02213 863 641 /0978240366 | hungyen@nso.gov.vn
Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2026
  •   27/10/2026 08:43

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tình hình sản xuất nông nghiệp tháng Tư năm 2026 của các địa phương trong tỉnh là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây lúa và rau màu vụ xuân; đồng thời chủ động phòng, chống sâu bệnh hại trên cây ăn quả. Bên cạnh đó, các địa phương tăng cường các biện pháp bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm trước những diễn biến của thời tiết và nguy cơ phát sinh dịch bệnh trong thời điểm giao mùa. Trong tháng, thời tiết diễn biến tương đối thuận lợi, nhiệt độ ổn định, ít xảy ra mưa lớn, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt; trên đàn gia súc, gia cầm chưa phát sinh dịch bệnh lớn. Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau:                 a) Nông nghiệp Trồng trọt Cây hằng năm Đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh cơ bản hoàn thành gieo trồng lúa và cây rau màu vụ Xuân theo đúng khung thời vụ. Tổng diện tích gieo trồng đạt khoảng 95.500 ha lúa đông xuân, giảm 1,35% so với cùng kỳ năm trước và khoảng 24.500 ha cây rau màu vụ Xuân. Diện tích gieo trồng lúa và cây rau màu giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang xây dựng các công trình giao thông, mở rộng khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đây là xu hướng phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, tuy nhiên cũng đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng diện tích canh tác còn lại. Thời điểm này, cây lúa đang trong giai đoạn cuối đẻ nhánh - đứng cái làm đòng, lúa cấy sớm giai đoạn đòng già - trỗ. Tính đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh có 2.265 ha lúa đã trỗ bông. Nông dân các xã trong toàn tỉnh đã chấp hành tốt lịch phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ và các đối tượng sâu bệnh hại khác trên lúa từ ngày 10-15/4/2026 của ngành chuyên môn đưa ra. Theo dự báo, từ nay đến cuối tháng sẽ có mưa, nền nhiệt độ giảm, đây là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh đạo ôn cổ bông xâm nhập, gây hại. Ước toàn tỉnh có trên 20.000 ha lúa trỗ bông trong tháng 4 phải được phun phòng bệnh đạo ôn cổ bông 2 lần.  Tiến độ gieo trồng một số cây trồng chính đến ngày 20/4/2026 như sau: cây ngô 3.733 ha ( tăng 2,71%); cây đậu tương 533 ha ( giảm 6,79%); cây khoai lang 692 ha (giảm 1,92%); rau các loại 15.264 ha (tăng 2,37%);... Diện tích tăng ở cây ngô và rau màu do có thị trường tiêu thụ ổn định, hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng truyền thống. Diện tích đậu tương và khoai lang giảm do hiệu quả thấp, chi phí sản xuất cao và khó cạnh tranh trên thị trường. Hoạt động tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nhìn chung ổn định, một số mặt hàng có xu hướng tăng giá nhẹ so với cùng kỳ và tháng trước, góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất. Giá rau màu các loại (rau ăn lá, cà chua, dưa chuột…) giữ giá và có tăng nhẹ so với tháng trước. Cây lâu năm Đến thời điểm hiện tại, các loại cây ăn quả chủ lực trên địa bàn tỉnh sinh trưởng và phát triển tốt, điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho quá trình ra hoa, đậu quả. Đối với cây nhãn và vải đang trong giai đoạn ra hoa - đậu quả non, đây là giai đoạn quyết định đến năng suất và sản lượng cả vụ. Chăn nuôi Trong tháng qua, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm gia cầm tăng khá, chăn nuôi lợn từng bước phục hồi, đàn trâu, bò cơ bản ổn định. Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ổn định, không có địa phương nào báo cáo có trường hợp hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trong tháng, toàn tỉnh đã cấp phát các liều vắc xin trị bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng, viêm da nổi cục,...đồng thời, các xã, phường đã hoàn thành phun khử trùng tiêu độc tại các cơ sở chăn nuôi. Hiện giá bán thịt lợn hơi trên thị trường bình vẫn giữ ở mức khá cao, khoảng 68.000 - 69.000 đồng/kg, đã tạo tâm lý cho người dân yên tâm sản xuất và tái đàn. Vì vậy, tổng đàn lợn dự báo tiếp tục duy trì tốt trong thời gian tới. Ước tính tại thời điểm 30/04/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.997 con, tăng 0,27%; đàn bò 83.424 con, tăng 0,51%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 997.530 con, tăng 1,91%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.665 nghìn con, tăng 2,07% (trong đó: đàn gà đạt 17.419 nghìn con, tăng 2,46%) so với cùng thời điểm năm trước. b) Lâm nghiệp Trong tháng Tư, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không có biến động lớn, các hoạt động chủ yếu diễn ra ổn định. Trong kỳ báo cáo, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng, phá rừng; công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được duy trì tốt.  Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Tư năm 2026 ước đạt 282 m³, giảm 0,35%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 213 nghìn cây, tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước. Bốn tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.545 m³, tăng 0,16%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 716 nghìn cây, tăng 1,02% so với cùng kỳ năm 2025. c) Sản xuất thủy sản Sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên trong tháng Tư năm 2026 tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Tư ước đạt 9.753 tấn, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.205 tấn, tăng 2,97%; tôm 124 tấn, tăng 3,33%; thủy sản khác 3.424 tấn, tăng 2,88%. Ước tính bốn tháng đầu năm 2026 sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 37.536 tấn, tăng 3,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 23.490 tấn, tăng 3,72%; tôm 525 tấn, tăng 3,75%; thủy sản khác 13.521 tấn, tăng 3,40%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Thời tiết trong tháng cơ bản thuận lợi, môi trường nước tương đối ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng, phát triển tốt. Người nuôi từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng con giống và quản lý chăm sóc, góp phần tăng năng suất và sản lượng. Công tác chỉ đạo, quản lý của các địa phương được tăng cường, đặc biệt tại các vùng nuôi tập trung và khu vực nuôi cá lồng trên các tuyến sông lớn như sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng, góp phần kiểm soát môi trường và hạn chế dịch bệnh. Các mô hình nuôi tiếp tục được đa dạng hóa về đối tượng (cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, hàu,...) và hình thức sản xuất (nuôi ao, nuôi lồng, nuôi bè), nâng cao hiệu quả khai thác diện tích mặt nước. Toàn tỉnh có 1.024 lồng nuôi cá trên sông, trong đó có 952 lồng thực nuôi. Các đối tượng nuôi trong lồng bao gồm: cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, chép giòn, ngạnh, trắm đen. Phát triển nuôi hàu cửa sông đạt 3.576 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú, Đông Thụy Anh. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Tư ước đạt 18.592 tấn, tăng 3,15% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.370 tấn, tăng 3,08%; tôm 582 tấn, tăng 3,56%; thủy sản khác 9.640 tấn, tăng 3,19%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 77.201 tấn, tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 33.127 tấn, tăng 3,65%; tôm 908 tấn, tăng 3,43%; thủy sản khác 43.166 tấn, tăng 3,66%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Tư và bốn tháng năm 2026 như sau: So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tư tăng 1,77%, trong đó: khai khoáng giảm 0,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,45%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,54%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 26,89%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: mạch in khác tăng 51,16%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 44,58%; tôm đông lạnh tăng 27,45%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 12,14%; điện sản xuất tăng 10,24%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 9,25%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 9,06%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 7,75%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 17,80%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 10,3%; thức ăn cho gia cầm giảm 8,5%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 5,51%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 3,96%; quần áo các loại giảm 3,45%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 3,21%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư tăng 15,11%, trong đó: khai khoáng tăng 6,97%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,01%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,95%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,22%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng gấp 145,39%; nước khoáng không có ga tăng 57,41%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 55,13%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 45,94%; mạch điện tử tích hợp tăng 32,61%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 19,37%; điện thương phẩm tăng 17,46%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 16,30%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 14,07%;.... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 29,09%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,02%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 8,81%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 8,50%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 8,20%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 4,13%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 1,41%;... Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,66% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 9,85%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 4,57%; khai khoáng khác tăng 9,85%. Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,24%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 90,22%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,78%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 25,03%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 24,54%; ản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,04%; sản xuất trang phục tăng 20,29%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,92%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 17,08%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15,69%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 16,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 6,84%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 3,72%; sản xuất xe có động cơ tăng 1,38%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,94%;…… Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong Bốn tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 110,72%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 40,88%; mạch điện tử tích hợp tăng 37,49 nước khoáng không có ga tăng 33,90%; quần áo các loại tăng 19,13%; thức ăn cho gia cầm tăng 17,03%; mạch in khác tăng 16,02%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 13,61%;.... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 21,06%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 18,49%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 8,33%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 8,24%;.... Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). ). Trong tháng Tư, ngành có sự tăng trưởng cao do 2 Nhà máy nhiệt điện sản xuất ổn định đáp ứng nhu cầu phụ tải cho Tập đoàn điện lực Việt Nam. Năm 2026, PC Hưng Yên đề ra nhiều mục tiêu cụ thể nhằm triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hiệu quả, bảo đảm hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu mà Tổng Công ty Điện lực miền Bắc giao. Trong đó, Công ty phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện; cung cấp điện an toàn, ổn định, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Với tình hình như trên, sản lượng điện sản xuất và phân phối trong tháng 4/2026 có tăng trưởng khá so với cùng kỳ, do sản lượng điện sản xuất và phân phối đều tăng. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện tháng 4 tăng 7,95% so với cùng kỳ, ước tổng sản lượng điện sản xuất đạt 1.112 triệu Kwh tăng 4,43% so với cùng kỳ và điện thương phẩm đạt 993 triệu Kwh tăng 17,46% so với cùng kỳ. Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải bốn tháng đầu năm 2026 tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,14%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 11,20%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 7,27%. b) Chỉ số sử dụng lao động Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Tư toàn ngành tăng 4,16% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 1,0%. cộng dồn 4 tháng tăng 4,27% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tháng Tư tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện rất ổn định và có sự phát triển khá. Có những ngành, những doanh nghiệp gặp thuận lợi phát triển tốt trong sản xuất kinh doanh và ngược lại, do đó chỉ số sử dụng lao động có biến động rất lớn giữa các ngành. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong bốn tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 38,44%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 25,74%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,71%; sản xuất đồ uống tăng 19,37%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 15,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 14,48%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 7,40%; dệt giảm 4,86%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,33%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,31%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,30%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng Tư, một số dự án giao thông trọng điểm được quán triệt quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ giải phòng mặt bằng. Các ngành, các đơn vị và các địa phương liên quan tập trung cao, đẩy nhanh tiến độ triển khai, phấn đấu sớm hoàn thành dự án, góp phần thu hút các nhà đầu tư đến với tỉnh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Tư năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 3.368 tỷ đồng, tăng 44,98%, tương ứng tăng 1.045 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.937 tỷ đồng, tăng 52,16%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.430 tỷ đồng, tăng 36,27%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 10.970 tỷ đồng, tăng 24,34%, tương ứng tăng 2.147 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 25,49% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 6.289 tỷ đồng, tăng 31,44%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 4.681 tỷ đồng, tăng 15,92%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 25/4/2026, toàn tỉnh có 979 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.513,84 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 25/4/2026, có 16 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 206,02 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 201 dự án, vốn đăng ký là 6.356,47 triệu USD, chiếm 36,29% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 374 dự án, vốn đăng ký 4.520,57 triệu USD, chiếm 25,81% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 213 dự án, vốn đăng ký 2.309,85 triệu USD, chiếm 13,19% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/3/2026 đến ngày 21/4/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 575 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.822 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 6.379 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 112 doanh nghiệp, sử dụng 801 lao động, vốn đăng ký 699 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 243 doanh nghiệp, sử dụng 1.107 lao động, vốn đăng ký 918 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 25 doanh nghiệp, sử dụng 132 lao động, vốn đăng ký 3.584 tỷ đồng; vận tải kho bãi 34 doanh nghiệp, sử dụng 111 lao động, vốn đăng ký 137 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 28 doanh nghiệp, sử dụng 149 lao động, vốn đăng ký 80 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 17 doanh nghiệp, sử dụng 69 lao động, vốn đăng ký 68 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 16 doanh nghiệp, sử dụng 58 lao động, vốn đăng ký 19 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/4/2026, toàn tỉnh có 2.109 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 15.221 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 18.019 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 937 doanh nghiệp, sử dụng 3.694 lao động, vốn đăng ký đạt 3.169 tỷ đồng (chiếm 24,27% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 411 doanh nghiệp, sử dụng 7.879 lao động, vốn đăng ký đạt 3.712 tỷ đồng (chiếm 51,76%); xây dựng 187 doanh nghiệp, sử dụng 831 lao động, vốn đăng ký 1.272 tỷ đồng (chiếm 5,46%); hoạt động vận tải, kho bãi 148 doanh nghiệp, sử dụng 497 lao động, vốn đăng ký 787 tỷ đồng (chiếm 3,27%); giáo dục và đào tạo 41 doanh nghiệp, sử dụng 168 lao động, vốn đăng ký 63 tỷ đồng (chiếm 1,10%); kinh doanh bất động sản 77 doanh nghiệp, sử dụng 750 lao động, vốn đăng ký 7.612 tỷ đồng (chiếm 4,93%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 86 doanh nghiệp, sử dụng 361 lao động, vốn đăng ký 204 tỷ đồng (chiếm 2,37%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 63 doanh nghiệp, sử dụng 268 lao động, vốn đăng ký 192 tỷ đồng (chiếm 1,76%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Tư (tính từ ngày 22/3/2026 đến ngày 21/4/2026) là 58 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/4/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 377 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/3/2026 đến ngày 21/4/2026, số doanh nghiệp giải thể là 76 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 135 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/4/2026, toàn tỉnh có 340 doanh nghiệp giải thể và 1.081 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 73 doanh nghiệp giải thể và 263 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 21,47% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,33% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 106 doanh nghiệp giải thể và 375 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 31,18% và 34,69%; kinh doanh bất động sản có 22 doanh nghiệp giải thể và 23 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,47% và 2,13%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 14 doanh nghiệp giải thể và 49 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,12% và 4,53%; giáo dục và đào tạo có 40 doanh nghiệp giải thể và 21 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,76% và 1,94%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bố năm 2026 tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.457 tỷ đồng, giảm 3,19% so với tháng trước và tăng 16,51% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đạt 99.256 tỷ đồng, tăng 16,48% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Tư và bốn tháng đầu năm 2026 (theo giá hiện hành)                                                                        T4.2026 4T.2026 T4.2026 T4.2025 4T.20264T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 24.456 99.256 116,51 116,48 Thương nghiệp 12.659 49.603 117,25 117,80 DV lưu trú, ăn uống 1.276 4.951 112,61 114,53 DV du lịch lữ hành 9 28 112,21 113,07 Dịch vụ khác 10.512 44.674 116,12 115,26 Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng Tư năm 2026, bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định với mức tăng trưởng đạt khá so với cùng kỳ và tiếp tục thể hiện vai trò là một trong các động lực tăng trưởng của tỉnh. Tỉnh Hưng Yên đã triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, xúc tiến thương mại. Bên cạnh đó, công tác bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu tiếp tục được chú trọng, nhất là đối với mặt hàng xăng dầu. Các Sở, ngành cũng đã kịp thời tham mưu các giải pháp điều hành đồng bộ, góp phần giữ ổn định thị trường, đặc biệt trong các dịp lễ quan trọng trong tháng như: Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10/3 âm lịch; Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 01/5;...  Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Tư ước đạt 12.659 tỷ đồng, chiếm 51,76% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội, giảm 0,10% so với tháng trước và tăng 17,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 29,26%; hàng may mặc tăng 7,95%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 5,59%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 57,42%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 41,15%; xăng, dầu các loại tăng 27,54%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 36,14%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 27,48%; hàng hóa khác tăng 13,19%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 33,24%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng, thì cũng có nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm như: nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,52%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 7,13% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.603 tỷ đồng, tăng 17,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 26,26%; hàng may mặc tăng 17,54%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 6,60%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 35,44%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,79%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 21,72%; xăng dầu các loại tăng 23,01%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 28,93%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 41,16%; hàng hóa khác tăng 16,82%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 27,90%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Tư ước đạt 1.276 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 12,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 36 tỷ đồng, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 10,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.240 tỷ đồng, tăng 2,66% so với tháng trước và tăng 12,69% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4 năm 2026, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do trùng vào thời điểm diễn ra các kỳ nghỉ lễ dài: Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 01/5 nên nhu cầu của người dân đối với các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng và tụ họp gia đình, bạn bè tăng cao, từ đó kích thích mạnh mẽ nhu cầu tiêu dùng trong lĩnh vực dịch vụ. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 4.951 tỷ đồng, tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 143 tỷ đồng, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 4.808 tỷ đồng, tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Tư ước đạt 9 tỷ đồng, tăng 33,55% so với tháng trước và tăng 12,21% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng cao so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu du lịch tăng mạnh trong các kỳ nghỉ lễ, cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi. Tuy nhiên, giá xăng dầu tăng cũng tiếp tục là nguyên nhân tác động trực tiếp đến chi phí vận chuyển - yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong giá tour. Điều này khiến giá tour có xu hướng tăng nhẹ, ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của một bộ phận khách hàng.  Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 28 tỷ đồng, tăng 13,07% so cùng kỳ năm trước. Mức tăng này phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng dần của hoạt động du lịch trên địa bàn trong thời gian gần đây.  Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Tư năm 2026 ước đạt 10.512 tỷ đồng, giảm 7,32% so với tháng trước và tăng 16,12% so cùng kỳ năm 2025. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.175 tỷ đồng giảm 8,38% so với tháng trước và tăng 16,20% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 485 tỷ đồng, tăng 3,09% so với tháng trước và tăng 12,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 200 tỷ đồng, tăng 2,02% so với tháng trước và tăng 17,17% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 259 tỷ đồng, tăng 0,04% so với tháng trước và tăng 19,33% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí 75 tỷ đồng, tăng 6,42% so với tháng trước và tăng 29,68% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 318 tỷ đồng, giảm 4,22% so với tháng trước và tăng 13,51% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 44.674 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành chiếm tỷ trọng cao nhất là ngành kinh doanh bất động sản - chiếm tới 88,35% tổng doanh thu các ngành dịch vụ và tăng 15,66% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,97%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 11,86%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 13,37%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 18,12%; dịch vụ khác tăng 11,18%. Mức tăng trưởng ngành bất động sản so với cùng kỳ năm trước cho thấy niềm tin của nhà đầu tư và nhu cầu thị trường vẫn ở mức khá. Một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như Vinhomes Ocean Park 2, Vinhomes Ocean Park 3, khu đô thị Ecopark, Alluvia City, Centerville,... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, các dự án nhà ở xã hội cũng đang được tỉnh đẩy mạnh triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp và công nhân khu công nghiệp, qua đó góp phần mở rộng phân khúc thị trường và tăng khả năng hấp thụ chung. Hiện toàn tỉnh đang triển khai nhiều dự án nhà ở xã hội với quy mô hàng chục nghìn căn trong giai đoạn 2021-2030. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tư tăng 1,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá gảm 1,08%, các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,14%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,37%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,51%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,37%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,21%; thông tin và truyền thông tăng 0,40%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,15%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,60%. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Tư năm 2026                                                                        T4.2026T3.2026 T4.2026T4.2025 4T.20264T.2025 (%) (%) (%) Chỉ số giá tiêu dùng chung    101,02    105,45    103,61 Chỉ số vàng    95,16    161,56    180,57 Chỉ số đô la Mỹ     100,41    102,34    103,12 Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,14%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,16%, do tháng Tư là giai đoạn giáp vụ nên nguồn cung giảm, nhu cầu xuất khẩu cao, chi phí vận chuyển tăng; chỉ số giá nhóm lương thực chế biến khác tăng 1,12% do do ảnh hưởng từ giá gạo tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,86% do: Nhóm thịt gia súc tăng 1,28% (trong đó nhóm thịt lợn tăng 1,05%; thịt bò tăng 1,88%; nội tạng động vật tăng 1,15%); nhóm thịt chế biến tăng 0,83%; nhóm trứng các loại tăng 1,49% do thời tiết thay đổi ảnh hưởng đến năng suất và chi phí chăn nuôi tăng; nhóm mỡ ăn và dầu thực vật tăng 1,55% do giá thịt hơi tăng, chi phí nhiên liệu đầu vào tăng; nhóm thủy sản tươi sống tăng 1,79%; nhóm thủy sản chế biển tăng 1,37%, do giá tôm, cá, cua, mực ... tăng. Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,51%, nguyên nhân chủ yếu do chi phí nhân công, chi phí nguyên liệu vải, da có xu hướng tăng, nên đẩy giá bán lẻ tăng nhẹ. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,15%, chủ yếu do: chỉ số giá gas tăng mạnh 34,96%, tăng vào ngày 01/4/2026 theo giá gas thế giới; giá dầu hỏa tăng mạnh 28,87% theo điều chỉnh giá của Bộ Công thương vào các ngày trong tháng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,42% tăng ở các mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền,... chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 2,51%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,37% do chỉ số giá máy điều hòa nhiệt độ tăng 1,84%; giá tủ lạnh tăng 0,45%; giá máy giặt tăng 0,17%; giá máy hút bụi tăng 0,99%; giá quạt điện tăng 2,40%; giá giường tủ bàn ghế tăng 1,08%; giá đồ dùng kim loại tăng 0,77%; giá đồ nhựa và cao su tăng 0,58%; giá chiếu chăn màn gối tăng 1,27%; giá xà phòng và chất tẩy tăng 1,61%; giá công cụ làm vườn tăng 1,58%; giá sửa chữa thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,28%, chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu sản xuất, vận chuyển và nhập khẩu tăng. Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,03%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong tháng được điều chỉnh 06 đợt vào các ngày 05/4; 07/04; 10/04; 11/04; 12/04 và 13/4. Theo đó giá xăng giảm 3,05%%; giá dầu diezel tăng 18,75%. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,40%, chủ yếu do giá một số dịch vụ viễn thông, truyền hình và dịch vụ internet tăng; giá máy in, máy chiếu tăng; giá pin điện thoại tăng. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,15%, chủ yếu do giá tạp chí các loại tăng 0,10%; giá bưu ảnh tăng 1,71%; giá dụng cụ thể thao tăng 0,32%; giá thiết bị thể dục thể thao tăng 1,08%; giá đồ chơi trẻ em tăng 0,55%; giá du lịch trong nước tăng 3,05%; giá du lịch nước ngoài tăng 1,56%; giá khách sạn, nhà khách tăng 1,09%. Giá hàng hóa, dịch vụ tăng theo chi phí đầu vào và nhu cầu thị trường, đặc biệt trong giai đoạn đầu mùa du lịch. So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư tăng 3,61%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,37%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,68%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,23%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,43%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; giao thông tăng 10,94%; thông tin và truyền thông tăng 1,00%; giáo dục tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,81%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư tăng 5,45%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,41% (lương thực tăng 4,88%; thực phẩm tăng 6,38%; ăn uống ngoài gia đình tăng 7,63%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,58%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,12%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,14%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,53%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,36%; giao thông tăng 10,91%; thông tin và truyền thông tăng 1,25%; giáo dục tăng 1,31%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,55%. Bình quân chung bốn tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,61% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,06%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,39%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,23%; giao thông tăng 2,90%; thông tin và truyền thông tăng 0,76%; giáo dục tăng 1,22%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,06%. Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân Bốn tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,14% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,38% do giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo chi phí vận hành như tiền công lao động, chi phí thuê mặt bằng và chi phí nguyên liệu chế biến, trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, liên hoan tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,26% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà, chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, hoàn thiện nhà cửa tăng. Bên cạnh đó, giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với năm trước. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng này chủ yếu do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, trong khi giá thuốc chữa bệnh trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó một số bệnh viên tư nhân tăng giá khám chữa bệnh, đã tác động làm mặt bằng giá dịch vụ y tế cao hơn so với cùng kỳ, dẫn đến chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,59% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào giao mùa, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 3,54% so với cùng kỳ, do giá các loại như hoa tươi, cây cảnh, vật cảnh, giá vé xem phim ca nhạc và các trò chơi, giá vé du lịch trọn gói, giá khách sạn tăng. (6) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 2,90%, do giá xăng, dầu trong nước có các đợt điều chỉnh theo cơ chế điều hành của Nhà nước, bám sát diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm giá bán lẻ xăng, dầu bình quân trong kỳ tăng so với cùng kỳ. Việc tăng giá xăng, dầu đã kéo theo chi phí sử dụng phương tiện giao thông tăng, qua đó tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông tăng trong kỳ. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 4/2026 giảm 4,84% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 4/2026 giá vàng xấp xỉ 17.315.790 VNĐ/chỉ. Tháng 4/2026, giá USD trong nước có xu hướng tăng. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế tăng, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định; bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD tăng nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 4/2026 tăng 0,41% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.338 VNĐ. c) Chỉ số giá sản xuất So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tư tăng 1,14%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,56%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 5,01%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 4,20%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,53%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,99%; đậu tương tăng 1,40%; dưa chuột tăng 2,94%; nấm trồng các loại tăng 0,57%; chanh thường tăng 7,38%; các loại quả có múi còn lại tăng 3,67%; sản phẩm cây chè tăng 2,57%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 1,60%; sản phẩm chăn nuôi trâu bò tăng 1,77%; sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 0,41%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 0,39%; dịch vụ nông nghieepk tăng 2,85%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 7,56%, sản phẩm thủy sản khai thác nọi địa tăng 1,70%; cá nuôi biển tăng 7,03%; tôm nuôi biển còn lại tăng 5,13%; cá nuôi nội địa tăng 1,25%; tôm nuôi nội địa tăng 4,70%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 4,85%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: rau muống giảm 0,17%; bắp cải giảm 0,44%; cà chua giảm 4,88%; hoa các loại giảm 1,53%; sản phẩm cây gia vị hàng năm giảm 0,19%; sản phẩm cây ăn quả giảm 0,60%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 5,01%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tư năm 2026 tăng 2,66%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lượng thực có hạt tăng 1,77%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 5,08%; mía cây tươi tăng 5,09%; thuốc lá, thuốc lào tăng 3,78%; đậu tương tăng 7,38%; rau lấy lá tăng 7,03%; rau họ đậu tăng 5,43%; rau lấy quả tăng 8,65%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 15,38%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 7,00%; sản phẩm cây hàng năm khác tăng 10,87%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 13,59%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 6,57%; sản phẩm chè tăng 9,73%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,31%; sản phẩm chăn nuôi gia cầm tăng 6,12%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 37,83%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 12,34%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 3,21%; cá nuôi biển tăng 4,23%; tôm nuôi biển còn lại tăng 5,13%; cá nuôi nội địa tăng 4,60%; tôm nuôi nội địa tăng 7,77% ... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 1,83%; quả na giảm 2,49%; mít giảm 1,93%; quýt giảm 11,96%; nhãn, vải, chôm chôm giảm 13,93%; sản phẩm cây lâu năm khác còn lại giảm 2,54%; lợn giảm 1,68%; tôm khai thác nội địa giảm 0,62%;... So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tư năm 2026 tăng 0,86%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,91%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 0,09%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,10%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,98%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,14%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 2,72%; mỳ ống, mỳ sợi và các sản phẩm tương tự tăng 2,59%; thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,84%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 7,48%; đồ gỗ xây dựng tăng 2,29%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 5,03%; sản phẩm từ plastic tăng 2,33%; sản phẩm xi măng, vôi và thạch cao tăng 4,72%; sản phẩm gang, sắt, thép tăng 2,24%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 4,05%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 3,63%; mô tô, xe máy tăng 4,38%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 4,44%; dịch vụ sửa chữa, bải dưỡng phương tiện vận tải tăng 3,48%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 7,91%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 0,95%; sản phẩm may trang phục giảm 1,34%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 0,49%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 2,36%; mô tơ, máy phát giảm 1,84%; pin và ắc quy giảm 1,72%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ giảm 2,74%; điện sản xuất giảm 3,98%; điện mặt trời giảm 6,29%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 1,75%;… So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tư năm 2026 tăng 2,75%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,86%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 0,69%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,59%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 4,89%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,63%; thực phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 6,64%; đồ uống tăng 4,80%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 3,04%; sản phẩm dệt sẵn tăng 3,63%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 6,24%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,43%; gỗ dán, gỗ lạng tăng 6,36%; dịch vụ liên quan đến in tăng 14,44%; hóa chất cơ bản tăng 7,68%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,94%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại chưa được phân vào đâu tăng 10,61%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 31,53%; pin và ắc quy tăng 8,12%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 36,11%; mô tô, xe máy tăng 13,63%; đồ kim hoàn và chi tiết có liên quan tăng 5,58%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,74%; điện sản xuất tăng 5,71%; điện mặt trời tăng 5,14%; nước tự nhiên khai thác tăng 4,10%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 1,21%; trang phục dệt, kim, đan móc giảm 1,84%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,18%; sản phẩm khác từ cao su giảm 5,97%; mô tơ, máy phát giảm 1,15%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,55%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,10%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 9,94%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,56%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 2,91%;... 6. Hoạt động vận tải Trong thời gian qua, hoạt động vận tải chịu tác động mạnh bởi rủi ro địa chính trị làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, gia tăng chi phí logistics và vận tải biển. Trong nước, cũng như trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hạ tầng giao thông, biến động giá nhiên liệu, thời tiết cực đoan và nhu cầu xuất nhập khẩu biến động là các yếu tố chính ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả vận tải. Các doanh nghiệp đang chịu áp lực lớn trong việc điều chỉnh chi phí, thay đổi công ty giao nhận và tối ưu hóa quy trình để ứng phó với các yếu tố bất lợi này. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tư năm 2026 ước đạt 2.372 tỷ đồng, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 16,12% so với cùng kỳ năm trước. Bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 9.624 tỷ đồng, tăng 17,81% so cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Tư năm 2026 ước đạt 6 triệu lượt người vận chuyển và 550 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 4,20% về lượt người vận chuyển, tăng 5,16% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,75% về lượt người vận chuyển, tăng 12,50% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 428 tỷ đồng, tăng 2,62% so với tháng trước và tăng 15,14% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 23,89 triệu lượt người vận chuyển và 2.180 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 13,02% về lượt người vận chuyển và tăng 12,68% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.696 tỷ đồng, tăng 14,49% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Tư năm 2026 ước đạt 6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.684 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt giảm 2,83% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 3,94% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 4,98 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,83% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.717 tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 17,10% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 25,86 triệu tấn vận chuyển và 7.066 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,51% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 15,54% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 7.053 tỷ đồng, tăng 19,49% so với cùng kỳ năm trước. c) Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tư năm 2026 ước đạt 197 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 764 tỷ đồng, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm trước.  Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng tư năm 2026 ước đạt 29 tỷ đồng, tăng 3,61% so với tháng trước và tăng 40,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 111 tỷ đồng, tăng 35,56% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Tư ước đạt 6.745 tỷ đồng, giảm 57,18% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 6.115 tỷ đồng, giảm 59,69%; thuế xuất nhập khẩu 630 tỷ đồng, tăng 8,27%. Phần lớn các khoản thu trong tháng đều giảm so với cùng kỳ năm trước như: thu từ doanh nghiệp nhà nước 155 tỷ đồng, tăng 15,03%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 456 tỷ đồng, giảm 18,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.936 tỷ đồng, giảm 56,39%; thu thuế thu nhập cá nhân 310 tỷ đồng, giảm 23,02%; các khoản thu về đất 3.011 tỷ đồng, giảm 67,50%;... Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Tư và bốn tháng đầu năm 2026 T04.2026(Tỷ đồng) 4T.2026(Tỷ đồng) T4.2026T4.2025(%) 4T.20264T.2025(%) Tổng số 6.745 25.366 42,82 81,68 Thu nội địa 6.115 23.188 40,31 79,81 Tr. đó: Thu từ đất 3.012 8.655 32,50 61,79 Thu Hải quan 630 2.178 108,27 108,84 Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 25.366 tỷ đồng, giảm 18,32% so với cùng kỳ năm trước và đạt 30,11% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 23.188 tỷ đồng, giảm 20,19%; thuế xuất nhập khẩu 2.178 tỷ đồng, tăng 8,84%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 914 tỷ đồng, tăng 121,04%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.953 tỷ đồng, tăng 7,36%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 8.933 tỷ đồng, giảm 13,29%; thu lệ phí trước bạ 642 tỷ đồng, tăng 24,11%; thuế thu nhập cá nhân 1.439 tỷ đồng, tăng 6,59%; các khoản thu về đất 8.655 tỷ đồng, giảm 38,21%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Tư ước đạt 4.260 tỷ đồng, giảm 7,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.370 tỷ đồng, giảm 45,26%; chi thường xuyên 2.890 tỷ đồng, tăng 38,43%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 24.773 tỷ đồng, tăng 21,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 15.601 tỷ đồng, tăng 17,11%; chi thường xuyên 9.172 tỷ đồng, tăng 30,22%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 3.109 tỷ đồng, tăng 4,31%; chi sự nghiệp y tế 783 tỷ đồng, tăng 7,21%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 86 tỷ đồng, giảm 27,51%; chi đảm bảo xã hội 2.301 tỷ đồng, tăng 186,44%; chi quản lý hành chính 1.984 tỷ đồng, tăng 16,42%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 30/4/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 315.500 tỷ đồng, tăng 2,0% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 311.000 tỷ đồng, tăng 1,23% và chiếm 98,57% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,43%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/4/2026 đạt 269.100 tỷ đồng, tăng 1,58% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 191.000 tỷ đồng, giảm 1,39%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 78.100 tỷ đồng, tăng 6,75%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 261.000 tỷ đồng, tăng 0,95%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 8.100 tỷ đồng, tăng 27,06%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 174.430 tỷ đồng, tăng 1,41% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 114.200 tỷ đồng, tăng 1,60%; xuất khẩu 1.710 tỷ đồng, tăng 5,56%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.100 tỷ đồng, tăng 1,24%; công nghiệp hỗ trợ 5.420 tỷ đồng, tăng 1,50%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/4/2026 ước tính là 1.850 tỷ đồng (chiếm 0,69% dư nợ tín dụng), giảm 1,75% so với với thời điểm 31/12/2025. d) Bảo hiểm xã hội Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 3 năm 2026 là 626.765 người, giảm 5.293 người, tương ứng giảm 0,01% so với tháng trước; tăng 53.123 người, tương ứng tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 50% so với lực lượng lao động. Trong đó: BHXH bắt buộc 546.004 người, giảm 5.655 người (giảm 1%) so với tháng trước, tăng 48.155 người (tăng 9,7%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 80.761 người, tăng 362 người (tăng 0,5%) so với tháng trước, tăng 4.968 người (tăng 6,6%) so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/3/2026 là 526.825 người, giảm 6.401 người (giảm 1,2%) so với tháng trước, tăng 47.893 người (tăng 10%) so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia BHYT là 2.799.369 người, tăng 6.595 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 20.453 người (tăng 0,7%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 95,1%. Số người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN giảm do số lao động tham gia tại khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm. Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 3/2026 là 3.760,5 tỷ đồng, tăng 2.952,4 tỷ đồng (tăng 78,5%) so với tháng trước, tăng 215,7 tỷ đồng (tăng 5,7%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 21,3% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 3/2026 đạt 1.031 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi BHXH 2.989,8 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 841,7 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 2.148,1 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 3/2026 là 80,3 tỷ đồng. Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 3/2026 là 335,46 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi phí khám chữa bệnh BHYT là 837,34 tỷ đồng, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 339,78 tỷ đồng; chi KCB nội trú 497,56 tỷ đồng. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội Đời sống dân cư: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 4 năm 2026 phát triển ổn định. Toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn. Tạo lập đồng bộ các yếu tố nền tảng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại, đô thị văn minh, kinh tế biển mạnh. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội; nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống nhân dân. Lao động việc làm: Trong tháng Tư, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.300 lao động, trong đó có 680 lao động đi làm việc ở nước ngoài; ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 779 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 3.000 lượt người. Tổ chức hội nghị kết nối cung ứng lao động, ký kết hợp tác với doanh nghiệp và các tỉnh Lào Cai, Lai Châu với mục tiêu bình quân mỗi năm tỉnh Hưng Yên tiếp nhận từ 4.000 lao động trở lên đến làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm 20.620 người, trong đó xuất khẩu lao động là 1.970 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 2.814 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho 9.300 người. Tỉnh tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 2.400 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 1.707 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 681 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 140 lượt doanh nghiệp. Xác nhận cho 323 lượt doanh nghiệp sử dụng 2.049 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 26 lượt doanh nghiệp với 8.607 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 44 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm. Công tác người có công: Tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Toàn tỉnh đã tặng 222.634 suất quà cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 137.249 triệu đồng, trong đó: có 106.413 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 32.650 triệu đồng; 116.221 suất quà của Tỉnh cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 104.599 triệu đồng. Tham mưu cho các Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà 07 cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh; 150 người có công, thân nhân liệt sĩ tại gia đình và các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công. Việc thực hiện chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được tổ chức kịp thời. Trong tháng 4 năm 2026, đã tiếp nhận khoảng 1.100 lượt hồ sơ và tham mưu giải quyết khoảng 1.200 lượt hồ sơ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tiếp nhận khoảng 3.579 lượt hồ sơ, giải quyết khoảng 3.800 lượt hồ sơ. 100% hồ sơ được giải quyết trước hạn và đúng hạn. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Ban hành quyết định điều dưỡng cho 22.080 người có công và thân nhân (73,1 tỷ đồng); cấp phương tiện trợ giúp cho 1.581 người (trên 2,3 tỷ đồng). Công tác chi trả trợ cấp qua tài khoản đạt khoảng 92%, góp phần minh bạch, hiện đại hóa quản lý. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Tỉnh tiếp tục triển khai “Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2025-2030”. Trong tháng 4 tổng lượt khách đến tham quan, chiêm bái tại các di tích ước đạt 5.000 lượt. Mở cửa trưng bày Bảo tàng phục vụ khách tham quan (ước 5.304 lượt khách); trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại 04 điểm trường; phối hợp với Bảo tàng Hải phòng trưng bày “Hải Phòng - Miền di sản”; lập danh mục các di tích, các đường phố liên quan đến các vị Khoa bảng tỉnh Hưng Yên. Toàn tỉnh tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực quan kỷ niệm các ngày lễ lớn, các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị triển khai mô hình “Xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư”. Phối hợp với Báo, Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên tham gia Chương trình “Lưu giữ hồn quê”. Tham gia liên hoan tuyên truyền lưu động toàn quốc tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh, đạt được 01 giải A tiết mục hát múa chèo “Lê Quý Đôn - Tấm gương sáng mãi”, 02 giải B với các tiết mục: Bài hát “Khúc ca ngày hội lớn” và tiết mục độc tấu đàn nhị “Kể chuyện ngày mùa”. Xây dựng kế hoạch tổ chức Lớp tập huấn truyền dạy nghệ thuật Chèo. Hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá, câu lạc bộ tại cơ sở. Tỉnh xây dựng Kế hoạch tham gia Ngày hội gia đình tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam năm 2026; ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị truyền thông Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình; Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình năm 2026. Thống kê, tổng hợp thông tin, phối hợp xây dựng Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình. Theo dõi, nắm bắt tình hình bạo lực gia đình tại các xã, phường. Tổ chức Giải cầu lông gia đình tỉnh Hưng Yên năm 2026. Tối ngày 25/4/2026 (tức ngày 9 tháng Ba âm lịch), tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh (phường Phố Hiến) đã diễn ra khai mạc Lễ hội Văn hóa dân gian Phố Hiến năm 2026. Lễ hội Văn hóa dân gian Phố Hiến năm 2026 diễn ra từ ngày 25 - 27/4/2026 (tức từ ngày 9 - 11 tháng Ba âm lịch) với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc. Đây là dịp quảng bá hình ảnh Hưng Yên - vùng đất giàu truyền thống văn hóa, thân thiện, năng động; đồng thời tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch giữa Hưng Yên với các địa phương trong cả nước. Thông qua lễ hội góp phần tạo không khí vui tươi, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và Nhân dân thi đua lao động, sản xuất, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; đồng thời tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, bồi đắp niềm tự hào dân tộc, nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa của tỉnh. Thư viện tỉnh: Tỉnh tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách với chủ đề “Hưng Yên trong em” hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4 (thu hút 204 học sinh tham gia); viết tin, bài tuyên truyền về hoạt động thư viện; sưu tầm, biên soạn 02 bài giới thiệu sách chuyên đề: Kỷ niệm ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3; kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; tổ chức xe ôtô Thư viện lưu động phục vụ tại 19 điểm trường thuộc 07 xã, phường trong tỉnh; hoàn thành sưu tầm, biên soạn Thư mục toàn văn về Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn chào mừng kỷ niệm 300 năm ngày sinh của Ông (02/8/1726-02/8/2026). Về điện ảnh: Tỉnh tổ chức 70 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 60 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Về thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh xây dựng Kế hoạch phát động toàn dân tập luyện môn bơi, phòng chống đuối nước năm 2026 và tổ chức lớp tập huấn phòng, chống đuối nước trẻ em; Kế hoạch mở lớp tập huấn Lân - Sư - Rồng năm 2026; hướng dẫn, kiểm tra các địa phương tổ chức Đại hội TDTT năm 2026; tổ chức thành công Giải Bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; ban hành Điều lệ giải Pickleball năm 2026. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tập huấn, tham gia 10 giải thể thao quốc gia, đạt 111 huy chương các loại, trong đó: 27 HCV, 26 HCB, 58 HCĐ. Đặc biệt, vận động viên Hà Thế Anh (môn Kickboxing) được triệu tập vào Đội tuyển quốc gia tham dự Giải vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026 tổ chức tại Bangkok, Thái Lan và đã xuất sắc giành được 1 Huy chương Đồng. c) Hoạt động du lịch Tham gia Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Đồng bằng sông Cửu Long năm 2026 tại Hà Nội; tham gia Hội chợ VITM Hà Nội năm 2026 và tổ chức chương trình Hội nghị xúc tiến bên lề Hội chợ VITM Hà Nội; hoàn thành sửa chữa 02 biển quảng cáo du lịch Hưng Yên tại phường Sơn Nam và xã Đại Đồng; hoàn thiện 01 phim và 03 trailer quảng bá du lịch Hưng Yên: “Hưng Yên Miền di sản tâm linh và lễ hội”, “Hưng Yên - Vùng đất trải nghiệm, làng nghề và tinh hoa ẩm thực”, “Trải nghiệm Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung”; phim tổng hợp ẩm thực Hưng Yên; viết tin, bài và đăng tải lên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube của Trung tâm Xúc tiến du lịch (10 bài, 05 video livestream chia sẻ 35 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 15 link, 09 video từ Báo và Phát thanh, truyền hình Hưng Yên) thu hút hơn 3.000 lượt truy cập; tái bản ấn phẩm thông tin du lịch (Bản đồ du lịch Hưng Yên, chương trình du lịch Hưng Yên). Toàn tỉnh tiếp tục phối hợp Công an tỉnh thực hiện hỗ trợ người dân ứng dụng dữ liệu dân cư định danh xác thực điện tử trong phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế số phát triển du lịch gắn với phát triển đặc sản vùng miền; hoàn thành việc ký hợp đồng với VNPT thuê dịch vụ Cổng thông tin du lịch thông minh; tiến hành nâng cấp giao diện website “Hungyentourism.com.vn”; tiếp tục thực hiện số hóa bản đồ du lịch tỉnh; thường xuyên viết tin, bài đăng trên Cổng du lịch thông minh; xây dựng Bản đồ du lịch và số hóa bản đồ du lịch của tỉnh; ấn phẩm số thông tin du lịch quảng du lịch. 3. Giáo dục, đào tạo Toàn tỉnh đã công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) cho 1.084/1.236 trường, trung tâm (đạt tỷ lệ 87,70%); công nhận đạt chuẩn quốc gia cho 1.071/1.218 trường mầm non, phổ thông (đạt tỷ lệ 87,93%). Cụ thể: - Mầm non: công nhận đạt KĐCLGD 423/498 trường (đạt tỷ lệ: 84,93%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 413/498 trường (đạt tỷ lệ: 82,93 %). - Tiểu học: công nhận đạt KĐCLGD 191/197 trường (đạt tỷ lệ: 96,95%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 193/197 trường (đạt tỷ lệ: 97,96%). - THCS: công nhận đạt KĐCLGD 179/187 trường (đạt tỷ lệ: 95,72%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 179/187 trường (đạt tỷ lệ: 95,72 %). - THPT: công nhận đạt KĐCLGD 60/81 trường (đạt tỷ lệ: 74,07 %), công nhận đạt chuẩn quốc gia 60/81 trường (đạt tỷ lệ: 74,07%). - Trường TH và THCS: công nhận đạt KĐCLGD 225/255 trường (đạt tỷ lệ: 88,23%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 226/255 trường (đạt tỷ lệ: 88,62%). - Trung tâm GDTX, trung tâm GDNN-GDTX: công nhận đạt KĐCLGD 06/18 trung tâm (đạt tỷ lệ: 33,33%) Tỉnh tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức giáo viên vào làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập tỉnh Hưng Yên, năm học 2025-2026, với 3.095 thí sinh tham dự. Tổ chức Hội giảng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp với chủ đề “Đổi mới, sáng tạo trong giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả hội giảng cho thấy sự tiến bộ rõ rệt về chất 2 lượng chuyên môn, trên 85% bài giảng đạt từ 75 điểm trở lên, nhiều bài đạt trên 90 điểm; Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS và THPT năm học 2025 - 2026 Hưng Yên có 2/6 dự án của học sinh tham dự đạt giải, với 1 giải nhất và 1 giải tư, trong đó Dự án của nhóm học sinh Trường THPT Yên Mỹ được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham gia Hội thi Khoa học kỹ thuật quốc tế - ISEF 2026 tại Hoa Kỳ; Kỳ thi Olympic Tin học Miền Trung và Tây Nguyên tổ chức tại thành phố Đà Nẵng có 02 học sinh vượt qua vòng loại vào vòng chung kết; Cuộc thi "HSSV với ý tưởng Khởi nghiệp" cấp Toàn quốc năm 2026, Đoàn Hưng Yên đạt 02 giải Ba; vòng chung khảo cuộc thi học sinh với An ninh mạng tỉnh Hưng Yên có 8 học sinh tham dự; Cuộc thi khoa học, kỹ thuật, đổi mới và sáng tạo quốc tế EUREKA WARSAW - năm 2026 tại Ba Lan từ ngày 16/02/2026 đến ngày 17/02/2026. Trường THPT Hưng Yên có 05 học sinh và 01 giáo viên hướng dẫn tham gia cuộc thi với dự án “Nghiên cứu quy trình nuôi cấy nấm Cordyceps militaris trên hàu để hỗ trợ tăng cường hoocmon testosterone” đã xuất sắc đoạt Huy chương vàng lĩnh vực Hóa Sinh; Giải Điền kinh học sinh phổ thông tỉnh Hưng Yên năm 2026 do Sở GDĐT tỉnh Hưng Yên tổ chức từ ngày 27/3 đến ngày 2/4/2026 tại Sân vận động Thái Bình, phường Thái Bình, thu hút sự tham gia của 1.760 vận động viên tranh tài ở 28 nội dung; Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc năm 2026 được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, đoàn học sinh tỉnh Hưng Yên đã tham gia dự thi và đạt được nhiều thành tích nổi bật như: 01 giải Nhất phần thi lý thuyết, 01 giải Ba phần thi Đội ngũ, 01 giải Nhì và 01 giải Ba 3 Giải toàn năng, giải Tư phần thi lý thuyết + thực hành toàn đoàn, 07 giải cá nhân (gồm 01 giải Nhất, 03 giải Ba, 03 giải Khuyến khích), 01 huấn luyện viên của Hưng Yên đạt danh hiệu Huấn luyện viên xuất sắc. 4. Hoạt động y tế Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Xuân - Hè, đặc biệt là thời điểm giao mùa; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 04: Tay chân miệng 304 ca; SXH 21 ca; Sởi 05 ca; Ho gà 02 ca; Lao phổi 33 ca; VGB 12 ca; VGC 02 ca; Bệnh do Adeno vi-rút: 13 ca; Cúm 1.802 ca; Lỵ 0 ca; Quai bị 10 ca; Thủy đậu 28 ca; Tiêu chảy 1095 ca; VG virut khác 9 ca; Covid 07 ca. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 33 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Sốt xuất huyết Dengue: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 50 ca. (Duy trì giám sát phòng, chống dịch SXHD trên địa bàn xã, phường) Bệnh tay chân miệng: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 643 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Bệnh Covid-19: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 38 ca, toàn tỉnh duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo qui định. Bệnh Ho gà: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm đến nay ghi nhận 08 ca. Toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Hội chứng cúm: Cập nhật 443 trường hợp mắc, chủ yếu các chủng gây bệnh là cúm A, cúm B thông thường. Không phát hiện các trường hợp mắc cúm nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh. Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 03 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.565 người thuộc 104/104 xã, phường), có 02 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.310 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT; Số bệnh nhân hiện đang điều trị Methadone tại 13 cơ sở điều trị ngoại trú trong tỉnh là: 1.545 bệnh nhân (Trong đó cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên đại bàn tỉnh Thái Bình cũ là: 1.071 bệnh nhân, Hưng Yên cũ là: 474). 5. Công tác vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ Trong tháng 4 năm 2026 (từ ngày 26/3/2026 đến ngày 25/4/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 07 vụ với số tiền xử phạt 1.804,02 triệu đồng. So với tháng 3/2026, số vụ vi phạm tăng 10 vụ, tăng gấp 10 lần so với tháng trước; số vụ đã xử lý giảm 04 vụ, giảm 36,36%; số tiền xử phạt tăng 1.412,02 triệu đồng, tăng 360,21%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ đã xử lý tăng 03 vụ, tăng 75,0%; số tiền xử phạt tăng 1.287,12 triệu đồng, tăng 249,01%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường; giảm 50 vụ, giảm 68,49% so với cùng kỳ năm 2025. Số vụ đã xử lý vi phạm là 33 vụ, giảm 23 vụ, giảm 41,07% so với cùng kỳ năm 2025. Số tiền xử phạt là 3.019,02 triệu đồng, giảm 680,80 triệu đồng, giảm 18,40% so với cùng kỳ năm 2025. Các hành vi vi phạm chủ yếu về đổ chất thải trái phép ra môi trường, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/3/2026 đến ngày 14/4/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Như Quỳnh xảy ra 01 vụ, xã Thượng Hồng xảy ra 01 vụ, xã Phụ Dực xảy ra 01 vụ), không có vụ nổ; không có người chết và làm bị thương 01 người. Giá trị thiệt hại về tài sản là 67 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy nổ tăng 01 vụ, số người bị thương giảm 01 người. Bốn tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, nổ làm 01 người chết và 02 người bị thương; giá trị thiệt hại về tài sản là 1.714 triệu đồng. 6. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/3/2026 đến 14/4/2026, toàn tỉnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 35 vụ, đường sắt 01 vụ), làm chết 28 người (đường bộ 27 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 14 người (đường bộ). So với tháng 3 năm 2026, số vụ tai nạn tăng 01 vụ, tăng 2,86%; số người chết tăng 02 người, tăng 7,69%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 22,22%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 15 vụ, giảm 29,41%; số người chết tăng 02 người, tăng 7,69%; số người bị thương giảm 25 người, giảm 64,10%. Bốn tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 172 vụ (đường bộ 170 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 105 người (đường bộ 104 người, đường sắt 01 người), bị thương 110 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 21 vụ, giảm 10,88%; số người chết giảm 08 người, giảm 7,08%; số người bị thương giảm 12 người, giảm 9,84%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026
  •   27/10/2026 08:36

