nét về tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ngay trong Quý II/2026. Nghiên cứu triển khai phương án chấm điểm KPI việc thực hiện giải ngân vốn đầu tư công của các cơ quan, đơn vị, địa phương làm cơ sở để công khai, đánh giá kết quả giải ngân vốn đầu tư công của các đơn vị. Tiếp tục hoàn thiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 sau khi Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn cho tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, kiên quyết không để chậm tiến độ triển khai dự án đầu tư công do thiếu mặt bằng; đẩy nhanh tiến độ lập chủ trương đầu tư các dự án kết nối, tiến độ thi công các công trình, dự án, nhất là hạ tầng giao thông trọng điểm của tỉnh, có tính chất liên kết, kết nối vùng và hạ tầng kinh tế - xã hội khác. Đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác khuyến công, khuyến thương và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, kết nối cung cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối và tiêu dùng; phát triển mạnh thương mại điện tử. Thực hiện hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tiếp tục thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Tận dụng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), phát triển các thị trường xuất khẩu mới, mở rộng các thị trường xuất khẩu truyền thống. Tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực, từng bước xây dựng thương hiệu riêng của tỉnh đối với các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế như cây ăn quả, lúa chất lượng cao, thủy, hải sản. Xây dựng Đề án phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và Dự án cải tạo, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm cây ăn quả đặc sản, chủ lực tỉnh Hưng Yên theo hướng bền vững phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030. Thực hiện đạt kết quả cao Kế hoạch sản xuất trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị kinh tế cao; thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Hoàn thành Đề án phát triển nuôi trồng thủy hải sản đặc sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Duy trì tốt công tác quản lý, phát triển và bảo vệ rừng. Tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh. Chủ động hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương trong công tác quản lý đất đai, công tác giải phóng mặt bằng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng, hành lang giao thông, thủy lợi, đê điều; kiên quyết ngăn chặn, xử lý tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích. Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác thu ngân sách; rà soát đầy đủ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá và gian lận thuế bám sát các Bộ ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu, nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích nguồn thu; quản lý hiệu quả các nguồn thu phát sinh từ các giao dịch thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh qua mạng. Điều hành, quản lý chi ngân sách trong phạm vi dự toán được giao. Tăng cường quản lý chặt chẽ chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi đầu tư công, bảo đảm phân bổ và sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng quy định, tránh dàn trải, thất thoát, lãng phí. Nghiên cứu tham mưu cấp có thẩm quyền đảm bảo bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số. Tăng cường thu hút đầu tư; tập trung xúc tiến, thu hút các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có quy mô lớn, công nghệ cao, bảo vệ môi trường; cam kết đồng hành với nhà đầu tư, lắng nghe và trân trọng ý kiến đóng góp, tạo sự gắn kết và tin tưởng; kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư, cắt giảm thủ tục hành chính để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Tập trung đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân sách, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, phát triển đô thị và kinh tế đô thị; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Đẩy mạnh triển khai chuyển đổi số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin tại cơ quan, đơn vị, đặc biệt là Trung tâm phục vụ Hành chính công các cấp. Hỗ trợ tích cực người dân, doanh nghiệp chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Ban hành Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn đến năm 2030, trong đó, cụ thể hóa theo từng năm để các cơ quan, đơn vị, địa phương bám sát, triển khai thực hiện. Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, bảo đảm kịp thời, chính xác, đa dạng, phong phú và hấp dẫn; thực hiện đúng quy định về xử lý tin giả theo quy định. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch tiêu biểu. Phê duyệt Đề án phát huy giá trị truyền thống văn hóa, con người trở thành động lực phát triển quan trọng của tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quan tâm, ưu tiên nguồn lực bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa, di tích lịch sử. Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đảm bảo đủ thuốc, vật tư y tế chăm sóc và phục vụ Nhân dân. Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh (sốt xuất huyết, tay chân miệng...); đẩy mạnh phòng chống tác hại rượu bia, bệnh không lây nhiễm; triển khai các chương trình về dinh dưỡng, y tế trường học… Chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức tổng kết năm học 2025-2026, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học mới 2026-2027; hướng dẫn và chuẩn bị công tác tuyển sinh vào các cơ sở giáo dục mầm non, lớp 1 và lớp 6 năm học 2026-2027; quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm ở các cấp học. Tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; bảo đảm công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục mầm non. Tổ chức triển khai Đề án phát triển các trường THPT chuyên thuộc tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đẩy mạnh phát triển giáo dục nghề nghiệp, hợp tác doanh nghiệp trong công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và giải quyết việc làm. Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút, giữ chân lao động; triển khai các kế hoạch, chương trình về an toàn vệ sinh lao động, lao động - việc làm; tổ chức tập huấn, kiểm tra chuyên đề tại doanh nghiệp và hướng dẫn cơ sở, doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật về lao động - việc làm. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và quan tâm, chăm lo người nghèo, các đối tượng yếu thế. Tiếp tục phối hợp triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Tập trung triển khai quyết liệt, bài bản “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Rà soát các hộ nghèo, phân nhóm, đề xuất cơ chế chính sách và xây dựng kế hoạch giảm nghèo năm 2026 hướng tới mục tiêu đến hết năm 2026 tỉnh không còn hộ nghèo. Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; kiểm soát và giảm số lượng trẻ em bị xâm hại, tai nạn, thương tích, bạo lực học đường, đuối nước, tai nạn giao thông...; Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự; đảm bảo phù hợp với năng lực thực tiễn của chính quyền cơ sở, giúp cơ sở chủ động trong công tác cán bộ. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Rà soát tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm theo quy định. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, công vụ.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2026
  •   27/10/2026 08:48

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Năm, nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh là tập trung chăm sóc lúa và cây rau màu vụ xuân cuối vụ; chủ động phòng trừ sâu bệnh, chuẩn bị phương án thu hoạch lúa xuân; chống nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt cho cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản. Cụ thể như sau: a) Nông nghiệp Trồng trọt Cây hằng năm Sơ bộ diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ xuân năm 2026 đạt 115.202 ha, giảm 2,1%, tương ứng giảm 2.468 ha so với năm 2025. Trong cơ cấu cây trồng, diện tích lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 94.859 ha, giảm 2%, tương ứng giảm 1.951 ha. Diện tích gieo trồng lúa và cây rau màu vụ xuân giảm chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang xây dựng các công trình giao thông, mở rộng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh (giảm khoảng 2.466 ha); chuyển sang trồng cây lâu năm khoảng 123 ha; chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản 18,52 ha, bỏ hoang khoảng 328 ha. Hiện nay, lúa xuân đại trà đang ở giai đoạn trỗ bông đến chín sữa, diện tích lúa cấy sớm bắt đầu cho thu hoạch. Đến ngày 20/5/2026, toàn tỉnh đã thu hoạch được 7.500 ha lúa xuân, tập trung chủ yếu ở các xã: Hưng Hà, Thần Khê, Bắc Đông Hưng. Nhìn chung, vụ xuân năm nay, thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất dự kiến ổn định. Những ngày qua, khu vực Bắc Bộ, trong đó có tỉnh Hưng Yên, xảy ra nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, làm ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất. Nông dân các địa phương cần theo dõi sát sao dự báo thời tiết để chủ động trong công tác chống nóng cho cây trồng nhằm hạn chế thiệt hại, bảo vệ thành quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro bằng các biện pháp như: tưới nước cho cây trồng vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối khi nhiệt độ không quá cao; sử dụng màng phủ đất giúp giữ ẩm, giảm sự bay hơi nước, ngăn chặn cỏ dại và bảo vệ rễ cây khỏi tác động của nhiệt độ cao; tưới phun sương;...     