Quý I năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gia tăng rủi ro đối với ổn định kinh tế toàn cầu, tác động lớn đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Ở trong nước, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng với mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10% trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác điều hành vĩ mô, vừa đạt mức tăng trưởng cao, vừa bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và nâng cao đời sống của Nhân dân. Đối với tỉnh Hưng Yên, kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức, song bên cạnh đó, có những yếu tố tác động tích cực như kết cấu hạ tầng giao thông kết nối tiếp tục được đầu tư hoàn thiện; các dự án đầu tư trong Khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp được đẩy nhanh tiến độ đưa vào hoạt động phát huy hiệu quả; tiếp tục rà soát, tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách và khơi thông các nguồn lực của tỉnh; các cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã ban hành tạo động lực mới cho tăng trưởng của các lĩnh vực;... Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cùng với sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026 của tỉnh đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể như sau: I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản Quý I năm 2026, nông dân trong tỉnh tập trung thu hoạch nhanh gọn cây rau màu vụ đông, hoàn thành gieo cấy lúa và chăm sóc cây rau màu vụ xuân; chủ động phòng trừ sâu bệnh trên cây ăn quả. Đồng thời, chăm sóc, bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm phục vụ nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ và những tháng đầu năm. Nhìn chung, quý I năm 2026, diễn biến thời tiết cơ bản thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, chưa xảy ra dịch bệnh lớn trên đàn gia súc gia cầm. a) Nông nghiệp Trồng trọt Tỉnh đã tập trung quy hoạch, quy vùng, khắc phục sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất tập trung, quy mô lớn chuyên canh, chuyển đổi đất trồng cây hiệu quả thấp sang trồng cây lâu năm, cây hàng năm kết hợp chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã chuyển đổi được trên 6.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác như: cây ăn quả, dược liệu, hoa cây cảnh, rau các loại;... cho hiệu quả kinh tế cao hơn; chuyển đổi trên 300 ha diện tích trồng lúa hiệu quả thấp sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản trong ao bán nổi. Toàn tỉnh tổ chức xây dựng được 624 mô hình sản xuất lúa tập trung (từ 05 ha trở lên) với tổng diện tích 25.005 ha; diện tích xây dựng các cánh đồng liên kết trong sản xuất lúa và rau màu 10.073,2 ha (trong đó lúa 9.453,2 ha; cây rau màu 620 ha); tổng diện tích đất tập trung nông nghiệp 6.980,98ha (trong đó dưới 2 ha 278,23 ha; từ 2-5ha 1.893,94 ha; từ 5-10 ha 1.728,32 ha; từ 10-20 ha 1.225,67 ha; trên 20 ha 559,79 ha). Nhiều vùng sản xuất tập trung đối với cây lúa chất lượng cao, cây rau màu, cây ăn quả đặc sản được duy trì và mở rộng; mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản ngày càng chặt chẽ. Hiện toàn tỉnh có 118 “cánh đồng lớn” trồng lúa tại 39 xã. -        Cây hằng năm: + Sản xuất vụ đông: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông năm 2026 toàn tỉnh đạt 41.708 ha, giảm 3,04%, tương ứng giảm 1.310 ha so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch một số loại cây hằng năm vụ đông như sau: ngô 6.306 ha, giảm 6,55% (giảm 442 ha), sản lượng ngô 38.525 tấn, giảm 5,27% (giảm 2.144 tấn); khoai lang 2.207 ha, tăng 2,87% (tăng 62 ha), sản lượng 28.321 tấn, tăng 4,81% (tăng 1.299 tấn); đậu tương 707 ha, tăng 13,51% ( tăng 84 ha); sản lượng 1.245 tấn, tăng 14,89% (tăng 161 tấn); rau các loại 26.750 ha, giảm 3,39% (giảm 940ha); sản lượng 652.104 tấn, giảm 4,46% (giảm 30.475 tấn);... + Sản xuất vụ xuân: Kế hoạch gieo trồng lúa Vụ xuân năm nay toàn tỉnh dự kiến 95.500 ha. Theo báo cáo của ngành chuyên môn, đến thời điểm 05/3 toàn tỉnh đã gieo cấy được 95.500 ha lúa xuân(đạt 100% kế hoạch đề ra). Hiện nay, lúa xuân bước vào giai đoạn đẻ nhánh, chuẩn bị làm đòng cũng là thời điểm chuột gây hại gia tăng tại nhiều địa phương trong tỉnh. Ngành chuyên môn đang phối hợp với các địa phương theo dõi chặt chẽ tình hình chuột gây hại để kịp thời đưa ra khuyến cáo giải pháp phòng, chống cho người dân. Ngoài việc hoàn thành diện tích gieo cấy lúa, người dân các địa phương đã khẩn trương gieo trồng các loại rau, màu vụ xuân. Đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh đã gieo trồng 3.459 ha ngô (tăng 6,2%); 687 ha khoai lang (giảm 2,6%); 463 ha đậu tương (giảm 2,6%); 2.302 ha lạc (tăng 3,2%); 15.869 ha rau các loại (tăng 13,6%) so với thời điểm 2025. - Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn duy trì ổn định. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm 2025 đạt 24.647 ha, tăng 1,91%, tương ứng tăng 461,26 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong diện tích hiện có các loại cây lâu năm thì diện tích cây ăn quả chiếm chủ yếu - chiếm 85,33%. Ước tính trong quý I năm 2026, sản lượng thu hoạch một số loại cây ăn quả của tỉnh so với cùng kỳ năm trước như sau: chuối 30.500 tấn, tăng 2,22%; cam 22.000 tấn, tăng 0,32%; táo 4.600 tấn, tăng 1,55%; ổi 3.000 tấn, tăng 0,23%;... Thời điểm này, các loại cây ăn quả như nhãn, vải và nhóm cây có múi đang ở thời kỳ phân hóa hoa, ra hoa, đậu quả non. Hiện nay, mặc dù thời tiết ấm, song độ ẩm không khí cao, thuận lợi cho một số loài sâu bệnh phát sinh và gây hại. Các nhà vườn cần đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ ra hoa, đậu quả, đồng thời chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây ăn quả, nhằm làm tăng sản lượng, chất lượng của cả vụ.  Quý I năm 2026, sản lượng cây cảnh thu hoạch vào dịp Tết Nguyên đán tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây quất cảnh 3.055 nghìn cây, tăng 18,77%; cây hoa đào 984 nghìn cây, tăng 4,07%. Sản lượng thu hoạch cây cảnh quý 1 năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước do tháng 9 năm 2024, cơn bão số 3 (bão Yagi) và mưa, lũ sau bão đã gây ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp, khiến sản lượng cây cảnh thu hoạch trong quý I năm 2025 giảm mạnh. Chăn nuôi Cơ cấu giống vật nuôi của tỉnh đã và đang chuyển biến theo hướng tích cực, chăn nuôi giống vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, hệ số vòng quay ngắn được đưa vào sản xuất: Đàn lợn đang được nuôi các giống cao sản với mức tăng khối lượng cao (750 - 950 gram/con/ngày), tỷ lệ nạc đạt trên 54%. Hiện nay, ước tính đàn lợn thịt cao sản đạt khoảng trên 90%. Chất lượng đàn lợn nái sinh sản được tăng lên, đàn lợn thịt với thời gian nuôi 150-155 ngày đạt trung bình khoảng 120 kg/con. Các giống gia cầm cao sản được người dân chăn nuôi nhiều là các giống cao sản, thời gian nuôi ngắn ngày, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp. Đối với gà có các giống là tổ hợp lai gà lông màu 2 máu và 3 máu có thời gian nuôi phổ biến 3- 3,5 tháng, tiêu tốn thức ăn thấp 2.8-3.0kgTA/P tăng trọng, khối lượng lượng trung bình đạt 2,5kg/con. Trong chăn nuôi thủy cầm: Giống vịt cao sản của các hãng Grimaud, hãng vịt Cherry; tổ hợp lai vịt hướng thịt cao sản thời gian nuôi 37- 40 ngày đạt 2,5-2,9kg/con; 47- 49 ngày khối lượng đạt trung bình 3-3,5 kg/con; giống Ngan R71 nuôi 70 ngày tuổi đạt khối lượng 3,5 kg,... Đàn bò của tỉnh đã và đang cải tạo thông qua công tác phối giống nhân tạo theo hướng lai nhóm bò Zebu (chủ yếu là giống Brahman), số ít là giống bò Senepol, Angus, Droughtmaster, BBB. Thể vóc, khối lượng, năng suất đàn bò sinh sản và bò thương phẩm cao hơn so với trước, phần lớn bò sinh sản có khối lượng đạt khoảng 250-300kg/con, cá biệt có bò đạt 450-500 kg/con (xã Hưng Hà, Quỳnh Phụ); khối lượng trâu, bò xuất chuồng trung bình đạt 320-350 kg/con. Quý I năm 2026 tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định; không có địa phương nào báo cáo có trường hợp hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò thịt, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân, cung ứng sản lượng thịt đáng kể cho hoạt động chế biến tại các thị trường trong và ngoài tỉnh. Ước tính tại thời điểm 31/03/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.978 con, tăng 0,15%; đàn bò 84.472 con, tăng 1,90%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 999.592 con, tăng 2,33%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.607 nghìn con, tăng 2,71% (trong đó: đàn gà 17.493 nghìn con, tăng 2,90%) so với cùng thời điểm năm trước. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong quý I năm 2026 như sau: thịt trâu 383 tấn, tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò 3.995 tấn, tăng 4,64%; thịt lợn 74.055 tấn, tăng 5,77%; thịt gia cầm (gà, vịt, ngan) 28.000 tấn, tăng 4,50% (trong đó: thịt gà 21.356 tấn, tăng 4,75%). Quý I năm 2026, sản lượng trứng gia cầm (gà, vịt, ngan) ước đạt 299.222 nghìn quả, tăng 5,76% (trong đó: sản lượng trứng gà 127.341 nghìn quả, tăng 5,04%; sản lượng sữa bò tươi 2.370 tấn, giảm 0,42% so với cùng kỳ năm trước. b) Lâm nghiệp Từ đầu năm đến nay, tình hình sản xuất lâm nghiệp của Hưng Yên không có biến động lớn. Diện tích rừng trồng mới tập trung, số vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá không phát sinh trong kỳ báo cáo.  Tháng Ba năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh ước đạt 474 nghìn cây, giảm 1,05% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác 564 m³, tăng 1,62%. Quý I năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh ước đạt khoảng 493 nghìn cây, giảm 1,11% so với cùng kỳ năm trước. Cây lâm nghiệp trồng phân tán trên địa bàn tỉnh chủ yếu là cây lấy gỗ như bạch đàn, xoan và cây làm bóng mát như: keo, cây hoa sữa, cây sấu,... Bên cạnh đó, một số địa phương trong tỉnh đã thu hoạch gỗ và củi với sản lượng không đáng kể. Ước tính thu được: gỗ 1.495 m3, tăng 0,34%; củi 1.480 ste, giảm 0,80%. c) Sản xuất thủy sản Hiện nay, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh trên cả 3 loại hình nước mặn, nước lợ, nước ngọt với đa dạng các phương thức (bãi triều, lồng bè, ao hồ), hình thức (bán thâm canh, thâm canh) và đối tượng nuôi mới, có giá trị kinh tế như: tôm thẻ chân trắng, tôm sú Moana, cá song, cá hồng Mỹ, cá lăng,... Trong đó, tôm sú, tôm thẻ là đối tượng nuôi chủ lực, ngao được xác định là đối tượng nuôi chính của tỉnh. Phương thức nuôi trồng thủy sản chuyển dịch mạnh từ quảng canh cải tiến sang thâm canh, bán thâm canh; trong đó trên 100 ha nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao và 4.000 ha nuôi thâm canh các đối tượng nước ngọt, nước lợ có giá trị kinh tế cao, kiểm soát dịch bệnh. Nuôi cá lồng trên sông tiếp tục được mở rộng và phát triển với nhiều đối tượng nuôi có giá trị kinh tế như cá lăng, chép, diêu hồng. Tỉnh đã làm chủ được quy trình, công nghệ các đối tượng như ngao, hàu, tôm sú, cua xanh, rô phi, cá truyền thống và một số loài cá đặc sản khác Tổng sản lượng thủy sản quý I năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 87.387 tấn, tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 42.846 tấn, tăng 3,82%; tôm 793 tấn, tăng 3,04%; thủy sản khác 43.747 tấn, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Ba ước đạt 9.907 tấn, tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.082 tấn, tăng 3,63%; tôm 145 tấn, tăng 2,84%; thủy sản khác 3.680 tấn, tăng 3,87%. Ước tính quý I năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 27.782 tấn, tăng 3,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 17.284 tấn, tăng 3,98%; tôm 401 tấn, tăng 3,89%; thủy sản khác 10.097 tấn, tăng 3,58%. Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Ba ước đạt 18.130 tấn, tăng 3,72% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 6.082 tấn, tăng 3,79%; tôm 118 tấn, tăng 3,51%; thủy sản khác 11.930 tấn, tăng 3,69%. Tính chung quý I năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 58.609 tấn, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 24.757 tấn, tăng 3,84%; tôm 326 tấn, tăng 3,19%; thủy sản khác 33.526 tấn, tăng 3,79%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng 3 và quý I năm 2026 như sau: So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Ba tăng 22,61%, trong đó: khai khoáng tăng 5,02%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,79%; sản xuất và phân phối điện tăng 55,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 30,92%. Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 111,28%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 82,72%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 79,21%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 71,02%; sắt, thép các loại tăng 68,14%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 66,95%; điện sản xuất tăng 64,2%; khí tự nhiên dạng khí tăng 60%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 50,66%; Sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 62,04%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 60,89%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác tăng 225,31%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 12,01%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 62,58%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp so với tháng trước như: nước tinh khiết giảm 37,76%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 13,98%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 0,70%; mạch in khác tăng 0,51%; Dây thép không gỉ giảm 6,52%; Đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (CD, DVD,...) giảm 1,07%; So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba tăng 16,97%, trong đó: khai khoáng tăng 10,38%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,36%; sản xuất và phân phối điện tăng 5,36%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,91%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng gấp hơn 2 lần; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 53,85%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 51,62%; nitơrat Amoni tăng 23,44%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 22,32%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 20,01%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 16,98%; quần áo các loại tăng 16,17%; điện thương phẩm tăng 13,38%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 12,33%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) giảm 11,57%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 5,84%; nước khoáng không có ga giảm 4,88%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 4,19%; mạch điện tử tích hợp giảm 1,68%; thức ăn cho gia cầm giảm 1,21%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 7,76%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 6,54%; aắt, thép không hợp kim cán phẳng có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác tăng 15,06%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 11,72%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 46,14;... Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 và quý I năm 2025                                                                                               ĐVT: % T03.2026 3T.2026 T03.2025 3T.2025 Chung toàn ngành CN 116,97 114,54 Khai khoáng 110,38 110,65 Công nghiệp chế biến, chế tạo 118,36 116,16 SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng 105,36 102,51 Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải 114,91 105,10 Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: khai khoáng tăng 10,65%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,16%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 2,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,10%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 35,74%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 35,07%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,65%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,22%; sản xuất trang phục tăng 24,81%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 22,64%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 19,92%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,45%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,39%; sản xuất kim loại tăng 13,08%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm như: in, sao chép bản ghi các loại giảm 312,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 9,75%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,71%; sản xuất đồ uống giảm 1,54%;…… Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 131,83%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 34,98%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 34,88%; mạch điện tử tích hợp tăng 33,52%: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 21,54%; quần áo các loại tăng 19,32%; thức ăn cho gia cầm tăng 18,01%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 14,35%; mạch in khác tăng 13,64%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 5,69%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 18,84%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 15,81%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 25,98%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 36,68%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 29,19%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 24,53%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 13,34%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 9,28%; nước khoáng không có ga giảm 8,27%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 6,82%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 2,24%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 0,92%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) giảm 0,86%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 8,81%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác giảm 7,57%;... Trong quý I năm 2026, nhiều doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH thương mại và CN Mỹ Việt sản phẩm sản xuất tăng 13,64%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 17,55%; Công ty Tôn Vikor tăng 173,38%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 2,5%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 49,48%; Công ty TNHH Kết cấu thép Cơ khí Xây dựng tăng 16,95%; Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu May Anh Vũ tăng 18,88%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 38,09%; Công ty Cổ phần May Hưng Việt tăng 35,75%; Công ty TNHH Foremart Việt Nam tăng 13,45%; Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 63,24%; Xí nghiệp May Thái Bình tăng 33,95%; Công ty TNHH TAV tăng 19,12%; Công ty TNHH P S Vina tăng 32,04%; Công ty TNHH May Niên Hsing Việt Nam tăng 62,79%; Công ty TNHH Ivory Việt Nam tăng 20,0 %; Công ty TNHH Tân Đệ - Chi nhánh Thái Bình tăng 32,25%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 19,46%; Công ty Cổ phần Thép Việt Ý tăng 7,29%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 11,72%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 32,36%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 46,14%; Chi nhánh Ống thép Hoà Phát tăng 24,52%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 11,98%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 6,54%; TNHH LTD Đức Mạnh tăng 6,78%; Công ty TNHH Giấy và Bao bì Hưng Hà Hưng Yên tăng 29,46%; Công ty TNHH Chung Phát tăng 59,11%; Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm tăng 14,84%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 5,92%; Công ty TNHH Phúc Kiên tăng 49,83%; Công ty TNHH Hsin Yue Hsing tăng 17,67%; Công ty Hà Phương tăng 16,67%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 6,43%; Công ty Cổ phần Liên doanh Kangaroo quốc tế tăng 60,59%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 25,0%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 30,42%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 19,83%; Công ty TNHH Greenworks tăng 58,13%; Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 8,99%; Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam - Chi nhánh Hưng Yên tăng 10,34%; Công ty TNHH Minh Hiếu tăng 9,37%; Công ty Cổ phần Mavin Austfeed tăng 22,22%; Công ty TNHH Lạc Hồng tăng 11,64%; Công ty TNHH Cargill Việt Nam tại Hưng Yên - Chi nhánh Hưng Yên tăng 16,65%; Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Quốc tế Đài Loan tăng 46,22%; Công ty TNHH Dây và Cáp điện Ngọc Khánh tăng 25,36%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 22,32%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 10,82%; Công ty TNHH Sews - Components Việt Nam tăng 58,06%; Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát tăng 33,33%. Một số doanh nghiệp có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 14,29%; Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 1,43%; Công ty TNHH Giày VICTORY Việt Nam giảm 0,85%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 0,71%; Công ty TNHH Sao Vàng -Chi nhánh tại Quỳnh Phụ Thái Bình tăng 49,82%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ tăng 3,26%; Công ty TNHH JEWELRY Khan giảm 27,93%; Công ty TNHH Kỹ thuật Hoạt hình FIRSTunion Việt Nam giảm 10,57%; Công ty TNHH Nhựa Cotec giảm 1,18%. b) Chỉ số sử dụng lao động Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Ba toàn ngành tăng 6,09% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 2,01%. cộng dồn 3 tháng tăng 5,29% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 2,01%. Chỉ số sử dụng lao động tháng 3 tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện rất ổn định và có sự phát triển khá. Có những ngành, những doanh nghiệp gặp thuận lợi phát triển tốt trong SXKD và ngược lại, do đó mà chỉ số sử dụng lao động có biến động rất lớn giữa các ngành. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong quý I năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 34,36%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 27,82%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 26,86%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,34%; sản xuất đồ uống tăng 20,53%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,45%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 7,24%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 5,80%; dệt giảm 5,03%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,76%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,19%;... c) Xu hướng sản xuất kinh doanh Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) quý I/2026 gặp khó khăn hơn so với quý IV/2025 với 21,22% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD sẽ tốt hơn; 48,84% ổn định và có tới 29,94% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn. Dự báo tình hình SXKD quý II/2026 có nhiều thuận lợi so với quý I/20266, với 43,60% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD sẽ tốt hơn; có tới 42,15% đánh giá ổn định và chỉ có 14,24% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. 3. Hoạt động đầu tư, xây dựng a) Thực hiện vốn đầu tư Sau hợp nhất hai tỉnh Hưng Yên cũ và tỉnh Thái Bình (ngày 01/7/2025), trọng tâm phát triển kinh tế của tỉnh trước hết là mở rộng không gian phát triển, coi hạ tầng đi trước một bước là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực. Năm 2025, tỉnh khởi động hàng loạt dự án hạ tầng chiến lược, tạo nền móng cho giai đoạn 2025 - 2030 phát triển mạnh mẽ. Nổi bật, tuyến đường từ phường Thái Bình đi xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến được đầu tư, là trục giao thông chiến lược, liên kết các khu công nghiệp, khu đô thị và trung tâm kinh tế trọng điểm của tỉnh, rút ngắn khoảng cách địa lý và hình thành hành lang phát triển công nghiệp - logistics - dịch vụ mới. Cùng với đó, tuyến đường ven sông Hồng dài gần 56km, đạt tiêu chuẩn đường cấp II đồng bằng, đóng vai trò kết nối liên vùng Hà Nội - Hưng Yên - Ninh Bình, mở ra dư địa phát triển kinh tế, đô thị, dịch vụ và du lịch dọc trục sông, gia tăng khả năng liên kết vùng Thủ đô. Các dự án như Trump International Hưng Yên; Nhà máy Nhiệt điện LNG Thái Bình; cảng hàng lỏng Ba Lạt; sân golf Cồn Vành, tổ hợp sân vận động PVF sức chứa 60.000 chỗ;... được khởi công, góp phần định hình hệ sinh thái hạ tầng đồng bộ, đa lĩnh vực. Song song với đầu tư hạ tầng, tỉnh chuyển mạnh tư duy thu hút đầu tư từ số lượng sang chất lượng, coi hoàn thiện thể chế và môi trường đầu tư là khâu đột phá. Đặc biệt, ngày 13/3/2026, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2025-2030 đã tổ chức Hội nghị và thống nhất thông qua Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên. Đây được xem là bước đột phá quan trọng về thể chế, không gian và cơ chế phát triển, mở ra dư địa để thu hút các dòng vốn chất lượng cao, tạo động lực tăng trưởng mới. Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý I/2026 ĐVT: tỷ đồng Quý Inăm 2025 Ước tínhquý Inăm 2026 So sánh QI/2026 với QI/2025(%) TỔNG SỐ 29.205 35.636 122,02 I. Phân theo nguồn vốn 1. Vốn nhà nước 7.497 8.920 118,98 2. Vốn ngoài nhà nước 16.947 20.797 122,72 3. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài  4.761 5.919 124,32 II. Phân theo khoản mục đầu tư 1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản 19.476 26.027 133,64 2. Vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua XDCB 4.512 1.674 37,10 3. Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 4.521 4.537 100,34 4. Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 691 3.398 491,70 5. Vốn đầu tư khác 5 0,12 2,31 Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh đạt 35.636 tỷ đồng, tăng 22,02% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nguồn vốn như sau: vốn nhà nước 8.920 tỷ đồng, tăng 18,98%; vốn ngoài nhà nước 20.797 tỷ đồng, tăng 22,72%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5.919 tỷ đồng, tăng 24,32%. Phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 26.027 tỷ đồng, tăng 33,64%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua XDCB 1.674 tỷ đồng, giảm 62,90%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 4.537 tỷ đồng, tăng 0,34%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 3.398 tỷ đồng, tăng 391,70%; vốn đầu tư khác 0,12 tỷ đồng, giảm 97,69%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Ba năm 2026 ước đạt 3.210 tỷ đồng, tăng 43,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.898 tỷ đồng, tăng 51,50%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.312 tỷ đồng, tăng 33,73%. Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương ước đạt 7.739 tỷ đồng, tăng 19,07% so với cùng kỳ năm trước và đạt 17,98% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.488 tỷ đồng, tăng 27,83%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 3.251 tỷ đồng, tăng 8,77%. Hoạt động đầu tư nước ngoài: Tính đến ngày 27/3/2026, toàn tỉnh có 973 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký đạt 17.441 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 200 dự án, vốn đăng ký là 6.315,31 triệu USD, chiếm 36,11% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 372 dự án, vốn đăng ký 4.502,45 triệu USD, chiếm 25,82% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 212 dự án, vốn đăng ký 2.303,23 triệu USD, chiếm 13,21% tổng số vốn đăng ký. b) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/02/2026 đến ngày 21/3/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 461 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 1.993 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 3.338 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 86 doanh nghiệp, sử dụng 488 lao động, vốn đăng ký 549 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 197 doanh nghiệp, sử dụng 713 lao động, vốn đăng ký 697 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 20 doanh nghiệp, sử dụng 114 lao động, vốn đăng ký 1.507 tỷ đồng; vận tải kho bãi 41 doanh nghiệp, sử dụng 147 lao động, vốn đăng ký 187 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 20 doanh nghiệp, sử dụng 91 lao động, vốn đăng ký 72 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 9 doanh nghiệp, sử dụng 33 lao động, vốn đăng ký 25 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 7 doanh nghiệp, sử dụng 33 lao động, vốn đăng ký 10 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/3/2026, toàn tỉnh có 1.534 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 12.399 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 11.640 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 694 doanh nghiệp, sử dụng 2.587 lao động, vốn đăng ký đạt 2.251 tỷ đồng (chiếm 19,34% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 299 doanh nghiệp, sử dụng 7.078 lao động, vốn đăng ký đạt 3.013 tỷ đồng (chiếm 25,88%); xây dựng 128 doanh nghiệp, sử dụng 603 lao động, vốn đăng ký 814 tỷ đồng (chiếm 6,99%); hoạt động vận tải, kho bãi 114 doanh nghiệp, sử dụng 386 lao động, vốn đăng ký 650 tỷ đồng (chiếm 5,59%); giáo dục và đào tạo 25 doanh nghiệp, sử dụng 110 lao động, vốn đăng ký 45 tỷ đồng (chiếm 0,38%); kinh doanh bất động sản 52 doanh nghiệp, sử dụng 618 lao động, vốn đăng ký 4.028 tỷ đồng (chiếm 34,61%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 58 doanh nghiệp, sử dụng 212 lao động, vốn đăng ký 124 tỷ đồng (chiếm 1,07%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 46 doanh nghiệp, sử dụng 199 lao động, vốn đăng ký 124 tỷ đồng (chiếm 1,07%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Ba (tính từ ngày 22/02/2026 đến ngày 21/3/2026) là 39 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/3/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 319 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/02/2026 đến ngày 21/3/2026, số doanh nghiệp giải thể là 76 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 73 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/3/2026, toàn tỉnh có 264 doanh nghiệp giải thể và 946 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 57 doanh nghiệp giải thể và 233 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 21,59% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,63% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 87 doanh nghiệp giải thể và 331 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 32,95% và 34,99%; kinh doanh bất động sản có 16 doanh nghiệp giải thể và 22 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,06% và 2,33%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 9 doanh nghiệp giải thể và 44 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,41% và 4,65%; giáo dục và đào tạo có 28 doanh nghiệp giải thể và 18 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 10,61% và 1,90%;... c) Hoạt động xây dựng Đầu năm 2026, tỉnh Hưng Yên có 23 khu công nghiệp (KCN) được thành lập với tổng diện tích gần 5.900 ha và quy hoạch thêm 114 cụm công nghiệp. Ngay từ những ngày đầu năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thành lập mới thêm 5 - 8 KCN và đẩy mạnh xây dựng hạ tầng kỹ. Hưng Yên phấn đấu thành lập mới từ 5 - 8 KCN và giải phóng mặt bằng tối thiểu 1.000 ha để thu hút đầu tư, tập trung phát triển công nghiệp xanh và công nghệ cao. Phần lớn các khu, cụm công nghiệp này được quy hoạch đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật hiện đại, tích hợp các điều kiện thuận lợi về giao thông, từ đó tạo môi trường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến khảo sát và triển khai dự án sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Song song với phát triển hạ tầng công nghiệp, lĩnh vực phát triển nhà ở cũng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Thị trường bất động sản Hưng Yên bùng nổ với các dự án nhà ở lớn, tập trung vào phân khúc cao cấp và nhà ở xã hội (NOXH). Các dự án trọng điểm bao gồm: Masteri Era Landmark; Vinhomes Ocean Park 2&3; Khu đô thị Phố Nối; cùng các dự án NOXH mới tại Phố Hiến và các cụm công nghiệp;... Các dự án này đang trong quá trình đẩy mạnh thi công và đầu tư, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu đô thị hiện đại, góp phần chuyển dịch cơ cấu đô thị hóa và thúc đẩy phát triển ngành xây dựng tại địa phương. Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 (theo giá so sánh 2020) toàn tỉnh ước đạt 22.203 tỷ đồng, tăng 2.975 tỷ đồng (tăng 15,47%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công trình nhà ở 10.608 tỷ đồng, tăng 1.744 tỷ đồng (tăng 19,67%); công trình nhà không để ở 3.510 tỷ đồng, tăng 465 tỷ đồng (tăng 15,29%); công trình kỹ thuật dân dụng 6.629 tỷ đồng, tăng 593 tỷ đồng (tăng 9,83%); hoạt động xây dựng chuyên dụng 1.456 tỷ đồng, tăng 172 tỷ đồng (tăng 13,38%);... Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý I năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 29.901 tỷ đồng. Trong đó: công trình nhà ở 14.513 tỷ đồng; công trình nhà không để ở 4.802 tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng 9.069 tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng 1.515 tỷ đồng. Các dự án trọng điểm được triển khai trong quý 1/2026 như sau: Dự án tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng (tại Hưng Yên) có tổng vốn đầu tư gần 9.300 tỷ đồng. Đây là dự án giao thông nhóm A, dài hơn 55 km, đi qua 13 xã, phường và được khởi công từ tháng 8/2025, dự kiến hoàn thành vào năm 2027. Đến đầu tháng 3/2026, dự án cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng (GPMB) đất nông nghiệp, đất công ích, di chuyển mồ mả, đủ điều kiện bàn giao cho chủ đầu tư để tổ chức thi công với chiều dài tuyến 48,2km, diện tích 254,55ha. Khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái, sân golf Khoái Châu (Hưng Yên) là siêu dự án trị giá hơn 1,5 tỷ USD ( 39.700 tỷ đồng), được đầu tư bởi Tập đoàn Trump (Trump Organization) và đối tác Việt Nam. Dự án có diện tích hơn 888-990 ha, tập trung tại các xã Châu Ninh, Khoái Châu, Chí Minh, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Kết, Đông Ninh. Dự án được chia làm 4 tiểu khu, gồm: Khu dân cư sinh thái gắn với sân golf cao cấp (quy mô dân số 3.500 người); khu dân cư sinh thái gắn với sân golf sinh thái (quy mô dân số 1.800 người), khu đô thị thương mại dịch vụ (quy mô dân số 29.700 người); khu cây xanh, công viên chuyên đề. Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Hưng Phú với diện tích 209,08 ha, tổng vốn đầu tư 1.940 tỷ đồng. Khu công nghiệp Hưng Phú nằm trong Khu kinh tế Thái Bình (cũ) có vị trí chiến lược với lợi thế kết nối vượt trội khi tiếp giáp với vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; hệ thống hạ tầng giao thông kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố lớn trong khu vực như: tuyến đường cao tốc CT.08, tuyến đường bộ ven biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa. Vị trí này không chỉ giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận cảng biển lớn nhất miền Bắc và các sân bay quốc tế, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa và phát triển dịch vụ logistics. Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Thái Bình là một dự án điện khí quy mô lớn, với tổng vốn đầu tư hơn 47.000 tỷ đồng. Dự án đã chính thức được khở công xây dựng vào quý III năm 2025 tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (cũ) và vận hành thương mại trước năm 2030, có công suất 1.500MW, sử dụng LNG nhập khẩu làm nhiên liệu chính và dầu diesel làm nhiên liệu phụ. Dự án này không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho miền Bắc mà còn là dự án FDI lớn nhất của tỉnh Thái Bình (cũ), thúc đầy phát triển kinh tế xã hội và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Dự án hứa hẹn sẽ cung cấp nguồn năng lượng sạch và ổn định, góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực và đất nước. Dự án xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình quy mô 1.200 giường, có thể mở rộng lên 1.500 giường, đã được khởi công vào ngày 19/8/2025, trên khu đất 12 ha tại khu Trung tâm Y tế tỉnh, phường Trần Lãm. Dự án bao gồm nhiều hạng mục công trình chính, phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật, với tổng vốn đầu tư dự kiến ban đầu khoảng 2.733 tỷ đồng và có thể lên tới gần 4.700 tỷ đồng khi hoàn thiện đầy đủ cả trang thiết bị. Dự án này là một công trình y tế trọng điểm, nhằm giải quyết tình trạng quá tải, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và góp phần hoàn thiện mạng lưới y tế tỉnh Dự án tuyến đường từ thành phố Thái Bình (cũ) kết nối với trung tâm tỉnh Hưng Yên là dự án giao thông trọng điểm của tỉnh, góp phần hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy liên kết vùng, tạo hành lang kinh tế mới kết nối các khu công nghiệp, đô thị trong và ngoài tỉnh; Dự án này được triển khai trên địa bàn TP. Thái Bình, huyện Vũ Thư, huyện Đông Hưng và huyện Hưng Hà (nay là phường Thái Bình, xã Nam Tiên Hưng, xã Tiên Hưng, xã Hồng Minh, xã Hưng Hà, xã Tiên La và xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên).Tuyến có điểm đầu (Km0+00) tại nút giao giữa đường vào Khu công nghiệp TBS Sông Trà với Quốc lộ 10 (tuyến tránh S1), thuộc địa phận phường Thái Bình; điểm cuối Km24+800 tại đầu cầu vượt sông Luộc, thuộc địa phận xã Ngự Thiên với tổng chiều dài là 24,8 km. Tiến độ thực hiện Dự án là từ năm 2025 đến năm 2028 bằng nguồn Ngân sách trung ương hỗ trợ, ngân sách tỉnh. Dự án đầu tư xây dựng khu Bến cảng hàng lỏng Ba Lạt, tổng vốn đầu tư 278 tỷ đồng. Được khởi công tháng 6/2025 tại xã Nam Phú huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (cũ). Dự án bao gồm một bến chuyên dụng tiếp nhận tàu trọng tải đến 3.000 tấn, hệ thống kho bãi chứa hàng hóa lỏng như xăng dầu, hóa chất; hệ thống tiếp nhận, trung chuyển và đường ống công nghệ hiện đại, cùng các công trình kỹ thuật phụ trợ và hạ tầng giao thông kết nối trực tiếp với đường bộ ven biển và các khu công nghiệp trọng điểm. Dự án hoàn thành vào quý III/2026 4. Thương mại, dịch vụ Quý I năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ toàn tỉnh diễn ra sôi động do trong quý có Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Hiện hàng hóa lưu thông qua kênh bán lẻ truyền thống như chợ và cửa hàng nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, với xu hướng giảm dần số lượng chợ truyền thống, đồng thời các doanh nghiệp bán lẻ tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi, minimart và nền tảng thương mại điện tử thì dự báo các kênh bán lẻ hiện đại sẽ tăng mạnh trong thời gian tới. Tỉnh cũng đã triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm chất lượng hàng hóa và dịch vụ, minh bạch thông tin thị trường, tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống gian lận thương mại, khuyến khích tiêu dùng hàng Việt có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, tập trung phát triển thương mại điện tử bền vững, gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn dữ liệu và quản lý giao dịch trực tuyến. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 03 năm 2026 tỉnh Hưng Yên ước đạt 27.899 tỷ đồng, tăng 1,95% so với tháng trước và tăng 17,97% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung quý I năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 82.942 tỷ đồng, tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước và tăng trưởng khá ở hầu hết các nhóm ngành, lĩnh vực. Cụ thể như sau: Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Ba và quý I năm 2026 (theo giá hiện hành)                                                                        T3.2026 Quý I.2026 T3.2026 T3.2025 Quý I.2026Quý I.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 27.899 82.942 117,97 116,65 Thương nghiệp 15.203 44.878 116,86 117,52 DV lưu trú, ăn uống 1.250 3.681 116,34 115,41 DV du lịch lữ hành 6 19 107,50 111,52 Dịch vụ khác 11.440 34.364 119,67 115,68 Bán lẻ hàng hóa Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Ba ước đạt 15.203 tỷ đồng, chiếm 54,49% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 16,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 28,69%; hàng may mặc tăng 13,04%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 6,61%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 41,82%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,22%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 26,73%; xăng, dầu các loại tăng 22,68%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 34,65%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 34,37%; hàng hóa khác tăng 18,52%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 35,19%. Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có nhóm hàng giảm là nhóm phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 16,72%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,22% so cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 44.878 tỷ đồng, tăng 17,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 24,71%; hàng may mặc tăng 21,14%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 7,69%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 29,00%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 4,48%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 16,87%; xăng dầu các loại tăng 21,39%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 25,79%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 46,44%; hàng hóa khác tăng 18,15%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 26,86%. Dịch vụ lưu trú, ăn uống Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Ba năm 2026 ước đạt 1.250 tỷ đồng, tăng 1,77% so với tháng trước và tăng 16,34% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.681 tỷ đồng, tăng 15,41% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ lưu trú 107 tỷ đồng, tăng 13,51%; dịch vụ ăn uống 1.214 tỷ đồng, tăng 15,47%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trên địa bàn tỉnh trong ba tháng đầu năm tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, tạo tiền đề thuận lợi cho các tháng tiếp theo khi nhu cầu du lịch và tham quan tiếp tục gia tăng. Dịch vụ du lịch, lữ hành Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Ba ước đạt 6,4 tỷ đồng, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 11,52% so cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm mới, hoạt động du lịch tâm linh diễn ra sôi động, khi lượng khách đến tham quan, lễ bái tại các chùa, đền, di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh tăng trong dịp đầu năm. Tuy nhiên, đặc thù du lịch tại Hưng Yên chủ yếu là khách đi về trong ngày, quy mô tour chưa lớn. Việc tỉnh chủ trương đẩy mạnh triển khai các định hướng phát triển du lịch, tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch văn hóa - tâm linh cũng góp phần thu hút khách và hỗ trợ hoạt động lữ hành. Dịch vụ khác Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Ba năm 2026 ước đạt 11.440 tỷ đồng, tăng 3,06% so với tháng trước và tăng 19,67% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 10.125 tỷ đồng tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,55% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 459 tỷ đồng, tăng 6,68% so với tháng trước và tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 195 tỷ đồng, tăng 9,08% so với tháng trước và tăng 14,70% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 259 tỷ đồng, tăng 11,13% so với tháng trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí ước đạt 68 tỷ đồng giảm 2,18% so với tháng trước và tăng 13,42%; dịch vụ khác ước đạt 332 tỷ đồng, tăng 1,32% so với tháng trước và tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 34.364 tỷ đồng, tăng 15,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,78% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,31% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 10,86%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 10,01%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 11,35%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 13,92%; dịch vụ khác tăng 10,42%. Sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các ngành dịch vụ và thị trường bất động sản đã hoạt động trở lại và có xu hướng tăng trưởng khá. Đặc biệt, đối với ngành kinh doanh bất động sản, các hoạt động giao dịch, giới thiệu sản phẩm và triển khai dự án đã dần sôi động hơn khi thị trường bước vào chu kỳ hoạt động bình thường, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gia tăng rủi ro đối với ổn định kinh tế toàn cầu, tác động lớn đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng. Giá xăng dầu tăng mạnh đã tác động làm tăng chi phí sản xuất, vận chuyển hàng hóa dẫn đến giá nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tăng, góp phần làm chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Ba tăng 1,24%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,02%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 13,60%; thông tin và truyền thông tăng 0,25%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,14%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,03%. Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,61%, chủ yếu do chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,90% so với tháng trước (gạo tẻ thường tăng 0,88%; gạo tẻ ngon tăng 1,07%; gạo nếp tăng 0,32%); chỉ số giá nhóm bún, phở, bánh đa tăng 0,33% do do ảnh hưởng từ giá gạo tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,06% do: Nhóm thịt gia súc tăng 1,00% (trong đó nhóm thịt lợn tăng 1,12%; thịt bò tăng 0,65%); nhóm thịt chế biến tăng 0,32%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,14% do giá thịt thương phẩm tăng. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%, nguyên nhân chủ yếu do giá một số mặt hàng như nước khoáng có ga; nước quả ép; nước đóng chai; rượu mạnh; rượu vang; thuốc lá; thuốc lào tăng so với tháng trước do sự điều chỉnh giá của nhà sản xuất. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,25%, chủ yếu do: giá dầu hỏa tăng mạnh 63,63% theo điều chỉnh giá của Bộ Công thương vào các ngày trong tháng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,23% tăng ở các mặt hàng các đen san lấp, cát vàng xây dựng,... giá điện sinh hoạt tăng 0,26%; giá nước sinh hoạt tăng 0,62%. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 13,60%, chủ yếu do nhóm phương tiện đi lại và giá xăng, dầu tăng mạnh. Giá xăng, dầu trong tháng tăng theo các kỳ điều chỉnh, do ảnh hưởng của giá nhiên liệu thế giới tăng. Việc giá xăng, dầu tăng mạnh đã tác động trực tiếp làm chi phí đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng, dẫn đến chỉ số giá nhóm giao thông tăng so với tháng trước. Trong tháng 3/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 09 đợt vào các ngày 05/3; 10/3; 11/3; 12/3; 17/3; 19/3; 24/3; 25/3 và 27/3. Theo đó giá nhiên liệu tăng mạnh 25,15%; giá xăng tăng 25,37%; giá dầu diesel 0,05 tăng 63,91%. Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,25%, chủ yếu do nhóm thiết bị thông tin tăng 0,26% (các mặt hàng ti vi, máy tính, máy chiếu,... tăng giá). Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,14%, chủ yếu do giá các dịch vụ du lịch trọn gói trong và ngoài nước tăng do nhu cầu đi du lịch tăng; chỉ số giá in ảnh, chụp ảnh tăng 3,69%; chỉ số giá thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,18%; chỉ số giá giải trí tăng 0,28%. So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 2,57%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,20%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,29%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,72%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,66%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; giao thông tăng 12,15%; thông tin và truyền thông tăng 0,59%; giáo dục tăng 0,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,12%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,21%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 4,16%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,69% (lương thực tăng 0,73%; thực phẩm tăng 5,11%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,08%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,30%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,36%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,11%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,20%; giao thông tăng 10,78%; thông tin và truyền thông tăng 0,85%; giáo dục tăng 1,26%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,31%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,03%. Bình quân chung quý I năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,00% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,89%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,14%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,65%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,96%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; giao thông tăng 0,36%; thông tin và truyền thông tăng 0,59%; giáo dục tăng 1,19%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,21%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,90%. Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,72% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản và rau củ có xu hướng tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,96% do giá các loại lương thực, thực phẩm, chi phí điện nước, nhiên liệu, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng cao dẫn đến giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,65% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê và các loại nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,26%; giá các loại vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,44% so với cùng kỳ. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước, do giá dịch vụ khám chữa bệnh được điều chỉnh theo lộ trình và khung giá quy định của Nhà nước nhằm từng bước tính đúng, tính đủ chi phí. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào phục vụ hoạt động y tế như nhân công, trang thiết bị, vật tư y tế và chi phí vận hành cơ sở khám chữa bệnh tăng, góp phần làm giá dịch vụ y tế tăng so với cùng kỳ. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,83% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa đông, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 3,21% so với cùng kỳ, do giá các loại như hoa tươi, cây cảnh, vật cảnh, giá vé xem phim ca nhạc và các trò chơi, giá vé du lịch trọn gói, giá khách sạn tăng. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 3/2026 tăng 1,42% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá vàng thế giới. Trong nước, chênh lệch cung - cầu vàng miếng vẫn ở mức cao, cùng với tâm lý nắm giữ vàng của người dân tăng, khiến giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến chung của thị trường. Hiện giá vàng đang ở mức cao nhất trong mấy năm trở lại đây, bình quân tháng 3/2026 giá vàng xấp xỉ 18.143.000 VNĐ/chỉ. Tháng 3/2026, tỷ giá USD trong nước biến động tăng theo xu hướng tăng của đồng USD trên thị trường quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu do căng thẳng địa chính trị leo thang tại Trung Đông làm tăng nhu cầu trú ẩn an toàn vào USD, đồng thời giá năng lượng tăng mạnh gây áp lực lên tỷ giá USD. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 3/2026 tăng 0,93% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1USD xấp xỉ 26.230 VNĐ. c) Chỉ số giá sản xuất Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Ba giảm 0,95% so với tháng trước và tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 1,17% và tăng 0,99%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 8,04% và tăng 49,78%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,30% và tăng 3,50%. So với tháng trước, chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu tháng Ba năm 2026 như sau: thóc khô giảm 0,26%; ngô giảm 0,19%; khoai tây giảm 2,32%; lạc giảm 0,22%; rau lấy lá giảm 0,53%; rau họ đậu giảm 1,31%; rau lấy củ, lấy rễ, lấy thân giảm 0,82%; hoa các loại giảm 3,08%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới giảm 3,95%; cam, quýt và các loại quả có múi giảm 0,28%; nhãn, vải chôm chôm tăng 0,91%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 5,36%; sản phẩm chăn nuôi trâu bò giảm 0,26%; lợn giảm 2,96%; sản phẩm chăn nuôi gà giảm 0,51%; cá ngừ tăng 1,44%; cá thu tăng 1,71%; cá nục tăng 2,52%; tôm khai thác biển tăng 0,88%; cá khai thác nội địa giảm 0,25%; tôm khai thác nội địa tăng 0,90%;... Quý I năm 2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,37% so với quý trước và tăng 0,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,21% và tăng 0,67%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 30,43% và tăng 40,75%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 2,03% và tăng 2,36%. Chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu quý I năm 2026 so với quý trước như sau: thóc khô tăng 0,39%; ngô tăng 1,32%; khoai tây giảm 2,93%; lạc tăng 1,46%; rau lấy lá giảm 1,65%; rau họ đậu tăng 1,01%; hoa các loại tăng 3,27%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 10,43%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 2,03%; lợn tăng 5,50%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 3,89%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 2,98%; cá khai thác nội địa tăng 0,67%; tôm khai thác nội địa tăng 1,34%; cá nuôi nội địa tăng 2,76%; tôm nuôi nội địa tăng 4,55%;... Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Ba năm 2026 tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,56% và tăng 2,05%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,22% và giảm 3,00%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,08% và tăng 0,88%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 0,91%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 0,77%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 1,00%; sản phẩm may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) tăng 1,96%; giày dép tăng 0,61%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 7,67%; dịch vụ liên quan đến in tăng 1,28%; sản phẩm vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 3,29%; sản phẩm gang, sắt thép tăng 1,28%; băng đĩa từ tính và quang học tăng 5,26%; pin và ắc quy tăng 22,29%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 4,26%; điện sản xuất tăng 3,35%; điện mặt trời tăng 5,29%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 2,21%;... Bên cạnh đó một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: cà phê giảm 9,23%; sợi giảm 0,85%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 1,68%; trang phục dệt, kim, đan, móc giảm 0,81%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 1,57%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 4,42%; plastic và cao su dạng tổng hợp nguyên sinh giảm 1,81%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu giảm 0,82%; sản phẩm điện tử dân dụng giảm 0,78%;... Quý I năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 0,30% so với quý trước và tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,28% và tăng 1,96%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,29% và tăng 0,61%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,36% và tăng 0,56%. So với quý trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,24%; thực phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 1,60%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,87%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 3,42%; dịch vụ liên quan đến in tăng 3,76%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 4,08%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 2,56%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 11,92%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 3,63%; pin và ắc quy tăng 10,43%; dây, cáp điện và điện tử tăng 18,63%; thiết bị dây dẫn điện các loại tăng 3,14%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,85%; mô tô, xe máy tăng 3,89%; điện sản xuất tăng 7,82%; điện mặt trời tăng 8,90%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 1,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 2,58%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: đồ uống không cồn, nước khoáng giảm 0,79%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 3,13%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 1,87%; sản phẩm khác từ cao su giảm 3,2%; sản phẩm từ plastic giảm 3,18%; máy thông dụng khác giảm 1,05%; đồ giả kim hoàn và chi tiết có liên quan giảm 1,32%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 1,49%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 1,13%;... 6. Hoạt động vận tải, kho bãi Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Ba năm 2026 ước đạt 2.515 tỷ đồng, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 25,20% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 7.409 tỷ đồng, tăng 20,92% so cùng kỳ năm trước. Qua khảo sát tại nhiều cơ sở hoạt động vận tải cho thấy, từ đầu năm đến nay, các cơ sở nhận được nhiều hợp đồng vận chuyển, các đầu xe thường chạy tối đa công suất nên doanh thu quý I năm nay tăng tương đối khá so với các kỳ trước. Bên cạnh đó, tình hình chiến sự ở các nước Trung Đông ngay từ tuần đầu tháng Ba đã gây ảnh hưởng mạnh đến giá xăng dầu trong nước, làm tác động trực tiếp đến chi phí vận tải cũng như doanh thu đối với hoạt động này trong thời gian qua. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Ba năm 2026 ước đạt 6,6 triệu lượt người vận chuyển và 601 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 2,68% về lượt người vận chuyển, tăng 2,22% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 25,37 về lượt người vận chuyển, tăng 25,64% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 467 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 27,69% so cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 18,77 triệu lượt người vận chuyển và 1.707 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 19,04% về lượt người vận chuyển và tăng 18,14% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.317 tỷ đồng, tăng 18,74% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Ba năm 2026 ước đạt 6,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.851 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt giảm 1,97% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 3,05% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 23,10 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 22,68% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.829 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 20,39 triệu tấn vận chuyển và 5.482 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 19,87% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 19,97% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.443 tỷ đồng, tăng 22,69% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Ba năm 2026 ước đạt 192 tỷ đồng, tăng 1,50% so với tháng trước và tăng 15,78% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 567 tỷ đồng, tăng 9,05% so với cùng kỳ năm trước.  Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Ba năm 2026 ước đạt 27 tỷ đồng, giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 25,69% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 82 tỷ đồng, tăng 32,93% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách tháng Ba ước đạt 4.787 tỷ đồng, giảm 3,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa 4.260 tỷ đồng, giảm 3,92%; thuế xuất nhập khẩu 527 tỷ đồng, tăng 0,03%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: Thu từ doanh nghiệp nhà nước 50 tỷ đồng, giảm 48,18%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 297 tỷ đồng, tăng 43,39%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.295 tỷ đồng, giảm 10,93%; thu thuế thu nhập cá nhân 223 tỷ đồng, giảm 27,43%; các khoản thu về đất 2.216 tỷ đồng, tăng 4,87%;... Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng 3 và quý I năm 2026 T3.2026(Tỷ đồng) Quý I.2026(Tỷ đồng) T3.2026T3.2025(%) Quý I.2026Quý I.2025(%) Tổng số 4.787 18.503 96,50 123,58 Thu nội địa 4.260 17.031 96,08 125,66 Tr. đó: Thu từ đất 2.216 6.533 104,87 150,80 Thu Hải quan 527 1.472 100,03 103,71 Quý I năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 18.503 tỷ đồng, tăng  23,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 17.031 tỷ đồng, tăng 25,66%; thuế xuất nhập khẩu 1.472 tỷ đồng, tăng 3,71%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 278 tỷ đồng, tăng 34,94%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.595 tỷ đồng, tăng 30,06%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 6.709 tỷ đồng, tăng 8,19%; thu lệ phí trước bạ 470 tỷ đồng, tăng 64,17%; thuế thu nhập cá nhân 930 tỷ đồng, tăng 1,88%; các khoản thu về đất 6.533 tỷ đồng, tăng 50,80%. b) Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước tháng Ba năm 2026 ước đạt 17.219 tỷ đồng, tăng 461,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 14.777 tỷ đồng, tăng 1.007,35%; chi thường xuyên 2.442 tỷ đồng, tăng 40,82%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 32 tỷ đồng, giảm 51,10%; chi giáo dục, đào tạo 839 tỷ đồng, tăng 15,85%; chi sự nghiệp y tế 208 tỷ đồng, giảm 22,69%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 29 tỷ đồng, giảm 21,25%; chi đảm bảo xã hội 587 tỷ đồng, tăng 404,72%; chi quản lý hành chính 520 tỷ đồng, tăng 37,71%;... Quý I năm 2026, chi ngân sách nhà nước ước đạt 22.791 tỷ đồng, tăng 44,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 16.599 tỷ đồng, tăng 53,42%; chi thường xuyên 6.192 tỷ đồng, tăng 24,96%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 56 tỷ đồng, giảm 50,74%; chi giáo dục, đào tạo 2.257 tỷ đồng, tăng 6,27%; chi sự nghiệp y tế 374 tỷ đồng, giảm 18,55%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 53 tỷ đồng, giảm 35,06%; chi đảm bảo xã hội 1.759 tỷ đồng, tăng 211,02%; chi quản lý hành chính 1.294 tỷ đồng, tăng 3,64%. c) Hoạt động ngân hàng Trong tháng 3/2026, hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tích cực thực hiện các biện pháp huy động vốn, thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Ước tính đến 31/3/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 312.500 tỷ đồng, tăng 1,03% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 308.500 tỷ đồng, tăng 0,42% và chiếm 98,72% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.000 tỷ đồng, tăng 91,57% và chiếm 7,68%.   Trong tháng qua, các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã đẩy mạnh hoạt động cho vay, gia tăng thêm lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/3/2026 đạt 267.500 tỷ đồng, tăng 0,98% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.000 tỷ đồng, tăng 0,13%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 75.500 tỷ đồng, tăng 3,20%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 260.300 tỷ đồng, tăng 0,68%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.200 tỷ đồng, tăng 12,94%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 173.100 tỷ đồng, tăng 0,64% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 112.800 tỷ đồng, tăng 0,36%; xuất khẩu 1.705 tỷ đồng, tăng 5,25%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.000 tỷ đồng, tăng 1,05%; công nghiệp hỗ trợ 5.400 tỷ đồng, tăng 1,12%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 195 tỷ đồng, tăng 2,63% so với thời điểm 31/12/2025. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,65% dư nợ tín dụng), giảm 7,065% so với thời điểm 31/12/2025. d) Bảo hiểm xã hội Tổng số người tham gia BHXH lũy kế đến tháng 02/2026 là 632.058 người, giảm 1.392 người, tương ứng giảm 0,22% so với tháng trước và tăng 59.724 người, tương ứng tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: BHXH bắt buộc 551.659 người, giảm 215 người (giảm 0,04%) so với tháng trước, tăng 54.287 người (tăng 10,91%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 80.399 người, giảm 1.177 người (giảm 1,44%) so với tháng trước, tăng 5.437 người (tăng 7,25%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 49,93% so với lực lượng lao động, tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 94,89% dân số. Tổng số người tham gia BHTN lũy kế đến tháng 02/2026 là 533.226 người, giảm 317 người (giảm 0,06%) so với tháng trước, tăng 55.242 người (tăng 11,56%) so với cùng kỳ năm trước. Tổng số người tham gia BHYT là 2.792.774 người, tăng 6.540 người (tăng 0,23%) so với tháng trước, tăng 17.713 người (tăng 0,64%) so với cùng kỳ năm trước. Tính đầu năm đến hết tháng 02/2026, toàn tỉnh thu BHXH, BHYT, BHTN được 1.475 tỷ đồng, đạt 8,3% kế hoạch BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 02/2025 đạt 970 tỷ đồng, luỹ kế chi từ đầu năm đã chi là 1.957 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách Nhà nước 279 tỷ đồng, luỹ kế 561 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 691 tỷ đồng, luỹ kế 1.398 tỷ đồng; chi trợ cấp thất nghiệp 27 tỷ đồng, lũy kế 55 tỷ đồng. Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng khoảng 209 tỷ đồng; luỹ kế từ đầu năm đã chi 502 tỷ đồng, tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 207 tỷ đồng; chi KCB nội trú 295 tỷ đồng. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội a) Đời sống dân cư, lao động việc làm Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 rơi vào tháng Hai. Dịp Tết vừa qua, Nhân dân trong tỉnh đã đón Tết trong không khí đầm ấm, vui tươi, an toàn, lành mạnh. Công tác an sinh xã hội được chú trọng, thực hiện chu đáo, bài bản. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng cao. Trong quý I năm 2026, toàn tỉnh tiếp tục đồng lòng phát huy những kết quả nổi bật đã đạt được, công tác quản lý nhà nước được nâng cao; các hoạt động văn hóa thể thao diễn ra sôi nổi, rộng khắp; thực hiện nếp sống văn minh; bảo đảm giữ vững ổn định chính trị; việc sản xuất, kinh doanh thuận lợi. Trong tháng 3, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.200 lao động, trong đó có 610 lao động đi làm việc ở nước ngoài; ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 382 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 2.852 lượt người; tổ chức 01 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 03 doanh nghiệp và 39 người lao động. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm 15.320 lao động, trong đó xuất khẩu lao động là 1.290 người. Ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 2.035 người, số người được tư vấn giới thiệu việc làm 6.295 người; tổ chức 03 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 15 doanh nghiệp, 130 người lao động; xin ý kiến dự thảo Bản thỏa thuận hợp tác (MOU) chương trình lao động thời vụ, ký kết với Chính quyền các địa phương của Hàn Quốc; thông báo kế hoạch tuyển chọn lao động Quý I năm 2026 theo Chương trình EPS và danh sách người lao động được doanh nghiệp Hàn Quốc lựa chọn theo Chương trình trình EPS. Xác nhận việc gửi bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 107 lao động. Đến nay, tỉnh đã ban hành Nghị quyết về phát triển lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, chuyển đổi số tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Triển khai Kế hoạch hỗ trợ, phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026; tiếp và làm việc với Công ty TNHH Letuin High-Tech Việt Nam giới thiệu hợp tác lĩnh vực đào tạo nhân lực nghề bán dẫn; tiếp tục phối hợp triển khai các nội dung, hoạt động theo Chương trình EPS, chương trình đưa người lao động đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản. Tỉnh tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 1900 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 1.088 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 477 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Thực hiện thu hồi GPLĐ của 156 người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 110 lượt doanh nghiệp. Xác nhận cho 231 lượt doanh nghiệp sử dụng 1.687 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 12 lượt doanh nghiệp với 6.316 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 37 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm. Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã khắc phục khó khăn, chủ động thích nghi, điều chỉnh linh hoạt, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo việc làm cho người lao động, đảm bảo tiền lương và thu nhập ổn định, thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; các doanh nghiệp đã điều chỉnh thang lương, bảng lương và trả lương cho người lao động năm 2025 không thấp hơn mức quy định. Ngoài tiền lương, các doanh nghiệp còn thực hiện chế độ phụ cấp (chức vụ, trách nhiệm, hỗ trợ tiền xăng xe, điện thoại, con nhỏ,...) cho người lao động; thu nhập bình quân của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp cao hơn mức lương tối thiểu vùng đang áp dụng trên địa bàn. Không có tình trạng doanh nghiệp nợ lương người lao động. Tiền lương bình quân chung năm 2025 là 7.500.000 đồng/người/tháng, thu nhập bình quân năm 2025 là 8.000.000 đồng/người/tháng; mức tiền lương cao nhất là 300.000.000 đồng/người/tháng. Về tình hình tiền thưởng Tết năm 2026: mặc dù còn nhiều khó khăn, song nhiều doanh nghiệp đã cố gắng duy trì để có một khoản thưởng Tết nhằm động viên người lao động. Cụ thể: có trên 200 doanh nghiệp báo cáo tiền lương, tiền thưởng; mức thưởng Tết Dương lịch bình quân là 500.000 đồng/người, mức cao nhất là 25 triệu đồng/người của Công ty Dorco Vina (địa chỉ: KCN Phố Nối A, xã Lạc Đạo, tỉnh Hưng Yên); mức thưởng Tết Âm lịch bình quân dao động từ 6,5 triệu đồng/người đến 8 triệu đồng/người, mức cao nhất là 300 triệu đồng/người của Công ty Cổ phần tập đoàn Merap (địa chỉ: thôn Bá Khê, xã Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). b) An sinh xã hội Công tác người có công: Tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Toàn tỉnh đã tặng 222.634 suất quà cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 137.249 triệu đồng, trong đó: có 106.413 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 32.650 triệu đồng; 116.221 suất quà của Tỉnh cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 104.599 triệu đồng. Các Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đã đi thăm, tặng quà 07 cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh; 150 người có công, thân nhân liệt sĩ tại gia đình và các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công. Việc thực hiện chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được tổ chức kịp thời. Trong tháng 3 năm 2026, tỉnh đã tiếp nhận khoảng 4 1.100 lượt hồ sơ, giải quyết khoảng 1.200 lượt hồ sơ. Tính chung quý I năm 2026, tỉnh tiếp nhận khoảng 3.500 lượt hồ sơ, giải quyết khoảng 3.800 lượt hồ sơ. 100% hồ sơ được giải quyết trước hạn và đúng hạn. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Công tác hộ nghèo, hộ cận nghèo: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2025 tỉnh Hưng Yên: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 10.335 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 0,99%; tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh 12.134 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 1,16% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025). Đến ngày 14/02/2026, số suất quà đã được tặng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 là 46.919 suất với tổng kinh phí trên 28,22 tỷ đồng (trong đó 29.537 suất quà cho hộ nghèo, kinh phí trên 18,4 tỷ đồng; 17.382 suất quà cho hộ cận nghèo, kinh phí trên 9,8 tỷ đồng). 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh đều nhận được quà nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Công tác giảm nghèo được triển khai đồng bộ; đã hướng dẫn các xã, phường cập nhật cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia; đồng thời tổng hợp, hoàn thiện dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo năm 2026 theo quy định. Thực hiện báo cáo kết quả chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2025 và xây dựng phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Trong tháng 3 năm 2026, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh đề nghị phê duyệt Đề án "Giảm nghèo bền vững tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026 - 2030”; Triển khai hệ thống cập nhật cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025; đăng ký báo cáo Đề án giảm nghèo bền vững tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030; tình hình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình Công tác người cao tuổi: Tổng số người cao tuổi được chúc thọ, mừng thọ trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là 93.791 người, với tổng kinh phí khoảng 57 tỷ đồng. Tỉnh tổ chức các hoạt động chăm lo cho trẻ em nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Tổ chức Chương trình “Mùa xuân cho em” tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Tổ chức các hoạt động thăm, tặng, trao học bổng quà cho 591 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn với tổng kinh phí 226.800.000 đồng. 3. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Quý I năm 2026, toàn tỉnh đã tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước, trọng tâm là: mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội diễn ra từ ngày 19/01 - 23/01/2026); chào mừng 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026); bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử HĐND các cấp (diễn ra vào ngày 15/3/2026);... Tỉnh tổ chức thành công một số lễ hội tiêu biểu năm 2026 như: lễ hội chùa Keo mùa xuân năm 2026; Lễ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập vương triều Trần và Lễ hội Đền Trần, xã Long Hưng; Lễ hội truyền thống đền Mây và đền Kim Đằng, phường Sơn Nam; Triển lãm thư pháp, hát ca trù và cho chữ đầu xuân tại Văn Miếu Xích Đằng. Phối hợp với Ban chuyên đề - khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện chương trình “Giải mã cuộc sống” với nội dung “Bộ sưu tập tượng đất tại chùa Nôm”. Xuất bản cuốn sách “Lễ hội truyền thống khu di tích Phố Hiến”. Tổ chức trưng bày chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”, “80 năm - Dấu ấn Quốc hội Việt Nam(1946-2026)”, “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”, “Hội báo Xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026”, “Xuân về qua bộ sưu tập tranh Tứ Bình”. Phối hợp thực hiện chương trình “Vui xuân Bính Ngọ - Sắc màu văn hóa Hưng Yên” tại Bảo tàng Dân tộc học; phối hợp tổ chức trình diễn và giao lưu Thư pháp;... Toàn tỉnh đã in, treo 1.700m2 pano, cụm tranh cổ động tuyên truyền các sự kiện chính trị; tổ chức 44 buổi tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô trên địa bàn tỉnh; tổ chức Chương trình nghệ thuật quần chúng “Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm (Đêm Giao thừa); tổ chức trình diễn Di sản văn hóa hát Chèo, Trống Quân, Ca Trù, Xẩm; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể hát Ca trù năm 2026. Hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá - Câu lạc bộ tại cơ sở. Thư viện tỉnh tổ chức 04 cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương; trưng bày, giới thiệu sách báo, tài liệu phục vụ Hội thảo khoa học - thực tiễn (phục dựng, tái hiện, hồi sinh di sản Phố Hiến gắn với kiến tạo hệ sinh thái du lịch sáng tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay); trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu sách báo mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền trực quan tại Thư viện tỉnh với nhiều ấn phẩm báo chí và các mô hình sách nghệ thuật, thu hút được đông đảo bạn đọc đến thăm quan và tìm hiểu; biên soạn 05 bài giới thiệu sách chuyên đề: tổ chức trao đổi Báo Xuân với 33 tỉnh, thành; tổ chức Thư viện lưu động phục vụ tại 04 Trường Tiểu học và THCS với 2.710 lượt học sinh tham gia, trên 3.500 lượt tài liệu được luân chuyển, tặng 100 bản sách cho học sinh. Nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh tổ chức 34 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026. Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 318 buổi chiếu phim (68 buổi lưu động, 250 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. b) Hoạt động thể dục thể thao Về thể dục thể thao cho mọi người: Trong quý I năm 2026, phong trào tập luyện thể dục thể thao ở các cấp, các ngành tiếp tục được duy trì và phát triển; cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện được đầu tư, củng cố. Toàn tỉnh đã tổ chức thành công 04 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh (Hội thao chào mừng năm mới 2026; Giải Lân - Sư - Rồng các CLB tỉnh Hưng Yên mở rộng lần thứ I; Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; vô địch trẻ Vật dân tộc, Vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; Cờ vua, Cờ tướng các câu lạc bộ). Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: cơ quan chuyên môn đã tổ chức đánh giá, thải loại, tuyển vận động viên đảm bảo sĩ số 515 vận động viên ở 18 môn thể thao; tổ chức đào tào, huấn luyện, chuẩn bị lực lượng vận động viên sẵn sàng tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế; tổ chức kiểm tra y học, kiểm tra thể lực chung đối với VĐV các môn thể thao trong giai đoạn chuyển tiếp 2025-2026. Xây dựng lực lượng, cử các đoàn vận động viên tập huấn chuẩn bị tham gia thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026, gồm các môn: Vật, Điền kinh, Cử tạ, Bơi lặn, Boxing, Bóng chuyền nữ, Taekwondo, Đua thuyền, Jujitsu, Pencak Silat, Karate, Kickboxing, Muay, Võ cổ truyền, Cầu lông, Wushu. Đồng thời triển khai kế hoạch tập huấn, tham dự các giải thể thao quốc gia, gồm: Đua thuyền Rowing vô địch các tay chèo xuất sắc quốc gia; Vô địch và Vô địch trẻ Vật bãi biển quốc gia; Vô địch Cử tạ Thanh thiếu niên quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Karate quốc gia khu vực miền Bắc; Giải Đua thuyền Canoeing vô địch các tay chèo xuất sắc quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Võ thuật tổng hợp quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Sambo quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Pencak Silat quốc gia; Bơi lặn;... Vận động viên Vũ Thị Minh Anh (môn Wushu) được triệu tập vào Đội tuyển quốc gia tham dự Giải vô địch Wushu trẻ thế giới năm 2026 tổ chức tại Trung Quốc; vận động viên Nguyễn Hải Long (môn Taekwondo) được triệu tập Đội tuyển Taekwondo trẻ quốc gia. Trong quý I năm 2026, đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu Giải Vô địch các Câu lạc bộ Muay quốc gia, đạt 01 HCV, 03 HCB, 01 HCĐ. c) Hoạt động du lịch Tỉnh tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch: Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Hà Nội; lễ hội đền Phù Ủng; lễ hội Đền Trần năm 2026; lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Xây dựng bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên (Logo huy hiệu cài áo, túi du lịch Hưng Yên, ảnh đẹp du lịch, móc treo chìa khoá). Tổ chức “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh năm 2026” đợt I với chủ đề Kết nối Di sản, lan tỏa hào khí Đông A; xây dựng kịch bản, thực hiện ghi hình 02 phim, trailer: Quảng bá Du lịch Hưng Yên, Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung; phối hợp với đài Truyền hình Việt Nam ghi hình 02 phim quảng bá du lịch Hưng Yên trong chương trình Around Việt Nam “Theo dấu linh thiêng hào khí Đông A”, “Hành trình tâm linh - Một miền văn hóa”; phối hợp Trung tâm PT-TH Quân đội sản xuất chương trình "Ký sự ẩm thực" tại tỉnh Hưng Yên; xây dựng Clip quảng bá lễ hội Đồng Tử - Tiên Dung; khảo sát học tập kinh nghiệm, liên kết phát triển tour, tuyến du lịch Hưng Yên - Ninh Bình; phối hợp với Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình và Sở VHTTDL tỉnh Cà Mau tổ chức Hội nghị xúc tiến du lịch bên lề Hội chợ VITM Hà Nội 2026; phối hợp với Xí Nghiệp Đầu tư và Phát triển du lịch sông Hồng tổ chức đón và hướng dẫn đoàn khách tour du lịch sông Hồng; đón và hướng dẫn trên 500 khách về tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh (Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến, quần thể di tích làng Nôm; đền Đa Hoà); tăng cường tuyên truyền đảm bảo công tác an ninh trật tự; vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ và hoạt động kinh doanh tại Khu du lịch sinh thái Cồn Vành. Duy trì hiệu quả Cổng thông tin du lịch thông minh tỉnh Hưng Yên; xây dựng và đặt 14 bảng quét QRcode thông tin du lịch tại các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh. 4. Giáo dục, đào tạo Các đơn vị, cơ sở giáo dục trong tỉnh tăng cường tuyên truyền Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; bảo đảm an ninh, an toàn trong dịp Tết, không xảy ra tình trạng cháy, nổ, đốt pháo nổ tại cơ sở giáo dục; đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ với tinh thần vui tươi, thiết thực, tiết kiệm, lành mạnh, an toàn, giữ gìn nét đẹp truyền thống văn hóa của quê hương, dân tộc; tích cực tham gia Tết trồng cây xuân Bính Ngọ năm 2026. Toàn tỉnh hiện có 498 trường mầm non GDMN và 290 nhóm, lớp mầm non độc lập tư thục; tổng số 7.399 nhóm, lớp, trong đó có 2.252 nhóm trẻ và 5.147 lớp mẫu giáo. 100% các trường mầm non tổ chức nuôi ăn bán trú, thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ và theo dõi sự tăng trưởng của trẻ. Tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em: Tỷ lệ suy sinh dưỡng thể nhẹ cân: Trẻ nhà trẻ 1,5%; Mẫu giáo 1,8%; Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi: Trẻ nhà trẻ 3,13%; Mẫu giáo 2,4%; Trẻ thừa cân, béo phì: Trẻ nhà trẻ 1,0%; Mẫu giáo 2,73%. Toàn tỉnh có 720 cơ sở giáo dục phổ thông. Trong đó: có 197 trường Tiểu học, 451 trường có cấp THCS (có 187 trường THCS, 255 trường TH&THCS, 01 trường THCS&THPT, 08 trường TH, THCS&THPT) và 72 trường THPT (tính cả trường có cấp THPT là 81 trường). Toàn tỉnh có 577.309 học sinh với tổng số 15.547 lớp. Trong đó: có 254.518 học sinh Tiểu học với 7.535 lớp; 216.118 học sinh THCS với 5.510 lớp; 106.673 học sinh THPT với 2.502 lớp. Tỉnh tổ chức cuộc thi Hùng biện tiếng Anh cấp THPT; cuộc thi nghiên cứu Khoa học, kĩ thuật dành cho học sinh THCS và THPT. Triển khai Hội thi an toàn giao thông cho học sinh và giáo viên cấp THCS, cấp THPT năm học 2025-2026 theo hướng dẫn của Bộ GDĐT. Các cuộc thi đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tại các cơ sở giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018. Các cơ sở giáo dục đã tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch tổ chức các hoạt động khắc phục tình trạng phát âm nhầm lẫn 2 phụ âm đầu L-N cho cán bộ, giáo viên; tình trạng phát âm, viết chính tả nhầm lẫn 2 phụ âm đầu L-N cho học sinh ngành GDĐT tỉnh Hưng Yên năm học 2025-2026. Tổ chức thành công các lớp tập huấn cho khoảng 2.240 giáo viên dạy ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 đối với các bộ môn: Ngữ văn; Toán; Tiếng Anh; Vật lí; Hóa học; Sinh học; Lịch sử; Địa lí; Giáo dục kinh tế và pháp luật. Tại Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026, tỉnh Hưng Yên có 125 học sinh đoạt giải, bao gồm 16 giải Nhì, 32 giải Ba và 77 giải Khuyến khích. Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2025-2026: kết quả: 1.926/3.172 thí sinh đoạt giải (60%), 143 giải Nhất, 373 giải Nhì, 591 giải Ba, 819 giải Khuyến khích. Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh năm học 2025-2026; kết quả: 2.358 học sinh đoạt giải, 179 giải Nhất, 467 giải Nhì, 726 giải Ba, 986 giải Khuyến khích. Tỉnh tổ chức Giải thể thao học sinh phổ thông năm 2026 các môn: Cờ vua, Cầu lông, Bóng bàn, Điền kinh. Toàn tỉnh có 18 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên với 373 lớp, 19.086 học sinh, giảm 02 đơn vị từ khi hợp nhất 2 tỉnh. Trên địa bàn tỉnh hiện có 03 cơ sở giáo dục cho người khuyết tật; gồm: 2 cơ sở công lập (Trường Trung cấp cho người khuyết tật Thái Bình và Trường Giáo dục chuyên biệt Hưng Yên); 1 cơ sở tư thục là Trung tâm giáo dục hòa nhập Phúc Minh. Hiện có trên 88% trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập tại các trường mầm non, riêng trẻ từ 5 tuổi trở lên đã huy động được trẻ học hòa nhập, đạt tỷ lệ 99,6%. Hiện nay, tỉnh Hưng Yên có 48 cơ sở GDNN, bao gồm 34 cơ sở công lập, 14 cơ sở tư thục (có 14 trường cao đẳng, 10 trường trung cấp, 18 trung tâm GDNN - Giáo dục thường xuyên và 06 trung tâm GDNN). Một số cơ sở GDNN đã chủ động đổi mới chương trình đào tạo, đầu tư trang thiết bị và chuyển đổi sang đào tạo theo chuẩn đầu ra, gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Một số nghề trọng điểm như cơ khí chế tạo, điện - điện tử, công nghệ ô tô, kỹ thuật điều khiển - tự động hóa, may công nghiệp, nông nghiệp đã được công nhận đạt chuẩn khu vực hoặc quốc gia. Nhiều cơ sở đã áp dụng phương pháp giảng dạy mô phỏng thực tế, công nghệ số, từng bước chuyển đổi sang mô hình học nghề thông minh. 5. Hoạt động y tế Sau khi sáp nhập, hạ tầng y tế trên địa bàn tỉnh có nhiều thay đổi, mạng lưới y tế được củng cố và sắp xếp lại theo mô hình 2 cấp, bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi và kịp thời. Cơ cấu tổ chức bộ máy được kiện toàn, sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đồng thời, ngành y tế đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước triển khai hồ sơ sức khoẻ điện tử, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao sự hài lòng của người dân. Đội ngũ y, bác sĩ và nhân viên y tế trên địa bàn tỉnh đã không ngừng rèn luyện y đức, nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, tận tâm phục vụ người bệnh, xứng đáng với sự kỳ vọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà. Hiện nay tỉnh Hưng Yên có nhiều thế mạnh, nền tảng thuận lợi trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Nhân dân; ngành Y tế tận dụng và phát huy những điều kiện đó phấn đấu đưa Hưng Yên trở thành một trong những tỉnh đi đầu khu vực đồng bằng sông Hồng trong công tác khám, chữa bệnh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân trong tỉnh và các tỉnh, thành phố lân cận.  Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Cụ thể như sau: Bệnh tay chân miệng: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 370 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Bệnh sởi: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 26 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Bệnh sốt xuất huyết Dengue: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 32 ca. Ho gà: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay ghi nhận 05 ca. Toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Bệnh COVID-19: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 18 ca, toàn tỉnh duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh. 6. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ Trong tháng 3 năm 2026 (từ ngày 26/02/2026 đến ngày 25/3/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 11 vụ với số tiền xử phạt 392 triệu đồng. So với tháng 02/2026, số vụ vi phạm giảm 01 vụ, giảm 50,0%; số vụ đã xử lý giảm 01 vụ, tương ứng giảm 8,33%; số tiền xử phạt giảm 317 triệu đồng, tương ứng giảm 44,71%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 10 vụ, tương ứng giảm 90,91%; số vụ đã xử lý tăng 04 vụ, tương đương tăng 57,14%; số tiền xử phạt giảm 598 triệu đồng, tương đương giảm 60,42%. Lũy kế ba tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường; đã xử lý 26 vụ với số tiền xử phạt 1.215 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 50 vụ, giảm 80,65%; số vụ đã xử lý vi phạm giảm 26 vụ, giảm 50,0%; số tiền xử phạt giảm 1.968,08 triệu đồng, giảm 61,83%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về đổ chất thải trái phép ra môi trường, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 01 vụ cháy tại xã Phụng Công và 01 vụ nổ tại xã Tiền Hải. Vụ nổ đã làm 01 người chết và 01 người bị thương. Giá trị thiệt hại về tài sản do cháy là 700 triệu đồng. Lũy kế ba tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ cháy và 01 vụ nổ; làm chết 01 người và làm bị thương 01 người (do nổ); giá trị thiệt hại về tài sản 1.647 triệu đồng. 7. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/02/2026 đến 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 27 người, làm bị thương 18 người. So với tháng 02 năm 2026, số vụ tai nạn giảm 16 vụ, giảm 30,77%; số người chết tăng 04 người, tăng 17,39%; số người bị thương giảm 23 người, giảm 56,10%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 01 vụ, giảm 2,70%; số người chết tăng 01 người, tăng 3,85%; số người bị thương giảm 03 người, giảm 14,29%. Lũy kế ba tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 137 vụ tai nạn giao thông, làm chết 78 người, bị thương 96 người. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 3,52%; số người chết giảm 09 người, giảm 10,34%; số người bị thương tăng 13 người, tăng 15,66%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./. Khái quát lại: Tỉnh Hưng Yên thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương năm 2026 trong bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những khó khăn, thách thức, đặc biệt tình hình xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến thị trường năng lượng toàn cầu, nhất là nguồn cung và giá cả xăng dầu, từ đó ảnh hưởng tới toàn bộ các ngành kinh tế toàn cầu. Quý I năm 2026, với sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh khắc phục các khó khăn, phát huy các thuận lợi nên kinh tế của địa phương đã đạt được kết quả tích cực, các chính sách về an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân ổn định. III. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN 1. Hạn chế Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, giải phóng mặt bằng trong tháng đầu thực hiện chính quyền 02 cấp còn chậm; việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, khơi thông các điểm nghẽn, nút thắt trong sản xuất kinh doanh có chuyển biến nhưng chưa rõ nét. Việc xử lý đối với một số dự án tồn tại chưa dứt điểm. Tiến độ, chất lượng giải quyết một số thủ tục hành chính thiết yếu (cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng, đầu tư, đăng ký kinh doanh,...) chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn nhân lực cấp xã hiện nay còn tình trạng thừa thiếu cục bộ, chưa đồng đều về chất lượng, năng lực chuyên môn, nhất là ở các lĩnh vực đất đai, xây dựng, công nghệ thông tin, tài chính. Công tác quản lý đất đai, đê điều, môi trường ở một số địa phương chưa đạt yêu cầu. Cải cách hành chính, chuyển đổi số ở một số đơn vị chưa có sự chuyển biến rõ nét; nguồn lực thực hiện công tác chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu. Vướng mắc về thế chế, quy định pháp luật hiện hành trong một số lĩnh vực còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn cho quá trình triển khai áp dụng. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế. 2. Nguyên nhân Một số dự án còn khó khăn trong công tác GPMB, xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư; nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao (nhất là nguồn vật liệu cát và đất đắp) ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công; các địa phương chưa hoàn thành kiện toàn bộ máy của phòng chuyên môn và ban quản lý dự án sau hợp nhất; năng lực của một số nhà thầu còn hạn chế. Chưa linh hoạt, sáng tạo trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa một số ngành, địa phương, tính chủ động, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc còn hạn chế, nhất là những vấn đề khó, phức tạp. Nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết các thủ tục hành chính đôi lúc chưa thống nhất. Một bộ phận cán bộ, công chức còn e dè, né tránh, đùn đẩy, ngại trách nhiệm, chưa phát huy hết tinh thần, trách nhiệm trong công tác tham mưu, thực thi công vụ. IV. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP 1. Cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, công nghệ cao, xanh, sạch, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, lao động và thân thiện môi trường trên cơ sở tạo lập hệ sinh thái công nghiệp đồng bộ. Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ; sớm đưa các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, sức lan tỏa mạnh đi vào vận hành nhằm gia tăng năng lực sản xuất, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. 2. Rà soát, hoàn thiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thống nhất với Quy hoạch tỉnh điều chỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Triển khai nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Khu kinh tế tự do khi được cấp có thẩm quyền cho phép; Kế hoạch phát triển Khu kinh tế 5 năm 2026-2030; lập Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế trên cơ sở Khu Kinh tế tự do được cấp thẩm quyền chấp thuận; Cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế/Khu kinh tế tự do giai đoạn 2026-2030. 3. Phát triển mạnh mẽ hệ thống đô thị hiện đại, thông minh, bền vững gắn với phát triển kinh tế đô thị và dịch vụ, thương mại, du lịch chất lượng cao. Tập trung đầu tư, xây dựng đáp ứng trực tiếp các tiêu chí đô thị theo quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị vùng, chương trình phát triển đô thị. Nâng cao chất lượng lập, thẩm định các đồ án quy hoạch, quản lý quy hoạch, xây dựng, đô thị, nhà ở, thị trường bất động sản và hạ tầng kỹ thuật. Triển khai Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh giai đoạn 2026-2030, Dự án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”, năm 2025 và các năm 2026-2030 trên địa bàn tỉnh. 4. Xây dựng và triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung đầu tư cho các khâu đột phá chiến lược, các ngành, lĩnh vực, địa bàn mang tính chất động lực phát triển. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cấp, ngành, cơ quan, đơn vị, chủ đầu tư; rà soát, điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án đảm bảo hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch vốn Thủ tướng giao. Theo dõi chặt chẽ tình hình giải ngân của từng dự án; rà soát cắt giảm, điều chuyển kế hoạch vốn của các dự án chậm tiến độ để bổ sung cho các dự án có tiến độ giải ngân tốt, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn. Thực hiện có hiệu quả việc huy động và phân bổ các nguồn lực nhằm tạo ra giá trị mới, tạo ra sự phát triển và nâng tầm vị thế của tỉnh; tập trung làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng) và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới (kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức...). 5. Xây dựng đa dạng hệ thống hạ tầng thương mại, kết hợp hài hòa giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi thu hút, triển khai các dự án siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm trên địa bàn tỉnh, nhất là các khu vực đô thị, khu tập trung đông dân cư. 6. Triển khai có hiệu quả các giải pháp thúc đẩy cơ cấu lại toàn diện, phát triển nền nông nghiệp xanh, sạch, sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn, giá trị gia tăng cao, xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu sản phẩm, cấp mã vùng trồng, vùng nuôi; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị; chuyển sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ các sản phẩm nông sản có lợi thế cạnh tranh. Hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, vùng chăn nuôi, đánh bắt hải sản, phát triển nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao. Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hiện đại, nông dân văn minh”. Cơ cấu lại chăn nuôi, thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn VietGAHP, an toàn dịch bệnh. Phát triển thủy sản bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng, gia tăng về giá trị; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh phát triển các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Đẩy mạnh thực hiện xây dựng nông thôn mới, hướng tới mô hình nông thôn mới văn minh. Thực hiện có hiệu quả Chương trình mỗi xã một sản phẩm OCOP. 7. Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đất đai theo quy hoạch và kế hoạch, đảm bảo phân bổ đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Tập trung nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu vì mục tiêu phát triển bền vững; tăng cường triển khai đồng bộ các giải pháp “phòng” đi đôi với “chống” ô nhiễm môi trường, kiểm soát an toàn các nguồn phát thải. 8. Chủ động công tác phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu; theo dõi, dự báo, thông tin kịp thời về tình hình thiên tai, nhất là bão, lũ, kịp thời phòng, chống và sẵn sàng các phương án ứng phó với thiên tai, bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân, khắc phục nhanh nhất hậu quả do thiên tai gây ra. 9. Tăng cường công tác xúc tiến, thu hút đầu tư; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định để thu hút nhà đầu tư dài hạn. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, thu hút vốn đầu tư khu vực tư nhân và vốn FDI gắn với theo dõi, đôn đốc, giám sát thường xuyên tiến độ triển khai theo cam kết đầu tư, nhất là các dự án đầu tư lớn; kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp FDI, cắt giảm thủ tục hành chính để đẩy nhanh tiến độ các dự án, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh. 10. Tăng cường công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước và quản lý, sử dụng tài sản công trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục triển khai cơ cấu lại thu ngân sách theo hướng bền vững, hiệu quả hơn; đa dạng hóa và mở rộng nguồn thu, cơ sở thu; tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, tài chính, tài sản công; triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý chặt chẽ chi ngân sách. Tổ chức triển khai Kế hoạch tài chính 05 năm giai đoạn 2026-2030, Đề án chuyển đổi số và hiện đại hóa quản lý thuế,... Chỉ đạo thực hiện hiệu quả các biện pháp thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt mức dự toán thu ngân sách đề ra; thực hiện quyết liệt công tác chống thất thu thuế, thu hồi nợ thuế; khai thác các khoản thu còn dư địa, mở rộng cơ sở thu, nhất là thương mại điện tử, nền tảng số,... Tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên; chủ động sắp xếp chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điều chỉnh chính sách tiền lương. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; chấn chỉnh tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản. 11. Phát triển hệ thống y tế đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của Nhân dân; phát triển con người Hưng Yên toàn diện; nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; chủ động giám sát, triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch bệnh nguy hiểm,... Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần, được lập Sổ sức khỏe điện tử. 12. Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; khuyến khích hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Xây dựng Đề án đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hệ thống giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chất lượng về trình độ đào tạo, có phẩm chất đạo đức tốt, có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng. Hoàn thành tốt các mục tiêu năm học đề ra; tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình GDPT năm 2018, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Tổ chức tốt Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT, Kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi, cuộc thi cho học sinh, giáo viên trong toàn ngành. Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các cơ quan, tổ chức có liên quan tại địa phương trong quá trình thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường 13. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, triển khai các mô hình kinh tế mới, mang tính sáng tạo là nền tảng, động lực, tạo đột phá về tốc độ, chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động. Triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Xây dựng Đề án cải thiện xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) và chỉ số chuyển đổi số (DTI) của tỉnh giai đoạn 2026-2030. Đầu tư xây dựng hạ tầng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đồng bộ và hiện đại; phát triển mạnh chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hóa số; thực hiện các nhiệm vụ theo Khung kiến trúc chính quyền số 4.0; 14. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động; thường xuyên cập nhật biến động thông tin thị trường lao động. Triển khai hiệu quả các chỉ thị, chương trình, kế hoạch của Trung ương và của tỉnh về công tác lao động, việc làm; kiểm tra thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp. Tranh thủ phối hợp huy động các nguồn lực xã hội tham gia công tác giảm nghèo bền vững. 15 . Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển. Xây dựng con người Hưng Yên phát triển toàn diện về thể lực, tầm vóc, trí tuệ, đạo đức, nhân cách, có ý chí vươn lên mạnh mẽ, có khát vọng xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc. Xây dựng Đề án Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hưng Yên đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. 16. Xây dựng chính quyền liêm chính, hành động, trách nhiệm, phục vụ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực sự của dân, do dân, vì dân; đẩy nhanh thực hiện xây dựng chính quyền số. Hoàn thiện và vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp. 17. Đẩy mạnh cải cách hành chính đi đôi với chuyển đổi số, không ngừng cải thiện môi trường kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, người dân và doanh nghiệp. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2026. Nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng qua thanh tra, phối hợp giữa các cơ quan liên quan. 18. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tạo môi trường an toàn, ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 02 năm 2026