Cây lâu năm Trong tháng Năm, hoạt động sản xuất cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Hưng Yên diễn ra tương đối thuận lợi. Các loại cây ăn quả chủ lực như nhãn, vải, chuối, cam, bưởi tiếp tục được người dân chú trọng chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh nhằm bảo đảm năng suất và chất lượng sản phẩm. Đối với cây nhãn - cây trồng đặc sản của tỉnh, phần lớn diện tích đang trong giai đoạn phát triển quả. Các nhà vườn cần tập trung thực hiện các biện pháp chăm sóc như tỉa cành, tạo tán, bón phân, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh nhằm nâng cao chất lượng quả. Đối với cây vải, từ giữa tháng Năm, tại các thôn trên địa bàn xã Tống Trân, Đoàn Đào, Tiên Tiến, Nguyễn Trãi, nông dân đang bước vào cao điểm thu hoạch vải lai chín sớm và vải trứng Hưng Yên. Năm nay, do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi trong giai đoạn ra hoa, đậu quả nên tỷ lệ đậu quả thấp hơn mọi năm, sản lượng vải dự báo giảm so với vụ trước. Mặc dù sản lượng vải giảm, song chất lượng quả nhìn chung vẫn bảo đảm, mẫu mã đẹp, quả ngọt và được thị trường tiêu thụ khá ổn định. Chăn nuôi Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trong tháng cơ bản ổn định, không có địa phương nào báo cáo xuất hiện trường hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được ngành chức năng và các địa phương triển khai chặt chẽ. Toàn tỉnh đã hoàn thành “Tháng tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường trong chăn nuôi” đợt 1 năm 2026 với khối lượng thực hiện 51.519 lít hóa chất và 368.692 kg vôi bột, góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh và ổn định sản xuất chăn nuôi trên địa bàn. Trước tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, công tác chống nóng cho đàn vật nuôi cần được đặc biệt chú trọng bằng các biện pháp như: sử dụng hệ thống quạt thông gió, phun nước lên mái chuồng, phun sương trong chuồng làm mát nhằm giảm nhiệt độ chuồng trại; sử dụng phên, lưới, bạt để che chắn chống nắng; khơi thông rãnh thoát nước thải và xử lý chất thải theo đúng quy định; bổ sung chất điện giải, vitamin vào khẩu phần ăn của vật nuôi để tăng sức đề kháng cho vật nuôi trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt;... Ước tính tại thời điểm 31/05/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.156 con, giảm 6,64%; đàn bò 77.504 con, giảm 6,13%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 998.222 con, tăng 2,32%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.342 nghìn con, tăng 1,11% (trong đó: đàn gà đạt 17.403 nghìn con, tăng 2,22%) so với cùng thời điểm năm trước. b) Lâm nghiệp Trong tháng Năm, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không có biến động lớn, các hoạt động chủ yếu diễn ra ổn định. Trong kỳ báo cáo, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng, phá rừng; công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được duy trì tốt.  Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Năm ước đạt 291 m³, giảm 0,68% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 214 nghìn cây, tăng 0,49%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.836 m³, tăng 0,03%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 727 nghìn cây, tăng 0,73% so với cùng kỳ năm 2025. c) Sản xuất thủy sản Sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên trong tháng Năm tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Trong điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, các hộ nuôi trồng thủy sản đã triển khai nhiều giải pháp chống nóng cho diện tích nuôi trồng thủy sản như: thường xuyên kiểm tra các chỉ số môi trường nước, sử dụng chế phẩm sinh học nhằm ổn định môi trường ao nuôi, hạn chế dịch bệnh phát sinh; duy trì mực nước trong ao từ 1,5 – 2 m trong suốt mùa hè, đồng thời thả bèo tây trên mặt ao chiếm khoảng 1/3 diện tích để làm chỗ trú cho thủy sản; thời điểm cho thủy sản ăn cũng được điều chỉnh vào sáng sớm và chiều mát để tránh hiện tượng sốc nhiệt; bổ sung khoáng chất, vitamin tăng sức đề kháng cho thủy sản nuôi;... Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Năm toàn tỉnh ước đạt 9.927 tấn, tăng 3,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.042 tấn, tăng 3,71%; tôm 121 tấn, tăng 3,42%; thủy sản khác 3.764 tấn, tăng 3,83%. Ước tính năm tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển toàn tỉnh ước đạt 47.463 tấn, tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 29.532 tấn, tăng 3,72%; tôm 646 tấn, tăng 3,69%; thủy sản khác 17.285 tấn, tăng 3,50%. Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 18.720 tấn, tăng 3,34% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.442 tấn, tăng 3,46%; tôm 586 tấn, tăng 2,99%; thủy sản khác 9.692 tấn, tăng 3,26%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 95.921 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 41.569 tấn, tăng 3,61%; tôm 1.494 tấn, tăng 3,23%; thủy sản khác 52.858 tấn, tăng 3,59%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất. Lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Năm và năm tháng đầu năm 2026 như sau: So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Năm tăng 0,91%, trong đó: khai khoáng tăng 0,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,00%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,33%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,02%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 112,77%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 27,93%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 12,23%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 11,25%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 3,19%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăn 2,63%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 10,54%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 7,99%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 7,67%; thức ăn cho gia súc tăng 5,18%;....Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp so với tháng trước như: thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 24,17%; dây thép không gỉ giảm 26,06%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 3,0%; mạch điện tử tích hợp giảm 7,88%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 7,61%; sắt, thép các loại giảm 2,87%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 1,62%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10 kg vải khô một lần giặt giảm 0,5%; quần áo các loại tăng 0,38%; mạch in khác tăng 0,3%;...... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm tăng 14,18%, trong đó: khai khoáng giảm 6,90%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,70%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,25%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,04%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: dây thép không gỉ tăng 61,68%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 25,87%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 37,45%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 21,64%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng tăng 55,33%; mạch điện tử tích hợp tăng 46,03%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 43,05%; mạch in khác tăng 29,43%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 24,10%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 23,08%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 18,57%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 18,62%;... Bên cạnh đó, có một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 7,65%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 8,50%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 7,43%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 7,07%; sắt, thép các loại giảm 4,34%; thức ăn cho gia súc giảm 3,8%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 1,96%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 4,28%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 34,82%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 8,23%;... Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH thương mại và CN Mỹ Việt sản phẩm sản xuất (SPSX) tăng 19,72%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 26,15%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 19,87%; Công ty TNHH Kết cấu thép Cơ khí Xây dựng tăng 18,79%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 6,86%; Công Ty TNHH Đức Hạnh tăng 5,12%; Công ty Tôn Vikor tăng 186,26%; Công ty Formosa tăng 38,04%; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Hương Linh tăng 17,15%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 25,15%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 16,51%; Công ty Cổ phần Bảo Hưng tăng 56,25%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 54,82%; CN Công ty TNHH May Việt Thái tăng 25,87%; Công ty TNHH TAV tăng 3,98%; Công ty TNHH MXP tăng 61,06%; Công ty TNHH Ivory Việt Nam tăng 20,0 %; Công ty TNHH Tân Đệ - Chi nhánh Thái Bình tăng 137,93%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 20,0%; Công ty TNHH P S Vina tăng 15,08%; Công ty TNHH Greenworks tăng 105,44%; Công ty Cổ phần Liên doanh Kangaroo quốc tế tăng 118,43%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 75,00%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 89,75%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 50,61%; Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam giảm 4,16%; Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 6,59%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen giảm 11,05%; Công ty TNHH Điện lạnh Hào Phát giảm 5,88%; Công ty TNHH Giấy và Bao bì Việt Hưng tăng 5,12%; Công ty TNHH Chung Phát tăng 127,24%; Công ty Cổ phần KOPAC tăng 36,76%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 32,44%; Công ty TNHH Jp corelex Việt Nam tăng 47,63%; Công ty TNHH Phúc Kiên tăng 48,59%; Công ty TNHH Dongyang E&p Việt Nam tăng 26,36%; Công ty TNHH Hsin Yue Hsing tăng 38,97%; Công ty TNHH INYANG ELECTRONICS VINA tăng 120,89%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 19,0%; Công ty Thép không gỉ Hà Anh tăng 37,45%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 33,17%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 120,26%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 25,87%; Công ty TNHH Dây thép Hoà Phát tăng 61,68%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 26,34%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 46,83%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 21,64%; Công ty TNHH MTV Thép Hào Phát tăng 0,97%; Công ty TNHH giầy Ngọc Tề tăng 3,5%. Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Năm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 26,61%; Công ty TNHH sao vàng - Chi Nhánh tại Quỳnh Phụ tăng 3,02%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,19%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 91,64%; Công ty TNHH giày dép Thái Thuỵ giảm 0,78%; Công ty Cổ phần GREATWOOD Hưng Yên giảm 17,36%; Công ty TNHH vật liệu mới Nhuận Phát giảm 12,02%; Công ty TNHH Minh Long giảm 7,35%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,68% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 6,48%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 6,37%; khai khoáng khác tăng 6,48%. Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,71%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 75,75%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 37,30%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 33,24%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 24,62%; sản xuất trang phục tăng 22,70%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 20,64%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,47%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 18,76%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 18,28%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,28%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 5,98%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 2,87%;…… Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong năm tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 62,60%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 42,65%; mạch điện tử tích hợp tăng 36,13%; nước khoáng không có ga tăng 28,49%; quần áo các loại tăng 17,3%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 16,05%; mạch in khác tăng 14,90%; điện thương phẩm tăng 14,83%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 19,66%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 28,89%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 51,34%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 35,57%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 25,40%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 14,56%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 8,03%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 2,93%; thức ăn cho gia súc giảm 0,68%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 0,43%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 26,21%;.... Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Việc bảo đảm nguồn điện sản xuất và phân phối điện là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và khu vực miền Bắc là nhiệm vụ quan trọng của ngành điện tỉnh Hưng Yên. Trong tháng Năm, sản lượng điện sản xuất và phân phối có tăng trưởng khá so với cùng kỳ, do sản lượng điện sản xuất và phân phối đều tăng. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện tháng Năm tăng 12,25% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng 4,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: điện sản xuất tăng 1,46%; điện thương phẩm tăng 14,83%. Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải: Hoạt động cung cấp nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển do nhu cầu tiêu thụ nước sạch của hộ dân cư và doanh nghiệp ngày càng tăng. Các doanh nghiệp và nhà máy nước đã mở rộng nâng công suất và đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước sạch bao phủ phần lớn các xã, phường, đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của khách hàng. Hoạt động xử lý rác thải, tái chế trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng dần sau thời gian dài tăng trưởng thấp, phần lớn là do Công ty TNHH Ngọc Thiên có hoạt động tái tế chì có giá trị sản xuất lớn, còn lại các cơ sở khác cơ bản sản xuất ổn định và phát triển. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải năm tháng đầu năm 2026 tăng 14,14 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,09%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 5,78%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 15,03%. b) Chỉ số sử dụng lao động Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Năm toàn ngành tăng 5,14% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng trước tăng 0,97%; cộng dồn năm tháng tăng 4,40% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tháng Năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện ổn định và có sự phát triển khá. Năm tháng đầu năm 2026, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 38,84%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,70%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 21,76%; sản xuất đồ uống tăng 19,17%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,98%; ... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 7,34%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 7,01%; dệt giảm 5,14%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,34%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,95%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong bối cảnh Hưng Yên đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển công nghiệp, việc đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, chủ động tạo quỹ đất sạch và hoàn thiện hạ tầng được xem là yếu tố then chốt để chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng thực tế, tiếp tục nâng cao vị thế của tỉnh trên bản đồ thu hút đầu tư khu vực phía Bắc. Tính đến đầu tháng Năm, công tác giải phóng mặt bằng tại nhiều khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đang được tập trung triển khai nhằm sớm đưa quỹ đất vào khai thác, phục vụ thu hút đầu tư. Trong đó, Khu công nghiệp số 1 tại hai xã Yên Mỹ và Xuân Trúc do Công ty Cổ phần Viglacera Hưng Yên làm chủ đầu tư đang ghi nhận tiến độ tích cực. Dự án có quy mô gần 217 ha, tổng mức đầu tư hơn 2.300 tỷ đồng. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã hoàn thành 100% tại xã Xuân Trúc. Tại xã Yên Mỹ, các đơn vị đang tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ để sớm bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư. Dự án đã hoàn thành 3 đợt chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho các hộ dân thuộc phạm vi dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp số 1 tại hai xã với tổng kinh phí khoảng 126 tỷ đồng và nhận được sự đồng thuận cao của người dân. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Năm năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 3.723 tỷ đồng, tăng 47,95%, tương ứng tăng 1.207 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.200 tỷ đồng, tăng 63,94%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.523 tỷ đồng, tăng 29,67%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 13.833 tỷ đồng, tăng 21,99%, tương ứng tăng 2.494 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 32,14% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 7.989 tỷ đồng, tăng 30,40%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 5.844 tỷ đồng, tăng 21,11%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 26/5/2026, toàn tỉnh có 984 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.550,729 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/5/2026, có 19 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 227,02 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 202 dự án, vốn đăng ký là 6.367,34 triệu USD, chiếm 36,28% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 376 dự án, vốn đăng ký 4.535,44 triệu USD, chiếm 25,84% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 215 dự án, vốn đăng ký 2.315,75 triệu USD, chiếm 13,19% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/4/2026 đến ngày 21/5/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 461 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.891 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 5.216 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 92 doanh nghiệp, sử dụng 1.407 lao động, vốn đăng ký 979 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 168 doanh nghiệp, sử dụng 587 lao động, vốn đăng ký 652 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 15 doanh nghiệp, sử dụng 89 lao động, vốn đăng ký 2.809 tỷ đồng; vận tải kho bãi 49 doanh nghiệp, sử dụng 262 lao động, vốn đăng ký 156 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 25 doanh nghiệp, sử dụng 129 lao động, vốn đăng ký 91 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 18 doanh nghiệp, sử dụng 62 lao động, vốn đăng ký 84 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 5 doanh nghiệp, sử dụng 20 lao động, vốn đăng ký 5 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh có 2.570 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 18.112 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 23.235 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.105 doanh nghiệp, sử dụng 4.281 lao động, vốn đăng ký đạt 3.821 tỷ đồng (chiếm 16,44% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 503 doanh nghiệp, sử dụng 9.286 lao động, vốn đăng ký đạt 4.692 tỷ đồng (chiếm 20,19%); xây dựng 234 doanh nghiệp, sử dụng 1.026 lao động, vốn đăng ký 1.509 tỷ đồng (chiếm 6,50%); hoạt động vận tải, kho bãi 197 doanh nghiệp, sử dụng 759 lao động, vốn đăng ký 943 tỷ đồng (chiếm 4,06%); giáo dục và đào tạo 46 doanh nghiệp, sử dụng 188 lao động, vốn đăng ký 68 tỷ đồng (chiếm 0,29%); kinh doanh bất động sản 92 doanh nghiệp, sử dụng 839 lao động, vốn đăng ký 10.421 tỷ đồng (chiếm 44,85%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 111 doanh nghiệp, sử dụng 490 lao động, vốn đăng ký 295 tỷ đồng (chiếm 1,27%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 81 doanh nghiệp, sử dụng 330 lao động, vốn đăng ký 276 tỷ đồng (chiếm 1,19%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Năm (tính từ ngày 22/4/2026 đến ngày 21/5/2026) là 51 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/5/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 428 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/4/2026 đến ngày 21/5/2026, số doanh nghiệp giải thể là 62 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 96 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh có 402 doanh nghiệp giải thể và 1.177 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 84 doanh nghiệp giải thể và 281 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,90% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 23,87% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 132 doanh nghiệp giải thể và 412 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 32,84% và 35,0%; kinh doanh bất động sản có 23 doanh nghiệp giải thể và 25 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,72% và 2,12%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 16 doanh nghiệp giải thể và 52 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,98% và 4,42%; giáo dục và đào tạo có 40 doanh nghiệp giải thể và 21 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,76% và 1,94%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm năm 2026 tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.536 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 17,75% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 123.631 tỷ đồng, tăng 16,57% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Năm và năm tháng đầu năm 2026 (theo giá hiện hành)                                                                        T5.2026 5T.2026 T5.2026 T5.2025 5T.20265T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 24.536 123.631 117,75 116,57 Thương nghiệp 12.811 62.414 118,76 117,99 DV lưu trú, ăn uống 1.284 6.236 111,75 113,97 DV du lịch lữ hành 10 39 110,69 113,43 Dịch vụ khác 10.431 54.941 117,30 115,30 Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Năm ước đạt 12.811 tỷ đồng, chiếm 52,21% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 24,87%; hàng may mặc tăng 12,47%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 12,17%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 92,74%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 48,01%; xăng, dầu các loại tăng 32,36%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 47,74%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 31,29%; hàng hóa khác tăng 18,93%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 42,47%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng, thì có hai nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm như: nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 2,85%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 20,96% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 62.414 tỷ đồng, tăng 17,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 25,74%; hàng may mặc tăng 17,58%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 7,46%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 44,65%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 2,66%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 26,19%; xăng dầu các loại tăng 25,44%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 32,78%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 38,83%; hàng hóa khác tăng 17,96%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 30,89%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Năm ước đạt 1.284 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 37 tỷ đồng, tăng 0,47% so với tháng trước và tăng 11,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.247 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước và tăng 11,77% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.236 tỷ đồng, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 180 tỷ đồng, tăng 12,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 6.056 tỷ đồng, tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Năm ước đạt 10,4 tỷ đồng, tăng 11,57% so với tháng trước và tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước. Tháng qua, hoạt động du lịch và lữ hành tiếp tục tăng trưởng khá nhờ nhu cầu du lịch trong nước tăng mạnh vào dịp nghỉ lễ và thời điểm bắt đầu mùa du lịch hè. Các chương trình kích cầu du lịch, tour ngắn ngày và du lịch trải nghiệm tiếp tục thu hút khách hàng. Tuy nhiên, giá nhiên liệu tăng do tác động từ biến động chính trị và kinh tế thế giới đã làm chi phí vận chuyển, lưu trú và giá tour tăng nhẹ, ảnh hưởng nhất định đến nhu cầu chi tiêu của một bộ phận khách du lịch. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 39 tỷ đồng, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Năm ước đạt 10.431 tỷ đồng, tăng 0,80% so với tháng trước và tăng 17,30% so cùng kỳ năm 2025. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.103 tỷ đồng, tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 17,59% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 476 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước và tăng 15,28% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 192 tỷ đồng, giảm 4,12% so với tháng trước và tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 261 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 21,06% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí 81 tỷ đồng, tăng 7,31% so với tháng trước và tăng 13,05% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 317 tỷ đồng, giảm 0,47% so với tháng trước và tăng 12,95% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 54.941 tỷ đồng, tăng 15,30% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành chiếm tỷ trọng cao nhất là ngành kinh doanh bất động sản - chiếm tới 88,11% tổng doanh thu các ngành dịch vụ và tăng 15,62% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,66%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,22%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,93%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 17,01%; dịch vụ khác tăng 11,55%. Hoạt động kinh doanh bất động sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong thời gian qua duy trì xu hướng phục hồi tích cực. Nhu cầu giao dịch, đầu tư và triển khai các dự án nhà ở, khu đô thị tiếp tục tăng, nhất là tại các khu vực có hạ tầng phát triển và gần các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, biến động giá nhiên liệu và vật liệu xây dựng do tác động từ thị trường thế giới tiếp tục làm gia tăng chi phí đầu vào của các dự án bất động sản. Tuy nhiên, thị trường vẫn được hỗ trợ bởi nhu cầu nhà ở thực tế, các dự án quy mô lớn đang triển khai và chính sách thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm tăng 0,27%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 09 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,08%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giao thông tăng 0,59%; thông tin và truyền thông tăng 0,13%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,73%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Năm năm 2026                                                                        T5.2026T4.2026 T5.2026T5.2025 5T.20265T.2025 (%) (%) (%) Chỉ số giá tiêu dùng chung    100,27    105,89    104,06 Chỉ số vàng    95,67    137,72    171,05 Chỉ số đô la Mỹ     100,03    101,49    102,79 Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,11%, do nguồn cung vụ Đông Xuân tăng mạnh, giá gạo xuất khẩu đầu năm 2026 của nước ta giảm nên giá bán giảm theo. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,43% do: Nhóm thịt gia súc giảm 1,22% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 1,76%; nội tạng động vật giảm 0,11%; mỡ nội tạng giảm 0,76%) do giá thịt lợn hơi giảm dẫn đến giá thịt thành phẩm giảm, do một số nơi đã xuất hiện dịch tả lợn Châu Phi, bên cạnh đó thịt nhập khẩu giá rẻ và chi phí thức ăn chăn nuôi hạ nhiệt. Nhóm thịt gia cầm giảm 0,76% do thị trường cung vượt cầu, người chăn nuôi tăng đàn mạnh từ cuối năm 2025 nhưng sau Tết sức mua giảm; nhóm trứng các loại giảm 1,10% do nguồn cung dồi dào, sức mua giảm; nhóm quả tươi chế biến giảm 2,63% do một số loại trái cây vào vụ thu hoạch như cam, xoài, dứa,... làm giá bán giảm. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,06%, chủ yếu do: chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 2,92%; chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,49% do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt tăng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,54%, tăng ở các mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền,... chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 1,50%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%, do một số mặt hàng thiết yếu tăng giá như: máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, quạt điện, máy ép sinh tố, giường, tủ, bàn ghế, đồ nhôm,… do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng giá. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,59%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong tháng được điều chỉnh theo diễn biến giá thế giới. Theo đó giá xăng tăng 1,81%; giá dầu mỡ nhờn tăng 4,76%; giá dầu diezel giảm 16,42%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,73%, chủ yếu do giá cờ bài các loại tăng 0,85%; giá chó, mèo cảnh tăng 0,29%; giá vé du lịch trong nước tăng 0,40%; giá nhà khách tăng 1,80%. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%, chủ yếu do giá một số dịch vụ cá nhân tăng như: dịch vụ chăm sóc cá nhân, đồ dùng cá nhân và các dịch vụ phục vụ chăm sóc cơ thể tăng 1,20%; giá dịch vụ chăm sóc người già tăng 1,39%; giá vật dụng về hỉ tăng 0,13%; giá vật dụng về hiếu tăng 0,29%; giá dịch vụ môi giới tăng 0,87%. So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm tăng 3,89%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,03%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,74%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,54%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,29%; giao thông tăng 11,59%; thông tin và truyền thông tăng 1,12%; giáo dục tăng 0,20%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,10%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm tăng 5,89%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,58% (lương thực tăng 5,50%; thực phẩm tăng 6,57%; ăn uống ngoài gia đình tăng 7,21%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,61%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,66%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,33%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,34%; giao thông tăng 12,14%; thông tin và truyền thông tăng 1,38%; giáo dục tăng 1,35%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57%. Bình quân chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,12%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,17%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,44%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,87%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,64%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,26%; giao thông tăng 4,68%; thông tin và truyền thông tăng 0,88%; giáo dục tăng 1,24%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,16%. Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,42% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,55% do giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo chi phí vận hành như tiền công lao động, chi phí thuê mặt bằng và chi phí nguyên liệu chế biến, trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, liên hoan tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,87% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà, chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, hoàn thiện nhà cửa tăng. Bên cạnh đó, giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với năm trước. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng này chủ yếu do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, trong khi giá thuốc chữa bệnh trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó một số bệnh viên tư nhân tăng giá khám chữa bệnh, đã tác động làm mặt bằng giá dịch vụ y tế cao hơn so với cùng kỳ, dẫn đến chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 5,21% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào giao mùa, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,17%, do giá dầu tăng kéo theo chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất tăng dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (6) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,68%, do giá xăng, dầu trong nước có các đợt điều chỉnh theo cơ chế điều hành của Nhà nước, bám sát diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm giá bán lẻ xăng, dầu bình quân trong kỳ tăng so với cùng kỳ. Việc tăng giá xăng, dầu đã kéo theo chi phí sử dụng phương tiện giao thông tăng, qua đó tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông tăng trong kỳ. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 5/2026 giảm 4,33% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 5/2026 giá vàng xấp xỉ 16.598.280 VNĐ/chỉ. Tháng 5/2026, giá đô la Mỹ (USD) có xu hướng tăng so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế tăng, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định. Bên cạnh đó, chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD tăng nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 5/2026 tăng 0,03% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.339 VNĐ. c) Chỉ số giá sản xuất So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Năm tăng 0,02%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp giảm 0,01%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 5,90%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,65%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: thóc khô giảm 0,19%; ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác giảm 0,45%; khoai tây giảm 0,48%; rau lấy lá còn lại giảm 0,88%; rau lấy quả giảm 0,68%; hoa các loại giảm 0,78%; sản phẩm cây gia vị hàng năm giảm 0,43%; hồng xiêm giảm 0,54%; chuối giảm 1,75%; nhãn giảm 1,07%; sản phẩm cây chè giảm 0,85%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò giảm 0,18%; gà giảm 0,25%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 5,90%; cá khai thác nội địa giảm 0,19%; cá trắm nuôi nội địa giảm 0,56%; ... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: khoai lang tươi tăng 0,49%; mía cây tươi tăng 0,89%; lạc tăng 0,12%; dưa lấy quả tăng 3,07%; cà chua tăng 2,97%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 0,22%; xoài tăng 5,74%; mít tăng 3,73%; ổi tăng 3,15%; chanh thường tăng 3,65%; vải tăng 14,96%; sản phẩm chăn nuôi lợn và giống lợn tăng 0,25%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 1,40%; tôm nuôi biển còn lại tăng 2,42%; tôm nuôi nội địa tăng 1,34%; ... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Năm năm 2026 tăng 3,09%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lượng thực có hạt tăng 1,99%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 7,16%; mía cây tươi tăng 6,02%; thuốc lá, thuốc lào tăng 3,78%; đậu tương tăng 7,50%; rau lấy lá tăng 7,79%; dưa lấy quả tăng 8,91%; rau họ đậu tăng 6,52%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 13,65%; nấm trồng các loại tăng 9,29%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 7,49%; hoa hồng tăng 8,63%; sản phẩm cây hàng năm khác tăng 13,86%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 7,49%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 6,59%; sản phẩm cây chè tăng 8,80%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,87%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 7,16%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 28,92%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 14,73%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 2,26%; cá nuôi biển tăng 4,23%; cá nuôi nội địa tăng 4,20%; tôm nuôi nội địa tăng 8,02%,... Ngược lại, các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 1,28%; quả na giảm 2,49%; mít giảm 1,02%; quýt giảm 2,18%; bưởi giảm 0,40%; táo, mận và các loại quả có hạt như táo giảm 0,96%; nhãn, vải, chôm chôm giảm 13,98%; lợn giảm 0,65%;... So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Năm năm 2026 tăng 0,61%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,63%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,27%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,18%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 1,06%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,39%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,25%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 0,51%; trang phục dệt kim, đan móc tăng 0,72%; plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh tăng 1,20%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu tăng 1,03%; sản phẩm gang, sắt thép tăng 1,69%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 6,37%; cấu kiện kim loại tăng 1,41%; mô tơ, máy phát tăng 