  •   27/10/2026 08:07

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Hai, nông dân trong tỉnh tập trung thu hoạch nhanh gọn cây rau màu vụ đông và đẩy nhanh tiến độ gieo trồng lúa và rau màu vụ xuân. Theo đó, các địa phương đã tập trung lấy nước đổ ải theo đúng kế hoạch, thực hiện lấy nước đến đâu tiến hành làm đất ngay đến đó, bảo đảm chất lượng đất cho gieo cấy lúa xuân. Đồng thời, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn đàn gia súc, gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau:                 a) Nông nghiệp Trồng trọt Cây hằng năm Theo kết quả sơ bộ điều tra diện tích vụ đông năm 2025-2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông năm 2025-2026 toàn tỉnh đạt 41.691 ha, giảm 3,1% (giảm 1.332 ha) so với vụ đông năm trước. Trong đó: cây ngô 6.306 ha, giảm 6,55% (giảm 442 ha); khoai lang 2.199 ha, tăng 2,49% (tăng 54 ha), đậu tương 707 ha, tăng 13,51% (tăng 84 ha), rau các loại 26.737 ha, giảm 3,46% (giảm 958 ha);... Diện tích gieo trồng cây vụ đông giảm mạnh chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, thu hồi phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng (mở rộng diện tích khu, cụm công nghiệp; xây dựng công trình giao thông trọng điểm trong tỉnh; xây dựng các khu đô thị dịch vụ...). Đến thời điểm ngày 20/02/2026, các địa phương trong tỉnh đã cơ bản kết thúc thu hoạch cây vụ đông, nhất là những diện tích ở chân ruộng 2 vụ lúa để nhường đất cho gieo cấy lúa vụ xuân. Nhìn chung, sản xuất vụ đông năm nay diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng. Được sự hỗ trợ của tỉnh và xã, nhiều địa phương đã đẩy nhanh tiến độ trồng rau màu vụ đông, tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật, thường xuyên chăm sóc rau màu, vì vậy dự báo năng suất, sản lượng thu hoạch cao hơn năm trước. Theo báo cáo tiến độ sản xuất nông nghiệp đến ngày 20/02/2026, toàn tỉnh gieo cấy được 83.000 ha lúa (đạt 86,98% kế hoạch). Hiện lúa xuân sớm đang trong giai đoạn đẻ nhánh rộ, lúa đại trà đang bén rễ hồi xanh. Diện tích lúa được tỉa dặm, bón thúc lần 1 được 45.000 ha. Toàn tỉnh phấn đấu hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa trong tháng Hai. Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu đến ngày 20/02/2026                           (Năm nông vụ: từ 01/10/2025 đến 20/02/2026)                                                                                                                          ĐVT: ha Thực hiện cùng kỳ năm 2025 Thực hiệnkỳ này Thực hiện kỳ này so với cùng kỳ năm trước (%) - Lúa đông xuân 72.500 83.000 114,48 - Ngô 7.506 7.566 100,80 - Khoai lang 2.445 2.475 101,21 - Đậu tương 663 663 100,03 - Lạc 191 186 97,42 - Rau các loại 36.605 37.337 102,00 - Đậu các loại 1.225 1.251 102,15 Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn tiếp tục phát triển. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm năm 2025 toàn tỉnh đạt 24.647 ha, tăng 1,91% (tăng 461 ha) so với cùng kỳ năm trước. Đối với cây nhãn, cây vải - hai loại cây lâu năm chủ lực của tỉnh, hiện đang trong giai đoạn phân hóa mầm hoa, phát triển nụ. Đối với cây chuối và cây có múi: hiện nay cơ bản đã thu hoạch xong. Các nhà vườn đang tiến hành áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nhằm tăng tỷ lệ ra hoa, đậu quả ở các loại cây ăn quả lâu năm. Các địa phương tranh thủ thời tiết tạnh ráo, chủ động phun phòng trừ bệnh sương mai và sâu lưu trú qua đông trên các cây nhãn, vải và cây có múi để bảo vệ hoa và lộc non theo đúng hướng dẫn của các ngành chuyên môn. Tháng qua, hoạt động sản xuất và kinh doanh cây cảnh, cây hoa thế diễn ra sôi động nhằm phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn mở rộng tiêu thụ ra các địa phương lân cận, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân. Chăn nuôi Tình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ổn định, không có địa phương nào báo cáo có trường hợp hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm luôn được duy trì thực hiện. Trong tháng qua, tiêm được 50.000 liều vắc xin Newcastle, 70.000 liều vắc xin Cúm gia cầm, 30.000 liều vắc xin Gumboro, 30.000 liều vắc xin THT gia cầm, 20.000 liều vắc xin Dịch tả vịt, 20.000 liều vắc xin viêm gan vịt; tiêm được 80.000 liều vắc Dịch tả lợn, 30.000 liều vắc xin Tụ dấu lợn, 50.000 liều vắc xin Phó thương hàn lợn, 30.000 liều vắc xin LMLM, 20.000 liều vắc xin Tai xanh và 30.000 liều vắc xin Suyễn; tiêm được 1.000 liều vắc xin Carê cho chó, 200 liều vắc xin Dại và 200 liều vắc xin Tụ huyết trùng, trâu, bò. Công tác kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc thú y bảo đảm thực hiện đúng quy trình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông sản phẩm chăn nuôi. Trong tháng, các hoạt động chăn nuôi, vận chuyển, buôn bán, giết mổ, tiêu thụ gia súc, gia cầm tăng mạnh nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và Lễ hội xuân. Ước tính tại thời điểm 28/02/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 12.065 con, tăng 0,81%; đàn bò 83.591 con, tăng 0,62%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 995.528 con, tăng 1,98%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.648 nghìn con, tăng 2,18% (trong đó: đàn gà 17.440 nghìn con, tăng 2,58%) so với cùng thời điểm năm trước. b) Lâm nghiệp Tháng Hai, tình hình sản xuất lâm nghiệp của tỉnh không có biến động lớn. Diện tích rừng trồng mới tập trung, số vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá không phát sinh trong kỳ báo cáo.  Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Hai năm 2026 ước đạt 323 m³, giảm 0,62%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 9,3 nghìn cây, giảm 1,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 931 m³, giảm 0,43%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 18,8 nghìn cây, giảm 2,59% so với cùng kỳ năm 2025. c) Sản xuất thủy sản Trong tháng Hai, sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Hai ước đạt 8.860 tấn, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.370 tấn, tăng 3,03%; tôm 109 tấn, tăng 2,83%; thủy sản khác 3.381 tấn, tăng 2,99%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 17.668 tấn, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 10.732 tấn, tăng 2,97%; tôm 213 tấn, tăng 2,90%; thủy sản khác 6.723 tấn, tăng 2,86%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức nuôi. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Hai ước đạt 18.831 tấn, tăng 3,13% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 6.668 tấn, tăng 2,98%; tôm 74 tấn, tăng 3,13%; thủy sản khác 12.089 tấn, tăng 3,22%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 36.144 tấn, tăng 3,15% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 13.060 tấn, tăng 2,81%; tôm 167 tấn, tăng 2,93%; thủy sản khác 22.917 tấn, tăng 3,34%. 2. Sản xuất công nghiệp a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026 (%) T02.2026 02T.2026 T02.2025 02T.2025 Chung toàn ngành CN 108,38 112,42 Khai khoáng 110,38 110,76 Công nghiệp chế biến, chế tạo 112,63 114,94 SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng 84,84 97,16 Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải 65,50 86,63 So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Hai giảm 18,58%, trong đó: khai khoáng giảm 45,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 16,59%; sản xuất và phân phối điện giảm 36,65%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 27,98%. Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 rơi vào tháng Hai, thời gian nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài cũng có phần ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh trong tháng của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: khí tự nhiên dạng khí giảm 23,13%; tôm đông lạnh giảm 28,57%; thức ăn cho gia cầm giảm 7,70%; nước khoáng không có ga giảm 7,74%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 21,91%; quần áo các loại giảm 17,57%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 39,62%; Nitơrat Amoni giảm 38,27%; bao và túi bằng plastic các loại giảm 8,28%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 47,22%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 44,30%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng giảm 57,18%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 50,08%; mạch điện tử tích hợp giảm 40,42%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 45,72%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 39,92%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 46,71%;... Một số ít sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: thức ăn cho gia súc tăng 1,62%; mực in màu đen tăng 13,64%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa phân vào đâu tăng 3,30%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Hai tăng 8,38%, trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 10,38%; chế biến, chế tạo tăng 12,63%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và hơi nước giảm 15,16%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý lý rác thải, nước thải giảm 34,50%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2025 như: khí tự nhiên dạng khí tăng 6,60%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 22,0%; thức ăn cho gia súc tăng 18,10%; thức ăn cho gia cầm tăng 11,94%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 8,47%; quần áo các loại tăng 12,48%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 5,18%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 4,52%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 34,38%; mạch in khác tăng 38,35%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 14,83%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 3,05%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 35,29%; dây thép không gỉ tăng 92,62%;... Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất giảm so với tháng Hai năm 2025 như: tôm đông lạnh giảm 5,66%; nước khoáng không có ga giảm 5,26%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 32,03%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 14,37%; Nitơrat Amoni giảm 37,92%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,03%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 11,76%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 35,58%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 9,96%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 9,0%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 30,87%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 37,97%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 24,30%;... Tính chung hai tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 10,76%; chế biến, chế tạo tăng 14,94%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và hơi nước giảm 2,84%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý lý rác thải, nước thải giảm 13,37%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong hai tháng đầu năm 2026 có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2025 như: khí tự nhiên dạng khí tăng 4,63%; tôm đông lạnh tăng 15,38%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 26,70%; thức ăn cho gia súc tăng 11,08%; thức ăn cho gia cầm tăng 45,61%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 13,64%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 8,84%; quần áo các loại tăng 21,51%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 15,15%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 6,64%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 38,75%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 24,69%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 163,06%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 21,40%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 71,94%; mạch điện tử tích hợp tăng 52,99%; mạch in khác tăng 35,50%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 3,95%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 16,46%;... Một số sản phẩm công nghiệp trong hai tháng đầu năm 2026 có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm 2025 như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 22,95%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 29,75%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 10,24%; Nitơrat Amoni giảm 9,82%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 3,47%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 9,04%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 19,62%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 15,24%;... Trong hai tháng đầu năm 2026, nhiều doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Kết cấu Thép cơ khí Hưng Yên tăng 180,84%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 29,23%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tân Á tăng 18,27%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 44,32%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 78,57%; Công ty TNHH Tôn Vikor tăng 235,83%; Công ty TNHH Formosa tăng 42,86%; Công ty TNHH Kinh Đô Miền Bắc sản phẩm sản xuất tăng 32,68%; Chi nhánh Hưng Yên - Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam tăng 22,77%; Công ty Cổ phần Mavin Austfed tăng 54,34%; Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Quốc tế Đài Loan tăng 120,59%; Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu May Anh Vũ tăng 29,26%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 4,14%; Công ty TNHH Youngone Hưng Yên tăng 23,84%; Công ty TNHH Foremart Việt Nam tăng 80,72%; Công ty TNHH May Niên Hsing Việt Nam tăng 51,82%; Công ty TAV tăng 50,45%; Công ty TNHH Sơn Hà tăng 36,44%; Công ty TNHH Maxpoort Limited tăng 13,21%; Công ty TNHH PS Vina tăng19,49%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 16,9%; Công ty TNHH Thép không gỉ Hà Anh tăng 35,29%; Công ty TNHH Thép dây Hòa Phát tăng 90,62%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 14,83%; TNHH LTD Đức Mạnh tăng 5,08%; Công ty Cổ phần Greatwood tăng 14,58%; Công ty TNHH Mây tre xuất khẩu Phú Minh Hưng Yên tăng 125,15%; Công ty TNHH Liên doanh Kangaroo Quốc tế tăng 660,99%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 139,82%; Công ty TNHH Greenworks tăng 76,60%;... Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty Cổ phần Thép Việt Ý giảm 28,18%; CN Ống thép Hoà Phát giảm 10,9%; Công ty TNHH Minh Long giảm 13,30%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec giảm 8,33%; Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 6,7%; Công ty Cổ phần Nhựa Hưng Yên giảm 1,54%; Công ty Cổ phần Thuận Đức giảm 20,01%; Công ty Cổ phần Bao bì Nhựa Thiên Hà giảm 36,64%; Công ty TNHH Đầu tư Ứng dụng Sản xuất Bao bì Việt giảm 7,35%; Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 4,72%; Công ty TNHH Sao Vàng - Chi nhánh tại Quỳnh Phụ giảm 19,16%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ tăng 5,37%; Chi nhánh Công ty Cổ phần Ô tô TMT giảm 10,0%; CN Công ty TNHH Yazaki giảm 13,02%; Công ty TNHH Shindengen Việt Nam giảm 11,25%; Công ty TNHH Công nghiệp Fancy Việt Nam giảm 10,79%; Công ty TNHH Toyoda Gosei Hải Phòng giảm 30,87%;... b) Chỉ số sử dụng lao động Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Hai toàn ngành tăng 5,44% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,48%. Chỉ số sử dụng lao động tháng Hai tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của các doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện đang phát triển mạnh và rất cần nguồn lao động. Trong tháng, một số ngành sử dụng nhiều lao động có chỉ số sử dụng lao động tăng cao so với cùng kỳ năm trước hoặc so với tháng trước, đó là do các doanh nghiệp trong những ngành này mở rộng sản xuất, thu nhập của người lao động cao và sử dụng nhiều lao động. Bên cạnh đó thì cũng có một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm, nguyên nhân do tính chất ngành nghề, sản lượng sản xuất giảm nên phải tiết giảm lao động hoặc đã có máy móc hiện đại được doanh nghiệp đầu tư thay thế người lao động. 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng Hai, tỉnh Hưng Yên tiếp tục tập trung đẩy mạnh các dự án hạ tầng giao thông và khu công nghiệp, với trọng tâm là hoàn thiện mạng lưới kết nối vùng và phát triển đô thị theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, nổi bật là các dự án như đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (CT.08); tuyến đường từ phường Thái Bình đi xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến; tuyến đường thành phố Thái Bình (cũ) đi cầu Nghìn; tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng cùng nhiều tuyến giao thông chiến lược khác. Trên cơ sở triển khai đồng bộ, quyết liệt và có sự đồng thuận của nhân dân, các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh đang dần thành hình, không chỉ tạo diện mạo mới cho tỉnh mà còn khẳng định quyết tâm tăng tốc phát triển ngay từ đầu nhiệm kỳ. Từ đó, đặt nền móng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn 2025 - 2030 và những năm tiếp theo. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Hai năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 2.101 tỷ đồng, giảm 4,66%, tương ứng giảm 103 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.154 tỷ đồng, giảm 2,13%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 948 tỷ đồng, giảm 7,57%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 4.325 tỷ đồng, tăng 1,40%, tương ứng tăng 60 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 10,05% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.406 tỷ đồng, tăng 6,54%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.919 tỷ đồng, giảm 4,39%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 26/02/2026, toàn tỉnh có 973 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.430,31 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/02/2026, có 12 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 199,47 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 199 dự án, vốn đăng ký là 6.311,31 triệu USD, chiếm 36,21% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 372 dự án, vốn đăng ký 4.494,55 triệu USD, chiếm 25,79% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 213 dự án, vốn đăng ký 2.304,43 triệu USD, chiếm 13,22% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/01/2026 đến ngày 21/02/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 488 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 6.705 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 4.029 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 97 doanh nghiệp, sử dụng 4.849 lao động, vốn đăng ký 1.402 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 227 doanh nghiệp, sử dụng 852 lao động, vốn đăng ký 727 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 14 doanh nghiệp, sử dụng 334 lao động, vốn đăng ký 1.032 tỷ đồng; vận tải kho bãi 38 doanh nghiệp, sử dụng 135 lao động, vốn đăng ký 303 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 24 doanh nghiệp, sử dụng 71 lao động, vốn đăng ký 28 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 19 doanh nghiệp, sử dụng 93 lao động, vốn đăng ký 55 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 5 doanh nghiệp, sử dụng 21 lao động, vốn đăng ký 5 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/02/2026, toàn tỉnh có 1.073 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 10.406 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 8.302 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 497 doanh nghiệp, sử dụng 1.874 lao động, vốn đăng ký đạt 1.554 tỷ đồng (chiếm 18,72% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 213 doanh nghiệp, sử dụng 6.590 lao động, vốn đăng ký đạt 2.464 tỷ đồng (chiếm 29,68%); xây dựng 83 doanh nghiệp, sử dụng 412 lao động, vốn đăng ký 659 tỷ đồng (chiếm 7,94%); hoạt động vận tải, kho bãi 73 doanh nghiệp, sử dụng 239 lao động, vốn đăng ký 463 tỷ đồng (chiếm 5,58%); giáo dục và đào tạo 18 doanh nghiệp, sử dụng 77 lao động, vốn đăng ký 34 tỷ đồng (chiếm 0,41%); kinh doanh bất động sản 32 doanh nghiệp, sử dụng 504 lao động, vốn đăng ký 2.521 tỷ đồng (chiếm 30,36%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 38 doanh nghiệp, sử dụng 121 lao động, vốn đăng ký 52 tỷ đồng (chiếm 0,62%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 37 doanh nghiệp, sử dụng 166 lao động, vốn đăng ký 99 tỷ đồng (chiếm 1,20%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Hai (tính từ ngày 22/01/2026 đến ngày 21/02/2026) là 47 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/02/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 280 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/01/2026 đến ngày 21/02/2026, số doanh nghiệp giải thể là 73 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 75 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/02/2026, toàn tỉnh có 188 doanh nghiệp giải thể và 873 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 42 doanh nghiệp giải thể và 218 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 22,34% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,97% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 61 doanh nghiệp giải thể và 298 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 32,45% và 34,14%; kinh doanh bất động sản có 12 doanh nghiệp giải thể và 22 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,38% và 2,52%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 7 doanh nghiệp giải thể và 42 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,72% và 4,81%; giáo dục và đào tạo có 19 doanh nghiệp giải thể và 16 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 10,11% và 1,83%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 rơi vào tháng Hai nên trong tháng qua, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động do nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ Tết và tiêu dùng sau Tết của người dân tăng cao. Dịp Tết, nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hệ thống siêu thị, chợ, cửa hàng tiện lợi và các điểm bán lẻ chuẩn bị lượng hàng hóa đầy đủ, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá đột biến. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026 (theo giá hiện hành)                                                                        T02.2026 02T.2026 T02.2026 T02.2025 02T.202602T.2025 (Tỷ đồng) (Tỷ đồng) (%) (%) Tổng số 26.970       54.647 115,71 115,17 Thương nghiệp 15.039 29.685 122,38 117,90 DV lưu trú, ăn uống 1.216 2.418 116,33 114,34 DV du lịch lữ hành 6 12 108,70 109,63 Dịch vụ khác 10.709 22.532 107,43 111,84 Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai toàn tỉnh ước đạt 26.970 tỷ đồng, giảm 2,56% so với tháng trước và tăng 15,71% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 54.647 tỷ đồng, tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Hai ước đạt 15.039 tỷ đồng (chiếm 55,76% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng), tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 22,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 27,70%; hàng may mặc tăng 35,78%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 12,22%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 12,02%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,89%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 19,56%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 20,58%; xăng, dầu các loại tăng 15,50%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 23,24%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 50,25%; hàng hóa khác tăng 21,57%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 22,56%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 29.685 tỷ đồng, tăng 17,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tất cả các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 21,17%; hàng may mặc tăng 30,18%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 6,87%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 6,18%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,17%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 9,70%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 22,77%; xăng dầu các loại tăng 12,02%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 21,56%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 53,29%; hàng hóa khác tăng 18,12%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 15,94%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Hai ước đạt 1.216 tỷ đồng, tăng 1,08% so với tháng trước và tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.418 tỷ đồng, tăng 14,34% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 71 tỷ đồng, tăng 11,73%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.347 tỷ đồng, tăng 14,42%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Hai ước đạt 6 tỷ đồng, giảm 6,84% so với tháng trước và tăng 8,70% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm so với tháng Một chủ yếu do tháng Hai có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 kéo dài và nhiều lễ hội truyền thống, người dân tập trung về quê, hạn chế các hoạt động du lịch theo tour và lữ hành. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, doanh thu vẫn tăng, phản ánh sự cải thiện về quy mô hoạt động cũng như nhu cầu du lịch từng bước phục hồi. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 12 tỷ đồng, tăng 9,63% so cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Hai ước đạt 10.709 tỷ đồng, giảm 9,43% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 22.532 tỷ đồng, tăng 11,84% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản (là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,85% tổng doanh thu ngành dịch vụ khác) tăng 12,27%; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,18%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 5,31%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 8,94%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 11,22%; dịch vụ khác tăng 8,54%. Mức tăng của ngành bất động sản trong hai tháng đầu năm 2026 phản ánh quy mô thị trường tiếp tục được mở rộng nhờ nguồn cung từ các dự án đã và đang triển khai, đồng thời cho thấy sức hấp thụ của thị trường vẫn được duy trì ở mức nhất định. Trong thời gian tới, với việc nhiều sản phẩm bất động sản được đưa ra thị trường từ các doanh nghiệp lớn như Vinhomes, Ecopark Nomura và một số doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh, doanh thu lĩnh vực bất động sản tại Hưng Yên được kỳ vọng sẽ cải thiện khi thị trường bước qua giai đoạn thấp điểm sau Tết. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng Tháng 02/2026 trùng với thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ, thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh sôi động do nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, đi lại và vui chơi, lễ hội của người dân tăng cao. Giá cả một số mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm tươi sống, đồ uống, may mặc và dịch vụ vận tải hành khách có xu hướng tăng. Sau Tết, nhu cầu tiêu dùng dần ổn định trở lại, song mặt bằng giá vẫn chịu tác động nhất định từ yếu tố cung - cầu trong dịp lễ Tết. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Hai năm 2026 (%)                                                                        T02.2026T01.2026 T02.2026T02.2025 02T.202602T.2025 Chỉ số giá tiêu dùng chung    101,23    102,88    102,44 Chỉ số vàng    112,29    194,02    187,20 Chỉ số đô la Mỹ     98,94    103,12    103,63 So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Hai tăng 1,23%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,40%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,41%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,55%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,89%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; giao thông tăng 1,31%; thông tin truyền thông tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,06%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,51%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,71%. Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,40%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,01%, chủ yếu do tháng Hai trùng với thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng lương thực như gạo tẻ thường, gạo tẻ ngon, gạo nếp và các sản phẩm chế biến từ ngũ cốc tăng cao phục vụ nhu cầu tích trữ, chế biến thực phẩm trong dịp Tết. Bên cạnh đó, chi phí thu mua, vận chuyển và nhân công tăng trong thời điểm cận và trong Tết góp phần làm giá bán lẻ một số mặt hàng lương thực tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 2,78% do: Nhóm thịt gia súc tăng 5,92% (trong đó nhóm thịt lợn tăng 7,38%; thịt bò tăng 2,36%; chỉ số giá nội tạng động vật tăng 6,11%), do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tăng cao phục vụ chế biến các món ăn truyền thống; bên cạnh đó chi phí chăn nuôi, vận chuyển và giết mổ tăng trong thời điểm cận Tết. Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,41%, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong thời điểm lễ, hội và các hoạt động gặp mặt đầu năm, làm sức mua các mặt hàng bia, rượu và thuốc lá tăng so với tháng trước (chỉ số giá nhóm bia các loại tăng 2,59%, chỉ số nhóm thuốc lá tăng 0,51%). Bên cạnh đó, một số cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán nhằm bù đắp chi phí vận chuyển, lưu kho và chiết khấu phân phối tăng trong giai đoạn cao điểm. Đối với mặt hàng bia, việc tiêu thụ tăng mạnh tại các nhà hàng, quán ăn và điểm vui chơi giải trí cũng góp phần làm chỉ số giá tăng cao hơn so với mức tăng chung của nhóm. Nhóm may mặc, giày dép, mũ nón tăng 0,55%, do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép phục vụ dịp Tết Nguyên đán và du xuân đầu năm tăng, đặc biệt đối với các mặt hàng thời trang may sẵn, quần áo trẻ em và giày dép thể thao. Các bộ trang phục cho thuê hiện nay có nhiều kiểu cách, chi tiết trang trí đẹp, chất liệu may tốt nên giá thuê các bộ trang phục tăng cao hơn so với thời gian trước. Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,89%, chủ yếu do: Chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,72% do một số mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền tăng; chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 0,85%; chỉ số giá gas tăng 1,13%; chỉ số giá dầu hoả tăng 5,03%. Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%, chủ yếu do một số đồ dùng tăng như giường, tủ, bình nước nóng, máy hút bụi, máy bơm nước, đồ dùng nấu ăn, đồ dùng kim loại,... tăng giá bán. Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,31%, do giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng theo diễn biến giá thế giới, làm chi phí đi lại và vận tải tăng. Trong tháng 02/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 04 đợt vào các ngày 05/02; ngày 12/02; ngày 20/02 và ngày 26/02. Theo đó giá xăng tăng 1,99%; giá dầu diezel tăng 6,86%. Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,51%, chủ yếu do nhu cầu vui chơi, giải trí và du lịch tăng trong dịp đầu năm, đặc biệt vào dịp cuối tuần, nhu cầu lễ hội và tham quan tăng. Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,71%, chủ yếu chủ yếu do giá một số dịch vụ cá nhân tăng như: dịch vụ chăm sóc cá nhân, đồ dùng cá nhân và các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt cuối năm. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ liên quan đến cưới hỏi và chăm sóc cá nhân tăng vào thời điểm đầu năm cũng góp phần làm chỉ số giá nhóm này tăng so với tháng trước. Các dịch vụ hiếu hỉ cuối năm cũng tăng lần lượt 0,54% và 0,41% do nhu cầu của người dân. So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai tăng 1,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 1,28%; các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,02%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,98%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,70%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,08%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,61%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; thông tin truyền thông tăng 0,35%; giáo dục tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,18%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai tăng 2,88%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,83% (lương thực giảm 0,42%; thực phẩm tăng 5,65%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,35%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,03%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,28%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,81%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,11%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,21%; thông tin truyền thông tăng 0,63%; giáo dục tăng 1,20%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,22%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,17%; riêng nhóm giao thông giảm 3,98% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân chung hai tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 4,48%; các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,98%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,69%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,03%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,50%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,89%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin truyền thông tăng 0,47%; giáo dục tăng 1,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,16%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,83%. Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân hai tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,53% do giá nhóm thịt gia súc thương phẩm, thịt chế biến tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,91% do giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo chi phí vận hành cuối năm như tiền công lao động, chi phí thuê mặt bằng và chi phí nguyên liệu chế biến, trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, liên hoan cuối năm tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 4,50% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà, chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, hoàn thiện nhà cửa trước Tết tăng. Bên cạnh đó, giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với năm trước. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng này chủ yếu do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, trong khi giá thuốc chữa bệnh trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 784/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hưng Yên đã tác động làm mặt bằng giá dịch vụ y tế cao hơn so với cùng kỳ, kéo chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,54% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa đông, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 3,16% so với cùng kỳ, do giá các loại như hoa tươi, cây cảnh, vật cảnh, giá vé xem phim ca nhạc và các trò chơi, giá vé du lịch trọn gói, giá khách sạn tăng. Nguyên nhân làm giảm chỉ số giá tiêu dùng bình quân tháng Hai năm 2026 so với cùng kỳ năm trước: Nhóm giao thông giảm 4,48% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước có các đợt điều chỉnh giảm theo cơ chế điều hành của Nhà nước, bám sát diễn biến giảm của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm giá bán lẻ xăng, dầu bình quân trong kỳ giảm so với cùng kỳ. Sự giảm giá của xăng, dầu đã kéo theo chi phí sử dụng phương tiện giao thông giảm, qua đó tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông giảm. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 02/2026 tăng 12,29% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá vàng thế giới; đồng thời nhu cầu mua vàng tích trữ và vàng trang sức trong dịp đầu năm tăng, làm giá vàng bán lẻ trên thị trường tăng theo. Trong nước, chênh lệch cung - cầu vàng miếng vẫn ở mức cao, cùng với tâm lý nắm giữ vàng của người dân tăng, khiến giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến chung của thị trường. Hiện giá vàng đang ở mức cao nhất trong mấy tháng trở lại đây. Bình quân tháng 02/2026, giá vàng xấp xỉ 17.888.860 VNĐ/chỉ. Tháng 02/2026, giá Đô la Mỹ (USD) có xu hướng giảm. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định; bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 02/2026 giảm 1,06% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 25.987 VNĐ. c) Chỉ số giá sản xuất So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Hai tăng 2,81%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 2,55%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 47,58%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 4,04%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây có hạt khác tăng 0,84%; khoai lang tươi tăng 2,39%; dưa lấy quả tăng 3,17%; nấm trồng các loại tăng 4,24%; hoa các loại tăng 7,75%; cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 15,95%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 7,65%; sản phẩm cây cảnh lâu năm tăng 6,93%; sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 4,57%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 3,52%; lá dong tăng 47,58%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 6,31%, tôm nuôi biển tăng 2,66%; cá trắm tăng 6,80%; cá trôi tăng 2,55%; tôm nuôi nội địa tăng 3,60%; tôm khai thác nội địa tăng 1,12%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: khoai tây giảm 0,29%; rau lấy lá giảm 2,09%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân giảm 1,96%; sản phẩm lâm sản thu nhặt từ rừng trừ gỗ khác giảm 1,02%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Hai năm 2026 tăng 2,46%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lượng thực có hạt tăng 2,61%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 6,57%; mía cây tươi tăng 4,33%; thuốc lá, thuốc lào tăng 3,78%; đậu tương tăng 5,80%; rau các loại tăng 12,56%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 6,25%; hoa các loại tăng 3,75%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 7,85%; chuối tăng 28,56%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 4,67%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 4,82%; lá dong tăng 68,69%; cá ngừ thường tăng 7,99%; cá thu tăng 5,26%; mực tăng 9,72%; cá nuôi nội địa tăng 2,96%; tôm nuôi nội địa tăng 6,32%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 4,83%; lạc giảm 1,87%; quýt giảm 13,4%; nhãn, vải, chôm chôm giảm 16,11%; chè búp tươi giảm 2,46%; sản phẩm chăn nuôi khác giảm 1,42%; tôm khai thác biển giảm 1,58%; tôm khai thác nội địa giảm 2,51%;... So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Hai năm 2026 giảm 0,10%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,14%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,08%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,04%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 2,5%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 1,13%; sản phẩm may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) giảm 0,84%; giày dép giảm 0,64%; giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 0,74%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 1,60%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,28%; mô tơ, máy phát giảm 1,65%; máy thông dụng khác giảm 0,63%; máy nông nghiệp và lâm nghiệp giảm 0,60%; đồ giả kim hoàn và chi tiết có liên quan giảm 1,78%; điện sản xuất giảm 1,72%; điện mặt trời giảm 2,72%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,12%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,06%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 2,83%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,80%; dịch vụ liên quan đến in tăng 1,31%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 6,26%; pin và ắc quy tăng 6,68%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 6,56%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 7,15%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,85%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 3,12%; dịch vụ thu gom rác thải tăng 0,91%;… So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Hai năm 2026 tăng 1,53%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,56%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,57%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,49%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 5,09%; sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 1,80%; cà phê tăng 21,87%; đồ uống tăng 4,40%; sản phẩm dệt khác tăng 3,69%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 6,54%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu tăng 5,55%; dịch vụ liên quan đến in tăng 18,09%; hóa chất cơ bàn tăng 20,57%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,98%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại chưa phân vào đâu tăng 6,79%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 33,92%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 4,69%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 34,68%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 37,86%; thiết bị dây dẫn điện các loại tăng 11,05%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại tăng 7,03; mô tô xe máy tăng 8,01%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan tăng 5,53%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: dầu, mỡ động, thực vật chế biến giảm 5,28%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 2,75%; sản phẩm hàng dệt khác chưa được phân vào đâu giảm 3,12%; giày dép giảm 4,54%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 4,24%; sản phẩm khác từ cao su giảm 7,30%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 6,75%; pin và ắc quy giảm 10,04%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 5,38%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,01%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 2,18%;... 6. Hoạt động vận tải Tháng Hai năm nay là thời điểm trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu đi lại của Nhân dân cũng như nhu cầu vận chuyển hàng hóa gia tăng đáng kể. Các doanh nghiệp, cơ sở cá thể chủ động chuẩn bị tích trữ nguồn cung ứng hàng hóa từ sớm, tránh tình trạng dồn dập vào những ngày cận Tết. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Hai năm 2026 ước đạt 2.477 tỷ đồng, tăng 3,39% so với tháng trước và tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 4.873 tỷ đồng, tăng 18,32% so cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Hai năm 2026 ước đạt 5,9 triệu lượt người vận chuyển và 523 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 3,90% về lượt người vận chuyển, tăng 1,07% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,72 về lượt người vận chuyển, tăng 7,93% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 417 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước và tăng 11,70% so cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 11,53 triệu lượt người vận chuyển và 1.041 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,11% về lượt người vận chuyển và tăng 7,67% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 821 tỷ đồng, tăng 10,45%. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Hai năm 2026 ước đạt 6,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.875 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt tăng 5,71% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,95% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 25,16% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 27,19% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.844 tỷ đồng, tăng 3,74% so với tháng trước và tăng 27,49% so cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 13,56 triệu tấn vận chuyển và 3.595 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 18,33% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 17,50% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.621 tỷ đồng, tăng 21,49%. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Hai năm 2026 ước đạt 189 tỷ đồng, tăng 0,99% so với tháng trước và tăng 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 376 tỷ đồng, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước.  Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Hai năm 2026 ước đạt 28 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 49,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 55 tỷ đồng, tăng 38,61% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Hai ước đạt 3.890 tỷ đồng, tăng 1,56% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 3.556 tỷ đồng, tăng 8,56%; thuế xuất nhập khẩu 334 tỷ đồng, giảm 39,76%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 56 tỷ đồng, giảm 43,35%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 561 tỷ đồng, tăng 117,0%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.393 tỷ đồng, tăng 10,85%; thu thuế thu nhập cá nhân 202 tỷ đồng, giảm 43,21%; các khoản thu về đất 1.157 tỷ đồng, tăng 8,89%;... Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026 T02.2026(Tỷ đồng) 02T.2026(Tỷ đồng) T02.2026T02.2025(%) 02T.202602T.2025(%) Tổng số 3.890 12.879 101,56 121,19 Thu nội địa 3.556 11.983 108,56 124,56 Tr. đó: Thu từ đất 1.157 3.523 108,89 128,34 Thu Hải quan 334 896 60,24 89,05 Tính chung hai tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 12.879 tỷ đồng, tăng 21,19% so với cùng kỳ năm trước và đạt 15,29% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 11.983 tỷ đồng, tăng 24,56%; thuế xuất nhập khẩu 896 tỷ đồng, giảm 10,95%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 183 tỷ đồng, giảm 4,53%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.498 tỷ đồng, tăng 45,16%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 5.443 tỷ đồng, tăng 22,21%; thu lệ phí trước bạ 380 tỷ đồng, tăng 84,36%; thuế thu nhập cá nhân 625 tỷ đồng, giảm 5,47%; các khoản thu về đất 3.523 tỷ đồng, tăng 28,34%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Hai ước đạt 4.256 tỷ đồng, giảm 55,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.458 tỷ đồng, giảm 82,23%; chi thường xuyên 2.799 tỷ đồng, tăng 102,43%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 5.813 tỷ đồng, giảm 54,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.821 tỷ đồng, giảm 80,80%; chi thường xuyên 3.992 tỷ đồng, tăng 23,92%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 1.519 tỷ đồng, tăng 8,59%; chi sự nghiệp y tế 168 tỷ đồng, giảm 11,44%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 25 tỷ đồng, giảm 43,47%; chi đảm bảo xã hội 1.267 tỷ đồng, tăng 182,20%; chi quản lý hành chính 819 tỷ đồng, giảm 5,97%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 28/02/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 312.000 tỷ đồng, tăng 0,87% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 308.700 tỷ đồng, tăng 0,48% và chiếm 98,94% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 3.300 tỷ đồng, tăng 58,05% và chiếm 1,06%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 28/02/2026 đạt 267.000 tỷ đồng, tăng 0,79% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.850 tỷ đồng, tăng 0,57%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 74.150 tỷ đồng, tăng 1,35%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 260.200 tỷ đồng, tăng 0,64%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 6.800 tỷ đồng, tăng 6,67%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 175.315 tỷ đồng, tăng 1,93% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 115.000 tỷ đồng, tăng 2,31%; xuất khẩu 1.710 tỷ đồng, tăng 5,56%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.000 tỷ đồng, tăng 1,05%; công nghiệp hỗ trợ 5.410 tỷ đồng, tăng 1,31%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 195 tỷ đồng, tăng 2,63%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 28/02/2026 ước tính là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,66% dư nợ tín dụng), giảm 7,06% so với với thời điểm 31/12/2025. d) Bảo hiểm xã hội Lũy kế số người tham gia BHXH đến 31/01/2026 là 633.450 người, tăng 5.640 người, tương ứng tăng 0,90% so với tháng trước. Trong đó: BHXH bắt buộc 551.874 người, tăng 5.578 người (tăng 1,02%) so với tháng trước; BHXH tự nguyện 81.576 người, tăng 62 người (tăng 0,08%) so với tháng trước. Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/01/2026 là 533.543 người, tăng 5.279 người (tăng 0,98%) so với tháng trước. Tổng số người tham gia BHYT là 2.786.234 người, giảm 10.680 người (giảm 0,38%) so với tháng trước. Số người tham gia BHYT giảm tập trung chủ yếu tại một số nhóm đối tượng, như: người thuộc hộ nghèo (giảm 1.901 người); người thuộc hộ cận nghèo (giảm 3.061 người); người thuộc hộ gia đình có mức sống trung bình (giảm 13.028 người); người bị nhiễm HIV (giảm 365 người);... Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN trong tháng 01/2026 là 808,2 tỷ đồng, đạt 4,6% kế hoạch BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 01/2026 đạt 988 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 281 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 707 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 01/2026 là 28 tỷ đồng. Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 01/2026 là 291 tỷ đồng, tăng 43,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 121 tỷ đồng; chi KCB nội trú 170 tỷ đồng. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội a) Đời sống dân cư, lao động việc làm Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh Hưng Yên đã thực hiện tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, đảm bảo mọi người dân đều được đón Tết đầm ấm, vui tươi. Tỉnh đã tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ Nhân dân trong dịp Tết, nhất là trong đêm giao thừa. Tỉnh đã rà soát đầy đủ đối tượng theo quy định, thực hiện kịp thời chế độ, chính sách; chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, bảo đảm “mọi người, mọi nhà đều có Tết”, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Tập trung rà soát, nắm chắc tình hình đời sống của nhân dân, người lao động, nhất là đối tượng chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn (người nghèo, người yếu thế...) kịp thời quan tâm, chăm lo, hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Theo dõi, đôn đốc doanh nghiệp chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho công nhân, người lao động. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm Nhân dân vui Xuân, đón Tết an toàn, lành mạnh, tiết kiệm. Công việc sản xuất, kinh doanh thuận lợi, đời sống vật chất, tinh thần nhân dân ổn định và ngày càng được nâng cao. Năm 2025, nhìn chung các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động khắc phục khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, tiền lương và thu nhập ổn định cho người lao động; thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu, điều chỉnh tháng lương, bảng lương phù hợp. Ngoài tiền lương, nhiều doanh nghiệp thực hiện các chế độ phụ cấp, hỗ trợ cho người lao động. Không phát sinh tình trạng nợ lương. Tiền lương bình quân năm 2025 của người lao động trong các doanh nghiệp đạt 7.500.000 đồng/người/tháng, thu nhập bình quân đạt 8.000.000 đồng/người/tháng; mức tiền lương cao nhất 300.000.000 đồng/người/tháng. Về tiền thưởng Tết năm 2026, thưởng Tết Dương lịch bình quân khoảng 500.000 đồng/người, cao nhất 25.000.000 đồng/người; thưởng Tết Âm lịch bình quân từ 6.500.000 đến 8.000.000 đồng/người, cao nhất 300.000.000 đồng/người. Đến thời điểm hiện tại, trong tỉnh không xảy ra tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể. Trong tháng Hai, tổng số lao động được giải quyết việc làm 5.100 người, trong đó xuất khẩu lao động là 310 người. Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 950 người, số người được tư vấn giới thiệu việc làm 3.250 người; tổ chức 02 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 12 doanh nghiệp, 315 người lao động; xin ý kiến dự thảo Bản thỏa thuận hợp tác (MOU) chương trình lao động thời vụ, ký kết với Chính quyền các địa phương của Hàn Quốc; thông báo kế hoạch tuyển chọn lao động Quý I năm 2026 theo Chương trình EPS và danh sách người lao động được doanh nghiệp Hàn Quốc lựa chọn theo Chương trình trình EPS. Xác nhận bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 18 lao động. b) An sinh xã hội Công tác người có công: Tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tính đến ngày 13/02/2026, toàn tỉnh đã tặng 222.634 suất quà cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 137.249 triệu đồng, trong đó: có 106.413 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 32.650 triệu đồng; 116.221 suất quà của Tỉnh cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 104.599 triệu đồng. Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà 07 cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh; 150 người có công, thân nhân liệt sĩ tại gia đình và các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công. Công tác hộ nghèo, hộ cận nghèo: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2025 tỉnh Hưng Yên: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 10.335 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 0,99%; tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh 12.134 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 1,16% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025). Đến ngày 14/02/2026, số suất quà đã được tặng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là 46.919 suất với tổng kinh phí trên 28,22 tỷ đồng, trong đó: 29.537 suất quà cho hộ nghèo, kinh phí trên 18,4 tỷ đồng; 17.382 suất quà cho hộ cận nghèo, kinh phí trên 9,8 tỷ đồng (100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh đều nhận được quà nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026), cụ thể: (1) Tặng quà cho hộ nghèo. Kinh phí từ Ngân sách tỉnh: Đã tặng 10.335 suất quà cho 10.335 hộ nghèo trên địa bàn tỉnh, mỗi suất quà trị giá 500.000 đồng bằng tiền mặt với tổng kinh phí 5.167.500.000 đồng; Kinh phí từ Quỹ Vì người nghèo cấp tỉnh: đã tặng 10.335 suất quà cho 10.335 hộ nghèo (đạt tỷ lệ 100%) với tổng số tiền 8,268 tỷ đồng (mỗi suất quà trị giá 800.000 đồng, gồm 500.000 đồng bằng tiền mặt và 300.000 đồng hàng hóa, nhu yếu phẩm thiết yếu); kinh phí từ Quỹ Vì người nghèo cấp xã: đã tặng 1.748 suất quà, kinh phí trên 865 triệu đồng; kinh phí từ nguồn xã hội hóa: đã tặng 7.119 suất, kinh phí trên 4,1 tỷ đồng. (2) Tặng quà cho hộ cận nghèo. Kinh phí từ Quỹ Vì người nghèo cấp xã: đã tặng 2.894 suất quà, kinh phí trên 1,33 tỷ đồng; kinh phí từ nguồn xã hội hóa: đã tặng 14.488 suất, kinh phí trên 8,48 tỷ đồng. Công tác người cao tuổi: Tổng số người cao tuổi được chúc thọ, mừng thọ trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là 93.791 người, với tổng kinh phí khoảng 57 tỷ đồng. Trong đó: - Chúc thọ người cao tuổi 100 tuổi đối với 575 người; được Chủ tịch nước gửi Thiếp chúc thọ, quà mừng thọ 1.000.000 đồng/người (bằng tiền mặt) và 05 mét vải lụa đỏ trị giá 900.000 đồng/người, với tổng kinh phí 1,082 tỷ đồng. - Chúc thọ người cao tuổi 95 tuổi đối với 2.516 người; quà mừng thọ với mức 700.000 đồng/người (bằng tiền mặt) và gói quà (bằng hiện vật) trị giá 300.000 đồng, với tổng kinh phí 2,516 tỷ đồng. - Chúc thọ người cao tuổi thọ 90 tuổi đối với 5.292 người; được Chủ tịch UBND tỉnh gửi Giấy chúc thọ và tặng quà gồm 700.000 đồng/người (bằng tiền mặt) và gói quà (bằng hiện vật) trị giá 300.000 đồng, với tổng kinh phí khoảng 5,292 tỷ đồng. - Người cao tuổi thọ 70, 75, 80, 85 , 91, 92, 93, 94, 96, 97, 98, 99 và trên 100 tuổi là 85.408 người với tổng kinh phí khoảng 48 tỷ đồng; trong đó: + Tuổi 70,75, 80, 85: quà mừng thọ là 500.000 đồng/người. + Tuổi 91,92, 93, 94, 96, 97, 98, 99: quà mừng thọ là 700.000 đồng/người. + Tuổi trên 100: quà mừng thọ là 1.000.000 đồng/người. Công tác trẻ em: Tỉnh tổ chức các hoạt động chăm lo cho trẻ em nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Cụ thể: tổ chức Chương trình “Mùa xuân cho em” tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Tổ chức các hoạt động thăm, tặng, trao học bổng quà cho 591 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn với tổng kinh phí 226.800.000 đồng, trong đó: - Tặng quà cho 468 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, trường giáo dục chuyên biệt, mức quà tặng 300.000 đồng/người, tổng số tiền 140.400.000 đồng. - Tặng quà cho 108 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn tại cộng đồng mức quà tặng 300.000 đồng/trẻ, tổng số tiền là 32.400.000 đồng. - Phối hợp với Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam và Hội Bảo trợ trẻ em Việt Nam nhiễm Điôxin trao tặng 15 suất học bổng cho 15 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại cộng đồng, mức hỗ trợ 3.600.000 đồng/trẻ, tổng số tiền là 54.000.000 đồng. 3. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Trong tháng qua, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 diễn ra sôi nổi trên địa bàn tỉnh. Tỉnh tổ chức Lễ hội mùa xuân chùa Keo năm 2026; Lễ hội truyền thống Khu Lăng mộ và đền thờ các vị Vua triều Trần, xã Long Hưng; tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh Đức thánh Phạm Bạch Hổ tại đền Mây; tổ chức Triển lãm thư pháp, hát Ca trù và cho chữ đầu xuân tại Văn Miếu Xích Đằng; tổ chức thành công lễ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập vương triều Trần; phục vụ, đón tiếp các đồng chí lãnh đạo tỉnh về dự lễ dâng hương, dâng hoa tại Nhà lưu niệm Bác Hồ, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và Tượng đài Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vào các dịp lễ, Tết và kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương. Phối hợp với Tập đoàn Viettel hoàn thành việc lắp đặt pano, bảng hiệu tại di tích Khu lăng mộ và Đền thờ các vị vua Trần; phối hợp tổ chức chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh tham quan, trải nghiệm đợt 1 năm 2026 với chủ đề “Kết nối di sản lan tỏa hào khí Đông A”; đón tiếp, hướng dẫn và phục vụ trên 300.000 lượt khách đến tham quan, chiêm bái tại các di tích trọng điểm. Tỉnh tổ chức tuyên truyền cổ động trực quan cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể; tổ chức 14 buổi tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô; biểu diễn Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm. Bảo tàng tỉnh trưng bày chuyên đề “Không gian chợ Tết Việt năm 2026”, “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”; phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trưng bày chuyên đề “Xuân về qua bộ sưu tập tranh Tứ Bình”; phối hợp với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình “Vui xuân Bính Ngọ - Sắc màu văn hóa Hưng Yên” tại Bảo tàng Dân tộc học; mở cửa trưng bày đón, phục vụ 3.723 khách tham quan. Thư viện tỉnh: tuyên truyền, giới thiệu sách báo mừng Đảng, mừng Xuân tại Hội Báo Xuân Bính Ngọ; biên soạn và phát hành 01 thư mục, gồm 80 bài trích báo, tạp chí trên các báo Trung ương và địa phương có nội dung về tỉnh Hưng Yên trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục;... Trao đổi báo xuân Bính Ngọ với 33 tỉnh thành trong cả nước. Về nghệ thuật biểu diễn và văn học: Nhà hát Chèo Hưng Yên đã tổ chức 9 buổi nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân trong và ngoài tỉnh, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ; chương trình ca múa nhạc tại Lễ phát động “Tết trồng cây”. Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 110 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 90 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Về thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức giải Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; ban hành Điều lệ giải Vô địch vật trẻ dân tộc, vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; xây dựng Kế hoạch tổ chức giải Cờ tướng tỉnh Hưng Yên năm 2026. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tỉnh duy trì triển khai đồng bộ các giải pháp đáp ứng công tác đào tạo, huấn luyện thường xuyên đối với vận động viên các đội tuyển tỉnh và đội tuyển trẻ; tuyển chọn đảm bảo chỉ tiêu đào tạo 515 VĐV ở các môn thể thao; triển khai phân tuyến đào tạo vận động viên các môn, đối với đội tuyển tỉnh, đội tuyển trẻ năm 2026; kiểm tra, đánh giá, thải loại 09 VĐV ở các môn thể thao. Cử vận động viên Nguyễn Hải Long, môn Taekwondo đi tập huấn đội tuyển Taekwondo trẻ quốc gia. Tập trung huấn luyện, chuẩn bị lực lượng vận động viên tham gia các giải quốc gia và Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. c) Hoạt động du lịch Tỉnh tham gia Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam, Đông Anh, TP Hà Nội; quảng bá, xúc tiến du lịch Hưng Yên tại lễ hội đền Phù Ủng; tổ chức “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026” đợt I với chủ đề “Kết nối Di sản, lan tỏa hào khí Đông A”; viết, đăng tin bài trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube của Trung tâm về các hoạt động du lịch trong tỉnh và trong nước (10 bài, 02 video livestream, 09 video, chia sẻ 35 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 15 link, 05 video từ Báo và Phát thanh, truyền hình Hưng Yên thu hút hơn 3.000 lượt truy cập); biên tập, tái bản ấn phẩm thông tin du lịch: Sách cẩm nang du lịch, sách Hưng Yên - Vùng quê văn hiến, tập gấp lễ hội truyền thống; phối hợp với Trung tâm PT-TH Quân đội sản xuất chương trình “Ký sự ẩm thực” tại tỉnh Hưng Yên; phối hợp VTV3 - Đài THVN biên tập phim quảng bá Du lịch Hưng Yên: “Hành trình tâm linh - Một miền văn hoá”; đẩy mạnh tuyên truyền bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, kinh doanh dịch vụ tại khu du lịch sinh thái Cồn Vành. Tỉnh tiếp tục triển khai Cổng thông tin du lịch thông minh; viết tin bài đăng trên Cổng du lịch. Phối hợp cung cấp thông tin phục vụ xây dựng bản đồ du lịch và số hóa bản đồ du lịch của tỉnh; ấn phẩm thông tin du lịch quảng du lịch. 4. Giáo dục, đào tạo Toàn tỉnh tổ chức các hội nghị sơ kết học kỳ I năm học 2025-2026 đối với cấp học mầm non, phổ thông. Tổ chức hội nghị tập huấn “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động sửa lỗi phát âm nhầm lẫn 2 phụ âm đầu L-N trong cơ sở giáo dục phổ thông”. Hoàn thành tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2025 - 2026, kết quả: (1) Tại Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025 - 2026, tỉnh Hưng Yên có 125 học sinh đoạt giải, bao gồm 16 giải Nhì, 32 giải Ba và 77 giải Khuyến khích. (2) Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2025 - 2026, kết quả: 1.926/3.172 thí sinh đoạt giải (60%), 143 giải Nhất, 373 giải Nhì, 591 giải Ba, 819 giải Khuyến khích. (3) Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh năm học 2025 - 2026, kết quả: 2.358 học sinh đoạt giải, 179 giải Nhất, 467 giải Nhì, 726 giải Ba, 986 giải Khuyến khích. Hướng dẫn thi tuyển sinh đầu cấp; thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2026-2027, ban hành thông báo môn thi thứ ba (môn Tiếng Anh) Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập không chuyên năm học 2026-2027 (Công văn số 299/SGDĐT-QLCL ngày 30/01/2026). Tổ chức tổng kết kết quả kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia các trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, thường xuyên giai đoạn 2021-2025; kết quả: Đến tháng 12/2025, toàn tỉnh có 1.218/1.238 trường mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên hoàn thành công tác tự đánh giá (đạt tỷ lệ 98,38%), 20 trường ngoài công lập chưa thực hiện tự đánh giá do mới thành lập, chưa có đầy đủ các tổ chức, các khối lớp, thời gian đánh giá. Trong đó: Trường mầm non 480/498 trường (tỉ lệ 96,4%); Trường tiểu học 197/197 trường (tỉ lệ 100%); Trường THCS 187/187 trường (tỉ lệ 100%); Trường THPT 79/81 trường (tỉ lệ 97,5%); Trường PT có nhiều cấp học 255/255 trường (tỉ lệ 100%); Trung tâm GDTX, trung tâm GDNN-GDTX 20/20 trung tâm (tỉ lệ 100%). 5. Hoạt động y tế Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ngành Y tế Hưng Yên đã triển khai đồng bộ các phương án trực, cấp cứu và khám chữa bệnh, bảo đảm phục vụ Nhân dân an toàn, thông suốt. Công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm được tăng cường; trên địa bàn không ghi nhận ổ dịch, không xảy ra thiếu thuốc, vật tư y tế. Ngành cũng phối hợp triển khai các hoạt động an sinh xã hội, chăm lo người cao tuổi và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn. Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 02/2026, toàn tỉnh ghi nhận 02 ca mắc sốt xuất huyết, trong đó có 0 ca nội sinh; bệnh do liên cầu lợn 0 ca; SXH 02 ca; Sởi 08 ca; Tay chân miệng 40 ca; Ho gà 0 ca; Lao phổi 17 ca; Viêm gan B 12 ca; Viêm gan C 01 ca; Adeno 02 ca; Cúm 875 ca; Lỵ 0 ca; Quai bị 0 ca; Thủy đậu 0 ca; Tiêu chảy 0 ca ; Viêm gan virut khác 0 ca; Covid 03 ca. Các chùm ca bệnh, ổ dịch, địa bàn nguy cơ được kiểm soát kịp thời, quản lý xử lý nhanh, triệt các ca bệnh, ổ dịch theo quy định, bảo đảm an toàn cho người bệnh và phòng, tránh lây lan dịch bệnh. Tình hình dịch HIV/AIDS: Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 02 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.560 người thuộc 104/104 xã, phường), không có người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.309 bệnh nhân điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT; 1.574 bệnh nhân điều trị Methadone tại 13 cơ sở điều trị ngoại trú trong tỉnh. An toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, ngành chuyên môn đã thành lập 01 đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh, 02 đoàn kiểm tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm: Kiểm tra, giám sát tại 49 cơ sở thực phẩm (02 cơ sở dừng hoạt động, xử phạt vi phạm hành chính 14 cơ sở với tổng số tiền xử phạt là 158.000.000 đồng). Trong tháng 02/2026, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn (>30 người). 6. Công tác vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ Trong tháng 02 năm 2026 (từ ngày 26/01/2026 đến ngày 25/02/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 02 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 12 vụ với số tiền xử phạt 682 triệu đồng. So với tháng 01/2026, số vụ vi phạm giảm 07 vụ, giảm 77,78%; số vụ đã xử lý tăng 09 vụ, tăng 300,0%; số tiền xử phạt tăng 541 triệu đồng, tăng 383,69%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 22 vụ, giảm 91,67%; số vụ đã xử lý giảm 12 vụ, giảm 50,0%; số tiền xử phạt giảm 322,09 triệu đồng, giảm 32,08%. Cộng dồn hai tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường; số vụ đã xử lý vi phạm là 15 vụ với số tiền xử phạt 823 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 40 vụ, giảm 78,43%; số vụ đã xử lý giảm 30 vụ, giảm 66,67%; số tiền xử phạt giảm 1.369,67 triệu đồng, giảm 62,47%.Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/01/2026 đến ngày 14/02/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 05 vụ cháy, không có vụ nổ (xã Bắc Thụy Anh 01 vụ, xã Nam Thụy Anh 01 vụ, xã Nghĩa Trụ 01 vụ, phường Thái Bình 01 vụ, xã Việt Yên 01 vụ); không có người chết và bị thương do cháy. Giá trị thiệt hại về tài sản là 90 triệu đồng. 7. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, tình hình tai nạn giao thông 09 ngày Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026: Toàn tỉnh xảy ra 16 vụ, làm 08 người chết, 11 người bị thương (trong đó: Đường sắt: Không xảy ra. Đường thủy: Không xảy ra). So với Tết Ất Tỵ năm 2025: tăng 02 vụ, tăng 11,11%; tăng 01 người chết, tăng 11,11%; giảm 01 người bị thương, giảm 8,3%. Không xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng. Tình hình ùn tắc giao thông: Tại các điểm tổ chức bắn pháo hoa và các khu vui chơi người dân tập trung đông nên có xuất hiện hiện tượng ùn ứ cục bộ, tuy nhiên lực lượng chức năng đã xây dựng phương án điều tiết và đảm bảo an toàn giao thông kịp thời. Trong 2 ngày cuối đợt nghỉ lễ, các tuyến đường kết nối với thủ đô Hà Nội có xuất hiện hiện tượng ùn tắc do lượng người trở về thủ đô tăng mạnh. Lực lượng chức năng đã nắm được tình hình và điều tiết giao thông kịp thời, chủ động các phương án phân luồng từ xa, kịp thời điều tiết khi lưu lượng phương tiện đông hoặc xảy ra tai nạn trên các tuyến trọng điểm để hạn chế tối đa ùn tắc giao thông, không để xảy ùn tắc kéo dài. Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/01/2026 đến 14/02/2026, toàn tỉnh xảy ra 52 vụ tai nạn giao thông (51 vụ đường bộ và 01 vụ đường thủy), làm chết 23 người (đường bộ), làm bị thương 41 người (đường bộ). So với tháng 01 năm 2026, số vụ tai nạn tăng 03 vụ, tăng 6,12%; số người chết giảm 05 người, giảm 17,86%; số người bị thương tăng 04 người, tăng 10,81%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn tăng 01 vụ, tăng 1,96%; số người chết giảm 07 người, giảm 23,33%; số người bị thương tăng 06 người, tăng 17,14%. Hai tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 101 vụ, làm chết 51 người, bị thương 78 người. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 04 vụ, giảm 3,81%; số người chết giảm 10 người, giảm 16,39%; số người bị thương tăng 16 người, tăng 25,81%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./. Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng Hai và hai tháng năm 2026, Thống kê tỉnh trân trọng báo cáo Cục Thống kê./.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 01 năm 2026