2,63%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 0,54%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 3,29%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 1,94%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại tăng 1,11%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: mỳ ống, mỳ sợi và sản phẩm tương tự giảm 1,51%; cà phê giảm 0,61%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 0,82%; sản phẩm điện tử dân dụng giảm 0,74%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,17%; pin và ắc quy giảm 2,52%; thiết bị điện khác giảm 1,48%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 3,98%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 0,80%; điện sản xuất giảm 3,03%; điện mặt trời giảm 4,79%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 0,52%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Năm năm 2026 tăng 3,36%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,47%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,39%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,98%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,94%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,88%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 5,51%; thực phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 6,76%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 8,16%; sản phẩm may trang phục tăng 2,88%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 5,60%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,43%; đồ gỗ xây dựng tăng 4,40%; dịch vụ liên quan đến in tăng 9,77%; hóa chất cơ bản tăng 8,20%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,93%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 11,22%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 17,20%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 33,90%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 40,88%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 3,57%; mô tô, xe máy tăng 13,63%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,98%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,59%; điện sản xuất tăng 8,91%; điện mặt trời tăng 6,36%; nước tự nhiên khai thác tăng 4,50%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 10,00%; trang phục dệt, kim, đan móc giảm 1,13%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,63%; sản phẩm khác từ cao su giảm 3,77%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,66%; thiết bị điện khác giảm 0,74%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 3,98%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,55%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 5,04%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 7,16%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 2,27%;... 6. Hoạt động vận tải Tình hình chiến sự ở các nước Trung Đông ngay từ tuần đầu tháng Ba đến nay đã gây ảnh hưởng mạnh đến giá xăng dầu trong nước, làm tác động trực tiếp đến chi phí vận tải cũng như doanh thu đối với hoạt động này trong thời gian qua. Các doanh nghiệp đang chịu áp lực lớn trong việc điều chỉnh chi phí, thay đổi công ty giao nhận và tối ưu hóa quy trình để ứng phó với các yếu tố bất lợi này. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Năm năm 2026 ước đạt 2.377 tỷ đồng, giảm 2,51% so với tháng trước và tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước. Năm tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 12.067 tỷ đồng, tăng 17,50% so cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Năm năm 2026 ước đạt 5,5 triệu lượt người vận chuyển và 504 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 3,26% về lượt người vận chuyển, giảm 5,85% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 2,02% về lượt người vận chuyển, tăng 0,66% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 390 tỷ đồng, giảm 6,87% so với tháng trước và tăng 3,71% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 29 triệu lượt người vận chuyển và 2.669 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 9,61% về lượt người vận chuyển và tăng 9,60% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.077 tỷ đồng, tăng 11,81% so với cùng kỳ năm trước. Việc các địa phương tổ chức nhiều lễ hội văn hóa, du lịch đầu năm và các dịp nghỉ lễ tết kéo dài góp phần thúc đẩy nhu cầu di chuyển, đặc biệt là ở các tuyến liên tỉnh và nội tỉnh phục vụ du khách. Trong khi đó, hệ thống giao thông toàn tỉnh được nâng cấp, cải thiện hạ tầng bến bãi, tăng cường chất lượng phương tiện công cộng đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, góp phần vào mức tăng doanh thu đối với hoạt động vận tải trong năm tháng đầu năm 2026. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Năm năm 2026 ước đạt 6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.675 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt giảm 0,71% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 5,45% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 2,98 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 5,52% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.775 tỷ đồng, giảm 2,18% so với tháng trước và tăng 18,02% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 32 triệu tấn vận chuyển và 8.829 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 11,60% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 14,61% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 8.925 tỷ đồng, tăng 20,50% so với cùng kỳ năm trước. Qua khảo sát tại nhiều cơ sở hoạt động vận tải cho biết, từ đầu năm đến nay, các cơ sở nhận được nhiều hợp đồng vận chuyển, các đầu xe thường chạy tối đa công suất nên doanh thu tăng tương đối so với cùng kỳ năm trước. c) Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Năm năm 2026 ước đạt 189 tỷ đồng, tăng 2,88% so với tháng trước và giảm 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939 tỷ đồng, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước.  Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Năm năm 2026 ước đạt 23 tỷ đồng, tăng 8,89% so với tháng trước và tăng 7,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 127 tỷ đồng, tăng 22,35% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Năm ước đạt 6.470 tỷ đồng, giảm 17,51% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 5.873 tỷ đồng, giảm 19,44%; thuế xuất nhập khẩu 597 tỷ đồng, tăng 7,98%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 119 tỷ đồng, tăng 18,32%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 518 tỷ đồng, tăng 114,10%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.199 tỷ đồng, giảm 14,79%; thu thuế thu nhập cá nhân 215 tỷ đồng, giảm 39,76%; các khoản thu về đất 3.555 tỷ đồng, giảm 26,37%;... Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Năm và năm tháng đầu năm 2026 T5.2026(Tỷ đồng) 5T.2026(Tỷ đồng) T5.2026T5.2025(%) 5T.20265T.2025(%) Tổng số 6.470 33.187 82,49 85,85 Thu nội địa 5.873 30.395 80,56 84,19 Tr. đó: Thu từ đất 3.555 12.930 73,63 68,65 Thu Hải quan 597 2.792 107,98 109,32 Tính chung năm tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 33.187 tỷ đồng, giảm 14,15% so với cùng kỳ năm trước và đạt 39,39% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 30.395 tỷ đồng, giảm 15,81%; thuế xuất nhập khẩu 2.792 tỷ đồng, tăng 9,32%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 571 tỷ đồng, tăng 110,35%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2.593 tỷ đồng, tăng 25,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 11.026 tỷ đồng, giảm 5,83%; thu lệ phí trước bạ 748 tỷ đồng, tăng 14,25%; thuế thu nhập cá nhân 1.663 tỷ đồng, giảm 2,60%; các khoản thu về đất 12.930 tỷ đồng, giảm 31,35%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Năm ước đạt 4.264 tỷ đồng, giảm 21,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.833 tỷ đồng, giảm 39,54%; chi thường xuyên 2.431 tỷ đồng, tăng 0,52%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 28.516 tỷ đồng, tăng 10,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 17.331 tỷ đồng, tăng 5,97%; chi thường xuyên 11.186 tỷ đồng, tăng 18,23%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 3.954 tỷ đồng, tăng 2,15%; chi sự nghiệp y tế 960 tỷ đồng, tăng 11,76%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 124 tỷ đồng, giảm 25,80%; chi đảm bảo xã hội 2.723 tỷ đồng, tăng 139,72%; chi quản lý hành chính 2.287 tỷ đồng, giảm 9,45%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/5/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 319.000 tỷ đồng, tăng 3,13% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 314.500 tỷ đồng, tăng 2,37% và chiếm 98,59% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,41%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/5/2026 đạt 271.000 tỷ đồng, tăng 2,30% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.000 tỷ đồng, tăng 0,13%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 79.000 tỷ đồng, tăng 7,98%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 262.500 tỷ đồng, tăng 1,53%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 8.500 tỷ đồng, tăng 33,33%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 175.930 tỷ đồng, tăng 2,28% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 116.500 tỷ đồng, tăng 3,65%; xuất khẩu 1.710 tỷ đồng, tăng 5,56%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.300 tỷ đồng, giảm 0,29%; công nghiệp hỗ trợ 5.420 tỷ đồng, tăng 1,50%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/5/2026 ước tính là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,65% dư nợ tín dụng), giảm 7,06% so với với thời điểm 31/12/2025. d) Bảo hiểm xã hội Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 4 năm 2026 là 638.517 người, tăng 11.752 người, tương ứng tăng 1,9% so với tháng trước; tăng 57.309 người, tương ứng tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 50,36% so với lực lượng lao động. Trong đó: BHXH bắt buộc 558.302 người, tăng 12.298 người (tăng 2,3%) so với tháng trước; tăng 53.525 người (tăng 10,6%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 80.215 người, giảm 546 người (giảm 0,7%) so với tháng trước, tăng 3.784 người (tăng 5%) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 30/4/2026 là 536.573 người, tăng 9.748 người (tăng 1,9%) so với tháng trước; tăng 50.866 người (tăng 10,5%) so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia BHYT là 2.809.158 người, tăng 9.789 người (tăng 0,3%) so với tháng trước, tăng 21.221 người (tăng 0,8%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 95,4%. Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 4/2026 là 5.252,5 tỷ đồng, tăng 1.492 tỷ đồng (tăng 28,4%) so với tháng trước, tăng 439,2 tỷ đồng (tăng 9,1%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 29,7% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 4/2026 đạt 1.005,7 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi BHXH 3.995,5 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.119,4 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 2.876,1 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 4/2026 là 106,1 tỷ đồng. Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 4/2026 là 339,7 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi phí khám chữa bệnh BHYT là 1.177,1 tỷ đồng, tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 467,6 tỷ đồng; chi KCB nội trú 709,5 tỷ đồng. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội Đời sống dân cư: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng Năm năm 2026 phát triển ổn định. Toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số; đẩy mạnh cơ cấu lại thực chất, hiệu quả hơn nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và môi trường kinh doanh của nền kinh tế. Toàn tỉnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả 7 Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn. Tạo lập đồng bộ các yếu tố nền tảng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại, đô thị văn minh, kinh tế biển mạnh. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội; nâng cao chất lượng mọi mặt cuộc sống nhân dân. Lao động việc làm: Trong tháng Năm, tỉnh giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 805 người, tư vấn giới thiệu việc làm cho 2.557 người; toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.100 lao động, trong đó có 650 lao động đi làm 2 việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Công tác an toàn, vệ sinh lao động tiếp tục được triển khai hiệu quả; tổ chức tập huấn cơ sở dữ liệu tai nạn lao động, ban hành 01 quyết định điều tra, kết luận điều tra 02 vụ tai nạn lao động và tiếp tục điều tra 13 vụ việc. Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn 960 lượt doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính; cấp giấy phép lao động và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 543 lao động nước ngoài; thu hồi 113 giấy phép lao động; hướng dẫn đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể cho 38 doanh nghiệp; xác nhận sử dụng 514 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và tiếp nhận hồ sơ kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu đối với 2.077 thiết bị; xác nhận bản cam kết cho 107 lao động đi làm việc tại Đài Loan của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 25.720 lao động, trong đó có 2.620 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; thực hiện trợ cấp thất nghiệp cho 3.619 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho gần 12.000 người; tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn trên 2.400 lượt doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính; cấp giấy phép lao động và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 2.250 lao động nước ngoài; hướng dẫn 718 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ; tiếp nhận đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể cho 186 doanh nghiệp; xác nhận sử dụng 2.563 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động. Công tác người có công: Tỉnh ban hành Kế hoạch số 155/KH UBND ngày 06/5/2026 về việc thực hiện xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người HĐKC bị nhiễm CĐHH trên địa bàn tỉnh; tổ chức các đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà đối với 96 người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng nhân Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các Trung tâm Điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công, Trung tâm Bảo trợ xã hội tổng hợp trên địa bàn tỉnh, với tổng kinh phí thăm, tặng là 86,4 triệu đồng. Tổ chức đưa 90 người có công đi điều dưỡng tại Trung tâm Điều dưỡng người có công Sầm Sơn (thuộc Bộ Nội vụ) và Trung tâm Điều dưỡng, Chăm sóc người có công tỉnh tổ chức điều dưỡng tập trung đợt 3 năm 2026 cho 450 người có công và thân nhân liệt sĩ. Việc thực hiện chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được tổ chức kịp thời. Tình hình thiên tai: Tháng Năm, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai làm 01 người chết. Cụ thể: vào khoảng 14h30 phút ngày 17/5/2026, bà Nguyễn Thị Vòng, sinh năm 1968, thường trú tại phường Vũ Phúc bị sét đánh tử vong tại chỗ trong lúc đi làm đồng. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Toàn tỉnh tăng cường công tác thuyết minh, tuyên truyền và quảng bá giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kiến trúc nghệ thuật tại các di tích trọng điểm trên địa bàn tỉnh; thuyết minh, hướng dẫn cho khoảng 5.000 lượt khách đến tham quan, chiêm bái; tổ chức trưng bày chuyên đề “Hải Phòng - Miền di sản”, “Quốc Tử Giám Thăng Long với truyền thống hiếu học tỉnh Hưng Yên”; trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại một số trường THCS; đón 6.101 lượt khách (trong đó có 04 khách nước ngoài) thăm quan Bảo tàng; đón 1.902 học sinh và thầy cô giáo thăm quan trưng bày lưu động; sưu tầm tài liệu hiện vật về danh nhân Lê Quý Đôn và làng nghề dệt đũi Nam Cao; bảo quản trị liệu 275 hiện vật giấy, 119 hiện vật kim loại, bảo quản phòng ngừa 02 hiện vật máy kéo, 500 hiện vật kim loại khác và 200 di vật khai quật tại khu di tích Tam Đường, xã Tiến Đức. Tỉnh tổ chức 04 Hội nghị triển khai mô hình “Xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư” tại các xã: Minh Thọ, Tiên La, Khoái Châu, Tiên Hoa. Tổ chức, hướng dẫn tuyên truyền cổ động trực quan, lưu động bằng xe ô tô, loa phát thanh phục vụ các lễ lớn, sự kiện tiêu biểu của đất nước, của tỉnh. Tổ chức 10 Hội nghị truyền thông Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình, Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình tại các xã; xây dựng Kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình và Ngày gia đình Việt Nam; xây dựng Kế hoạch tham gia Ngày hội Gia đình tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam. Về nghệ thuật biểu diễn: Nhà hát Chèo tỉnh đã tổ chức 09 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân trong và ngoài tỉnh. Thư viện tỉnh tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4; tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách; tham gia trưng bày, giới thiệu sách tại tỉnh Phú Thọ; sưu tầm, biên soạn 05 bài giới thiệu sách chuyên đề chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc, địa phương đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; phối hợp với Báo và Phát thanh - Truyền hình Hưng Yên tổ chức nói chuyện chuyên đề về văn hóa đọc trong thời đại số; phát hành Thư mục toàn văn về danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn; sưu tầm, biên soạn thư mục 65 bài báo, tạp chí của Trung ương có nội dung viết về tỉnh Hưng Yên; tổ chức xe Thư viện lưu động tại 18 trường, với 11.743 học sinh tham gia, trên 13.000 lượt tài liệu luân chuyển; phục vụ 620 học sinh mầm non của 05 trường đến trải nghiệm tại Thư viện (cơ sở 2); cấp 342 thẻ bạn đọc, phục vụ 4.380 lượt bạn đọc, 6.343 lượt sách, báo được luân chuyển; số hóa 2.443 trang tài liệu (2.378 trang sách = 8 cuốn sách; 65 bài báo tạp chí Trung ương có nội dung viết về Hưng Yên); có 12.540 lượt bạn đọc truy cập Website và phần mềm Thư viện số. Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 72 buổi chiếu phim (12 buổi lưu động, 60 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh xây dựng Kế hoạch tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên. b) Hoạt động thể dục thể thao Về thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh xây dựng kế hoạch tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Bơi, cứu đuối; lớp tập huấn cho người hướng dẫn Lân - Sư - Rồng. Quyết định cử Đoàn vận động viên Cầu lông gia đình tỉnh Hưng Yên tham gia giải Cầu lông gia đình toàn quốc. Tổ chức thành công 02 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh năm 2026. Thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa trong tổ chức các hoạt động thể thao (chấp thuận cho 2 đơn vị tổ chức giải Pickleball và giải võ Karate). Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Đoàn thể thao của tỉnh tham dự 05 giải thể thao quốc gia, 03 giải quốc tế, đạt tổng số 58 huy chương các loại, gồm: 13 HCV, 19 HCB, 26 HCĐ (trong đó 2 HCV, 3 HCB, 3 HCĐ quốc tế). Cụ thể: Giải Vô địch Wushu các CLB quốc gia năm 2026, tổ chức tại Lạng Sơn, đạt: 1 HCV, 3 HCB, 6 HCĐ; Giải vô địch Cầu lông các câu lạc bộ quốc gia năm 2026, tại Thái Nguyên, đạt: 1 HCV, 1 HCB; Giải vô địch các câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia năm 2026, tại Thành phố Huế, đạt: 1 HCB, 4 HCĐ; Giải vô địch các lứa tuổi trẻ Jujitsu quốc gia năm 2026, tại Bắc Ninh, kết quả đạt: 9 HCV, 11 HCB, 13 HCĐ. Đặc biệt các vận động viên của tỉnh được triệu tập Đội tuyển quốc gia tham dự các giải thi đấu quốc tế, gồm: Giải vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026, tại Bangkok - Thái Lan, kết quả đạt 01 HCĐ; Giải Vô địch Vật Bãi biển Thế giới năm 2026, tổ chức tại TP.Đà Nẵng, kết quả đạt 1 HCĐ; Giải Vô địch Rowing Châu Á năm 2026, tại Hàn Quốc, đạt 2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ. c) Hoạt động du lịch Trong tháng Năm, lượng khách đến tham quan du lịch tại Hưng Yên đón khoảng 450.000 lượt khách, trong đó: khoảng 12.000 lượt khách QT; Doanh thu ước đạt trên 300 tỷ VNĐ. Toàn tỉnh hiện có khoảng hơn 600 cơ sở lưu trú du lịch, trong đó có khoảng 24 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 1-3 sao; 01 khách sạn đạt hạng 4 sao và 01 khạch sạn 5 sao theo quy định. Tỉnh hoàn thiện dự thảo “Đề án tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, định hướng đến 2035”. Tiến hành khảo sát địa điểm dựng biển quảng cáo tấm lớn về du lịch tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh; viết bài và đăng tải, đưa tin trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube của Trung tâm Xúc tiến du lịch (8 bài, 01 video livestream chia sẻ 40 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 15 link, 05 video từ Báo và PTTH tỉnh) thu hút hơn 3.000 lượt truy cập; biên tập, xuất bản Bản tin du lịch Hưng Yên số 02; tổ chức chương trình Khảo sát, học tập kinh nghiệm xúc tiến du lịch và liên kết phát triển tour “Hưng Yên với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và phụ cận”; hoàn thiện 02 clip, 01 phim quảng bá du lịch Hưng Yên; phối hợp xây dựng kịch bản phim quảng bá du lịch Hưng Yên trên sóng truyền hình Quốc gia trong Chương trình “Vị Quê và Việt Nam hôm nay”; vận động doanh nghiệp, tham gia quảng bá xúc tiến du lịch tại Triển lãm Du lịch - Ẩm thực và phát động hưởng ứng kích cầu Du lịch “Tam Đảo - Điểm hẹn trên mây” năm 2026; tham gia khảo sát và tọa đàm xây dựng chương trình du lịch trải nghiệm “ Mùa quả chín xứ Đông”. Tỉnh hoàn thiện nâng cấp giao diện website: Hungyentourism.com.vn. Tiếp tục phối hợp Công an tỉnh thực hiện hỗ trợ người dân ứng dụng dữ liệu dân cư định danh xác thực điện tử trong phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế số phát triển du lịch gắn với phát triển đặc sản vùng miền. Tiếp tục thực hiện số hóa bản đồ du lịch tỉnh. Thường xuyên viết tin, bài đăng trên Cổng du lịch thông minh. Phối hợp với VNPT nâng cấp giao diện Cổng du lịch thông minh; bổ sung chuyên mục giới thiệu sản phẩm OCOP; cập nhật số hóa các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử. 3. Giáo dục, đào tạo Toàn ngành tiếp tục duy trì ổn định quy mô mạng lưới trường lớp, học sinh, đảm bảo hoạt động cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể toàn tỉnh hiện có: Cấp học mầm non: 503 trường (452 công lập, 51 tư thục), 6.117 lớp, 135.970 trẻ. Cấp tiểu học: 198 trường, 7.456 lớp, 153.943 học sinh. Cấp THCS: 187 trường THCS và 255 trường TH&THCS, với tổng cộng 5.489 lớp, 222.143 học sinh. Cấp THPT: 81 trường (55 công lập, 26 tư thục), 2.508 lớp, 109.841 học sinh. Giáo dục thường xuyên và Nghề nghiệp: 18 trung tâm GDTX-GDNN với 18.172 học sinh; 48 cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các cấp trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp. Toàn tỉnh đã công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cho 1.084/1.236 trường, trung tâm (đạt tỷ lệ 87,70%); công nhận đạt chuẩn quốc gia 2 cho 1.071/1.218 trường mầm non và phổ thông (đạt tỷ lệ 87,93%). Trong đó, cấp Tiểu học có tỷ lệ trường chuẩn quốc gia cao nhất đạt 97,96%, tiếp đến là THCS đạt 95,72%. Tỉnh đã tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức giáo viên vào làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập năm học 2025-2026 với sự tham gia của 3.095 thí sinh. Học sinh Hưng Yên đạt nhiều thành tích xuất sắc. Nổi bật là Huy chương Vàng lĩnh vực Hóa Sinh tại Cuộc thi EUREKA WARSAW 2026 (Ba Lan) của học sinh Trường THPT Hưng Yên. Tại cuộc thi KHKT cấp quốc gia, tỉnh có 2 dự án đạt giải (1 giải Nhất, 1 giải Tư), trong đó dự án của THPT Yên Mỹ được chọn tham gia ISEF 2026 tại Hoa Kỳ. Tổ chức thành công Giải Điền kinh học sinh phổ thông với 1.760 vận động viên tham gia. Tại Hội thao GDQP-AN toàn quốc, đoàn Hưng Yên đạt 01 giải Nhất lý thuyết, 01 giải Ba đội ngũ và nhiều giải toàn năng, cá nhân xuất sắc. Tỉnh hoàn thành các khâu tổ chức Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2026-2027: tập huấn Quy chế thi, các hướng dẫn về tổ chức Kỳ thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hướng dẫn sử dụng Phần mềm quản lý thi cho tất cả cán bộ quản lý, cán bộ phụ trách công tác thi và cán bộ phụ trách phần mềm của các nhà trường có thí sinh dự thi; tổ chức cho các thí sinh ĐKDT theo hình thức trực tuyến trên phần mềm tuyển sinh đầu cấp; thành lập Hội đồng coi thi, Hội đồng ra đề, chuẩn bị các điều kiện tổ chức Kỳ thi vào ngày 24-26/5/2026. Kỳ thi có 56 Hội đồng coi thi, 42.944 thí sinh (THPT công lập không chuyên: 40.721 thí sinh: THPT chuyên: 2.223 thí sinh); 1.918 phòng thi (THPT công lập không chuyên: 1.816 phòng thi; THPT chuyên: 102 phòng thi). Tỉnh tiếp tục thực hiện các khâu trong tổ chức thi tốt nghiệp THPT năm 2026 gồm: tổ chức họp Ban Chỉ đạo Kỳ thi; thành lập Hội đồng thi, Ban Thư ký Hội đồng thi. Kỳ thi tổ chức từ ngày 10-12/6/2026, 70 điểm thi, 43.666 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: 41.791 thí sinh học lớp 12; 1.875 thí sinh tự do (thí sinh tự do chưa tốt nghiệp: 51, thí sinh tự do đã tốt nghiệp: 1.824); 36.816 thí sinh học chương trình giáo dục THPT; 6.850 thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên: 6.850. 4. Hoạt động y tế Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Hè; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong năm tháng đầu năm 2026 như sau: Tay chân miệng 966 ca; Sởi 39 ca; Ho gà 09 ca; Covid-19 có 62 ca. Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 04 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.568 người thuộc 104/104 xã, phường), có 01 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.309 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Hoạt động điều trị nghiện chất: Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/5/2026 là 1.517 người. Trong đó cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên đại bàn tỉnh Thái Bình cũ là: 1.049 bệnh nhân, Hưng Yên cũ là: 468 bệnh nhân. 5. Công tác vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ Trong tháng Năm (từ ngày 23/4/2026 - 22/5/2026), trên địa bàn tỉnh không phát hiện vụ vi phạm môi trường nào, số vụ đã xử lý là 2 vụ. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 11 vụ, giảm 100%; số vụ đã xử lý giảm 05 vụ, giảm 71,43%. So với tháng 5/2025, số vụ vi phạm giảm 14 vụ, giảm 100,0%; số vụ vi phạm đã xử lý giảm 03 vụ, giảm 60,0%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 35 vụ với số tiền xử phạt 3.019 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 64 vụ, tương ứng giảm 73,56%; số vụ đã xử lý giảm 26 vụ, giảm 42,62%; số tiền xử phạt giảm 716 triệu đồng, giảm 19,18%. Số vụ xử lý trong tháng qua còn thấp do một số vụ việc cần thêm thời gian xác minh, hoàn thiện hồ sơ và thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật trước khi ban hành quyết định xử lý. Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/4/2026 đến ngày 14/5/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Hoàng Hoa Thám 01 vụ, xã Yên Mỹ 01 vụ, phường Sơn Nam 01 vụ), không có vụ nổ; không có thiệt hại về người; giá trị thiệt hại về tài sản là 141 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy nổ giảm 03 vụ, giảm 50,0%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 02 người; giá trị thiệt hại về tài sản là 1.855 triệu đồng. 6. An toàn giao thông Từ ngày 15/4/2026 đến 14/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 27 người; làm bị thương 10 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 13,89%; số người chết giảm 01 người, giảm 3,57%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 28,57%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 11 vụ, giảm 26,19%; số người chết tăng 03 người, tăng 12,50%; số người bị thương giảm 15 người, giảm 60,0%. Năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 203 vụ (đường bộ 201 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 132 người (đường bộ 131 người, đường sắt 01 người), bị thương 120 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 32 vụ, giảm 13,62%; số người chết giảm 05 người, giảm 3,65%; số người bị thương giảm 27 người, giảm 18,37%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.