  •   05/02/2026 14:20

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Một năm 2026, các địa phương trong tỉnh tập trung thu hoạch cây rau màu vụ đông, làm đất và chuẩn bị các điều kiện phục vụ sản xuất vụ xuân, đồng thời tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn đàn gia súc, gia cầm nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Đối với cây lâu năm, nhà vườn tiếp tục thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực, đặc sản của tỉnh như cam, bưởi. Hoạt động nuôi trồng thủy sản được duy trì, các cơ sở chủ động thu hoạch và chuẩn bị cho vụ nuôi mới, góp phần giữ vững nhịp độ sản xuất đầu năm. Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau:                  1.1. Nông nghiệp a) Trồng trọt Cây hằng năm Sản xuất vụ đông năm 2026: Theo báo cáo của ngành chức năng, hiện toàn tỉnh đã kết thúc gieo trồng các loại cây vụ đông. Ước tính diện tích gieo trồng một số cây vụ đông như sau: cây ngô 7.335 ha, tăng 1,0% (tăng 73 ha); rau các loại 30.885 ha, tăng 1,87% (tăng 567 ha); khoai lang 2.475 ha, tăng 1,21% (tăng 30 ha); lạc 136 ha, tăng 1,55% (tăng 2 ha); đậu tương 631 ha, tăng 1,32% (tăng 8 ha);... Đến thời điểm này, khoảng 41.500 ha cây vụ đông đã cho thu hoạch, tập trung chủ yếu ở các nhóm cây như: ngô, khoai tây sớm và rau màu các loại. Thời gian qua, nhìn chung thời tiết tương đối thuận lợi cho sản xuất vụ đông, kết hợp với việc chủ động bố trí thời vụ và áp dụng các biện pháp kỹ thuật đã giúp cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, năng suất cơ bản ổn định. Các địa phương tiếp tục đẩy mạnh mở rộng diện tích cây vụ đông trên đất hai vụ lúa, tận dụng tối đa quỹ đất nông nghiệp nhằm nâng cao hệ số sử dụng đất và gia tăng giá trị sản xuất trên một đơn vị diện tích. Vụ đông năm 2026, các địa phương trong tỉnh tập trung khuyến khích nông dân phát triển sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung, nâng cao chất lượng nông sản, đẩy mạnh các mô hình sản xuất rau an toàn, rau VietGAP gắn với tiêu thụ sản phẩm. Đồng thời, tăng cường liên kết giữa người sản xuất với doanh nghiệp, hợp tác xã và thương lái nhằm hình thành chuỗi cung ứng ổn định, hạn chế rủi ro về đầu ra cho sản phẩm. Vụ xuân năm 2026: Cùng với việc gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch cây vụ đông, thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã tích cực chuẩn bị các điều kiện để thực hiện kế hoạch gieo trồng vụ xuân năm 2026. Năm nay, toàn tỉnh phấn đấu gieo cấy 95.500 ha lúa xuân. Hiện các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ cày ải, nạo vét thủy lợi nội đồng, lấy đủ nước đổ ải phục vụ làm đất, gieo cấy lúa, chủ động nguồn cung giống lúa, phân bón. Theo kế hoạch đổ ải của tỉnh, lịch lấy nước đổ ải chia làm 2 đợt: đợt 1 từ này 01/01/2026 - 25/01/2026; đợt 2 từ ngày 26/01/2026 - 15/02/2026. Toàn tỉnh phấn đấu 100% diện tích có đủ nước phục vụ gieo cấy lúa xuân, bảo đảm khung thời vụ. Cây lâu năm Năm 2025, sơ bộ tổng diện tích các loại cây lâu toàn tỉnh đạt 24.635 ha, tăng 1,09% (tăng 266 ha) so với năm trước. Sự gia tăng diện tích chủ yếu tập trung ở nhóm cây ăn quả có giá trị kinh tế cao, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp của tỉnh. Thời điểm cuối năm 2025 và đầu năm 2026, điều kiện thời tiết nhìn chung tương đối thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển. Các nhà vườn hiện đang tập trung thu hoạch các loại cây ăn quả chủ lực như cam, bưởi, đặc biệt là các sản phẩm đặc sản của địa phương như cam đường canh, bưởi Diễn. Đây cũng là thời điểm các nhà vườn tích cực chuẩn bị cây cảnh và hoa phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Hoạt động sản xuất và kinh doanh cây cảnh diễn ra sôi động, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn mở rộng tiêu thụ ra các địa phương lân cận, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân. b) Chăn nuôi Hiện nay, đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định. Dịch bệnh Tả lợn châu Phi đã qua 21 ngày không phát sinh ổ dịch mới. Tuy nhiên, diễn biến thời tiết thay đổi bất lợi, tạo điều kiện cho các loại mầm bệnh phát triển, lây lan và gây bệnh. Cùng với đó, nhu cầu vận chuyển, giết mổ, tiêu thụ động vật và sản phẩm động vật tăng mạnh để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán và lễ hội xuân nên nguy cơ phát sinh dịch bệnh trước, trong và sau Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 vẫn ở mức cao. Để bảo đảm chất lượng sản phẩm chăn nuôi phục vụ thị trường dịp Tết và duy trì phát triển ổn định trong năm mới, ngành chức năng khuyến cáo người chăn nuôi không chủ quan, lơ là trước diễn biến dịch bệnh. Các hộ chăn nuôi cần thực hiện nghiêm các biện pháp vệ sinh, tiêu độc khử trùng chuồng trại và phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi; bảo đảm môi trường thông thoáng, giữ ấm cho đàn vật nuôi; cung cấp đầy đủ dinh dưỡng và thường xuyên theo dõi sức khỏe đàn gia súc, gia cầm để kịp thời phát hiện bệnh. Đồng thời, khi phát hiện dấu hiệu bất thường, người chăn nuôi cần thông báo ngay cho cơ quan thú y để có biện pháp xử lý kịp thời. Ước tính tại thời điểm 31/01/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 12.126 con, tăng 0,15%; đàn bò 84.098 con, tăng 0,34%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.035.971 con, tăng 2,05%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.776 nghìn con, tăng 3,64% (trong đó: đàn gà đạt 17.322 nghìn con, tăng 2,07%) so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng tháng Một dự báo sẽ tăng mạnh để bảo đảm nguồn cung phục vụ dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. c) Lâm nghiệp Tháng Một, tình hình sản xuất lâm nghiệp của Hưng Yên không có biến động lớn. Các số liệu thống kê về diện tích rừng trồng mới tập trung, số vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá không phát sinh trong kỳ báo cáo.  Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Một năm 2026 ước đạt 608 m³, giảm 0,33%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 9,5 nghìn cây, giảm 4,04% so với cùng kỳ năm 2025. d) Sản xuất thủy sản Trong tháng Một, sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Một ước đạt 8.808 tấn, tăng 2,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.362 tấn, tăng 2,92%; tôm 104 tấn, tăng 2,97%; thủy sản khác 3.342 tấn, tăng 2,74%. Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Các cấp, các ngành tăng cường chỉ đạo, quản lý vùng nuôi tập trung và các điểm nuôi cá lồng trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng, nhằm bảo đảm an toàn môi trường và nâng cao hiệu quả sản xuất. Các đối tượng nuôi lồng chủ yếu gồm cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen, trong đó tập trung nhiều ở nhóm cá lăng, cá chép, cá trắm và diêu hồng. Hoạt động nuôi hàu cửa sông tiếp tục được duy trì với quy mô khoảng 2.110 bè, tập trung tại khu vực cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Một ước đạt 17.313 tấn, tăng 3,16% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 6.392 tấn, tăng 2,63%; tôm 93 tấn, tăng 2,78%; thủy sản khác 10.828 tấn, tăng 3,48%. 2. Sản xuất công nghiệp         a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Một tăng 0,09%, trong đó: khai khoáng giảm 1,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,36%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,78%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 9,24%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 18,97%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 17,46%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 9,47%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 3,11%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 2,76%; thức ăn cho gia cầm tăng 2,41%; khí tự nhiên dạng khí tăng 1,72%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 1,69%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 1,44%; điện sản xuất tăng 1,31%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 2,35%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 5,32%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 30,28%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 26,54%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 24,27%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 21,38%; tôm đông lạnh giảm 18,60%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 3,0%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 14,58%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 15,56%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 14,37%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng giảm 8,95%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Một tăng 15,64%, trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 10,96%; chế biến, chế tạo tăng 16,64%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và hơi nước tăng 6,83%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý lý rác thải, nước thải tăng 12,37%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: mạch điện tử tích hợp tăng 94,61%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 39,72%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 37,30%; tôm đông lạnh tăng 37,25%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 34,02%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 32,46%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 30,48%; Nitơrat Amoni tăng 29,59%; quần áo các loại tăng 27,64%; mạch in khác tăng 24,05%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 23,98%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 23,47%; nước khoáng không có ga tăng 20,46%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 9,51%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 10,48%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 37,56%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 81,25%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 39,99%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 6,40%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 5,61%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 2,02%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 1,17%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 11,42%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý Trong tháng Một, tỉnh Hưng Yên tập trung đẩy mạnh các dự án hạ tầng giao thông và khu công nghiệp, với trọng tâm là hoàn thiện mạng lưới kết nối vùng và phát triển đô thị, tiêu biểu là khởi công các công trình giao thông quan trọng, hình thành thêm cụm công nghiệp mới, chuẩn bị cho giai đoạn phát triển bứt phá. Tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Một năm 2026 ước đạt 2.209 tỷ đồng, tăng 7,14%, tương ứng tăng 147 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 5,13% vốn kế hoạch năm. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.242 tỷ đồng, tăng 12,78%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 967 tỷ đồng, tăng 0,68%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/01/2026, toàn tỉnh có 965 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.246,54 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/01/2026, có 5 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 23,78 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 198 dự án, vốn đăng ký là 6.178,31 triệu USD, chiếm 35,82% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 368 dự án, vốn đăng ký 4.475,55 triệu USD, chiếm 25,95% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 213 dự án, vốn đăng ký 2.302,83 triệu USD, chiếm 13,35% tổng vốn đăng ký. 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Một toàn tỉnh ước đạt 27.810 tỷ đồng, tăng 2,63% so với tháng trước và tăng 15,19% so với cùng kỳ năm 2025. Cụ thể như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Một năm 2026 ước đạt 14.648 tỷ đồng, chiếm 52,67% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 5,21% so với tháng trước. Trong đó, các nhóm ngành tăng cao so với tháng trước như: lương thực, thực phẩm tăng 2,57%; hàng may mặc tăng 11,29%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 13,98%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 26,48%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 14,83%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 6,33%; xăng, dầu các loại tăng 4,74%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 3,05%; hàng hóa khác tăng 7,65%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 4,36%. So với cùng kỳ năm trước, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước tháng Một tăng 13,65%. Trong đó, tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so cùng kỳ năm trước và tăng mạnh là các nhóm hàng như: lương thực, thực phẩm tăng 15,12%; hàng may mặc tăng 25,01%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,64%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 25,17%; xăng dầu các loại tăng 8,69%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 20,05%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 56,58%; hàng hóa khác tăng 14,86%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 9,15%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Một ước đạt 1.230 tỷ đồng, tăng 8,17% so với tháng trước và tăng 14,96% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 35 tỷ đồng, tăng 2,82% so với tháng trước và tăng 13,94% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 1.194 tỷ đồng, tăng 8,34% so với tháng trước và tăng 14,99% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Một ước đạt 6 tỷ đồng, giảm 6,74% so với tháng trước và tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước. Hiện là thời điểm giáp Tết Nguyên đán, người dân đang tập trung lao động, sản xuất, kinh doanh, chuẩn bị cho dịp Tết, nên nhu cầu đi du lịch có biến động giảm so với tháng trước. Cùng thời điểm này năm 2025 đang là Tết Nguyên đán Ất Tỵ nên nhu cầu đi du lịch của người dân giảm, vì vậy doanh thu dịch vụ lữ hành tháng Một năm nay tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Một ước đạt 11.926 tỷ đồng, giảm 0,87% so với tháng trước và tăng 17,16% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: Dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 10.652 tỷ đồng tăng 0,02% so với tháng trước và tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 482 tỷ đồng, giảm 9,76% so với tháng trước và tăng 9,05% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 183 tỷ đồng, giảm 4,98% so với tháng trước và tăng 5,76% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 222 tỷ đồng, giảm 8,09% so với tháng trước và tăng 5,47% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 321 tỷ đồng, giảm 4,90% so với tháng trước và tăng 2,13% so với cùng kỳ năm trước. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng Tháng Một năm 2026 là tháng giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, nhu cầu tiêu dùng của người dân trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng dần, tập trung chủ yếu ở các mặt hàng lương thực, thực phẩm và dịch vụ phục vụ Tết. Các cấp, các ngành đã chủ động triển khai các biện pháp bảo đảm cân đối cung - cầu hàng hóa, tăng cường quản lý và bình ổn giá cả nên thị trường hàng hóa trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, không xảy ra tình trạng khan hiếm. So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Một tăng nhẹ - tăng 0,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước, nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 2,57%; còn lại 09 nhóm có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,60%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,55%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,16%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; bưu chính viễn thông tăng 0,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,47%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,47%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Một tăng 1,99%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,14% (lương thực giảm 2,25%; thực phẩm tăng 3,42%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,47%); đồ uống và thuốc lá tăng 4,35%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,78%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,19%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,67%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,17%; bưu chính viễn thông tăng 0,30%; giáo dục tăng 1,11%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,50%; riêng nhóm giao thông giảm 4,99%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 01/2026 tăng 3,60% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng thế giới duy trì xu hướng tăng trước những biến động của thị trường tài chính và kinh tế quốc tế, làm gia tăng vai trò của vàng như kênh tích trữ an toàn. Trong nước, chênh lệch cung - cầu vàng miếng vẫn ở mức cao, cùng với tâm lý nắm giữ vàng của người dân tăng, đã khiến giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến chung của thị trường thế giới. Hiện giá vàng đang ở mức cao nhất trong mấy tháng trở lại đây, bình quân tháng 01/2026, giá vàng xấp xỉ 15.930.800 VNĐ/chỉ. Tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định. Bên cạnh đó, chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đã góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 01/2026 giảm 0,35% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.265 VNĐ. 6. Hoạt động vận tải Tháng Một là tháng giáp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 nên nhu cầu đi lại của người dân, nhu cầu vận chuyển hàng hóa và nhu cầu về kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tăng, đặc biệt là nhu cầu vận chuyển hàng hóa. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Một ước đạt 2.372 tỷ đồng, tăng 4,67% so với tháng trước và tăng 12,73% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Một ước đạt 5,8 triệu lượt người vận chuyển và 586 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 1,61% về lượt người vận chuyển, tăng 1,24% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 10,66% về lượt người vận chuyển, tăng 21,54% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 399 tỷ đồng, tăng 4,47% so với tháng trước và tăng 7,82% so cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Một ước đạt 6,5 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.678 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt tăng 4,31% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 3,02% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 10,88 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 5,82% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.759 tỷ đồng, tăng 4,87% so với tháng trước và tăng 14,64% so cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Một ước đạt 189 tỷ đồng, tăng 3,36% so với tháng trước và tăng 6,24% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Một ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 14,49% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Một ước đạt 8.379 tỷ đồng, tăng 23,28% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 7.824 tỷ đồng, tăng 23,31%; thuế xuất nhập khẩu 555 tỷ đồng, tăng 22,81%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 126 tỷ đồng, tăng 34,77%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 837 tỷ đồng, tăng 8,30%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 3.629 tỷ đồng, tăng 13,49%; thu thuế thu nhập cá nhân 413 tỷ đồng, tăng 35,05%; các khoản thu về đất 2.306 tỷ đồng, tăng 37,07%;...   b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Một ước đạt 1.555 tỷ đồng, giảm 50,17% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 363 tỷ đồng, giảm 71,63%; chi thường xuyên 1.191 tỷ đồng, giảm 35,21%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 7 tỷ đồng, giảm 66,82%; chi giáo dục, đào tạo 444 tỷ đồng, giảm 39,57%; chi sự nghiệp y tế 22 tỷ đồng, giảm 72,11%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 6 tỷ đồng, giảm 72,93%; chi đảm bảo xã hội 356 tỷ đồng, tăng 20,01%; chi quản lý hành chính 294 tỷ đồng, giảm 48,55%;... Nguyên nhân chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Một giảm mạnh so với cùng kỳ năm trước do hiện nay các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước đang xử lý nốt các khoản chi của năm 2025, có ít đơn vị chi cho năm 2026. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/01/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 311.500 tỷ đồng, tăng 0,71% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 309.400 tỷ đồng, tăng 0,71% và chiếm 99,33% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 2.100 tỷ đồng, tăng 0,57% và chiếm 0,67%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/01/2026 đạt 266.000 tỷ đồng, tăng 0,41% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.500 tỷ đồng, tăng 0,39%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 73.500 tỷ đồng, tăng 0,46%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 259.500 tỷ đồng, tăng 0,37%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 6.500 tỷ đồng, tăng 1,96%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 172.220 tỷ đồng, tăng 0,13% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 112.600 tỷ đồng, tăng 0,18%; xuất khẩu 1.630 tỷ đồng, tăng 0,62%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.455 tỷ đồng, tăng 0,01%; công nghiệp hỗ trợ 5.345 tỷ đồng, tăng 0,09%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 190 tỷ đồng, ổn định so với thời điểm 31/12/2025. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/01/2026 là 1.900 tỷ đồng (chiếm 0,71% dư nợ tín dụng), ổn định so với với thời điểm 31/12/2025. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI1.    Lao động việc làm Năm 2025, nhìn chung các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động khắc phục khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, tiền lương và thu nhập ổn định cho người lao động; thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu, điều chỉnh thang lương, bảng lương phù hợp. Ngoài tiền lương, nhiều doanh nghiệp thực hiện các chế độ phụ cấp, hỗ trợ cho người lao động. Không phát sinh tình trạng nợ lương. Tiền lương bình quân năm 2025 của người lao động trong các doanh nghiệp đạt 7.500.000 đồng/người/tháng, thu nhập bình quân đạt 8.000.000 đồng/người/tháng; mức tiền lương cao nhất 300.000.000 đồng/người/tháng. Về tiền thưởng Tết năm 2026, thưởng Tết Dương lịch bình quân khoảng 500.000 đồng/người, cao nhất 25.000.000 đồng/người; thưởng Tết Âm lịch bình quân từ 6.500.000 đến 8.000.000 đồng/người, cao nhất 300.000.000 đồng/người. Tuy nhiên, vẫn còn một số doanh nghiệp chưa xây dựng kế hoạch thưởng do khó khăn về nguồn lực. Đến thời điểm hiện tại, trong tỉnh không xảy ra tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể. Trong tháng 01/2026, Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh đã ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 1.191 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 2.059 lượt người lao động; tổ chức 01 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 34 người lao động. 2. An sinh xã hội Công tác người có công: Công tác thực hiện chế độ ưu đãi, chăm sóc người có công trong tỉnh được tổ chức triển khai kịp thời, toàn diện. Đã tiếp nhận khoảng 1.300 lượt hồ sơ, tham mưu giải quyết khoảng 1.400 lượt; 100% hồ sơ giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Chủ tịch nước đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-CTN ngày 05/01/2026 về việc tặng quà cho người có công với cách mạng. Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành Nghị quyết số 817/NQ-HĐND ngày 23/12/2025 về Quy định về quà tặng của tỉnh Hưng Yên nhân dịp Tết Nguyên đán và ngày Thương binh - Liệt sĩ đối với đối tượng chính sách người có công với cách mạng; cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công. UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Công tác hộ nghèo, hộ cận nghèo: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2025 tỉnh Hưng Yên: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 10.335 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 0,99%; tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh 12.134 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 1,16% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025). Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, Mặt trận Tổ quốc tỉnh phân bổ 8,268 tỷ đồng từ Quỹ “Vì người nghèo” để tặng quà cho 10.335 hộ nghèo trên địa bàn toàn tỉnh. Mỗi suất quà trị giá 800.000 đồng, gồm 500.000 đồng tiền mặt và 300.000 đồng tiền nhu yếu phẩm thiết yếu, góp phần giúp các gia đình vơi bớt khó khăn, đón Tết cổ truyền ấm áp, đủ đầy. Bên cạnh đó, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh sẽ phối hợp cùng các cơ quan, doanh nghiệp và nhà hảo tâm thông qua nguồn xã hội hóa để mở rộng đối tượng hỗ trợ đến các hộ cận nghèo, người có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và đối tượng bảo trợ xã hội, bệnh nhân có hoàn cảnh khó khăn. Chuẩn bị khoảng 1.500 suất quà để các đồng chí Lãnh đạo tỉnh thăm và tặng quà tại cơ sở. Công tác Người cao tuổi: Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026, UBND tỉnh cấp kinh phí là 54.250.700.000 đồng để tặng quà (bằng tiền mặt) chúc thọ, mừng thọ người cao tuổi ở các mốc tuổi: 70, 75, 80, 85, các cụ ở tuổi 91 đến 99, tròn 100, trên 100 tuổi. Công tác trẻ em: Trích Quỹ Bảo trợ trẻ em tỉnh tổ chức các hoạt động chăm lo cho trẻ em nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Cụ thể: tổ chức Chương trình “Mùa xuân cho em” tại Làng trẻ em SOS Thái Bình; tổ chức thăm, tặng quà cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các trường giáo dục chuyên biệt, cơ sở bảo trợ xã hội; tổ chức thăm, tặng quà trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn tại cộng đồng. Số lượng từ 500 - 600 lượt trẻ em.   3. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Trong tháng, toàn tỉnh tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền cổ động chào mừng 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên (06/01/1946 - 06/01/2026); chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội diễn ra từ ngày 19/01 - 23/01/2026) và chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026). Bảo tàng tỉnh trưng bày chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”, “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”; đón, phục vụ 1.638 khách tham quan tại Bảo tàng tỉnh. Thư viện tỉnh: Tỉnh tổ chức tuyên truyền, giới thiệu sách báo nhân kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương bằng nhiều hình thức, trọng tâm là chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; viết 02 bài giới thiệu sách kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 36 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân; 01 bài giới thiệu sách chuyên đề “Phố Hiến, lịch sử - văn hóa” nhân dịp tổ chức “Hội thảo khoa học - thực tiễn về phục dựng, tái hiện, hồi sinh di sản Phố Hiến gắn với kiến tạo hệ sinh thái du lịch sáng tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay” đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh. Nhà hát Chèo Hưng Yên đã tổ chức 04 buổi nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 110 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 55 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân. Tối ngày 24/01/2026 tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh (trước Trung tâm Thông tin - Hội nghị tỉnh Hưng Yên) đã diễn ra Chương trình nghệ thuật và bắn pháo hoa nổ tầm thấp chào mừng kỷ niệm 96 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930 - 03/02/2026) và chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng. Chương trình được tổ chức nhằm tạo không khí vui tươi, phấn khởi trong các tầng lớp nhân dân, góp phần động viên cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh thi đua thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, chào mừng thành công Đại hội XIV của Đảng và hướng tới các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước. b) Hoạt động thể dục thể thao Tỉnh xây dựng, triển khai kế hoạch đào tạo, huấn luyện, thi đấu năm 2026. Tổ chức đánh giá, thải loại, tuyển vận động viên bảo đảm sĩ số. Tổ chức đào tào, huấn luyện, chuẩn bị lực lượng vận động viên các môn sẵn sàng tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế. Tổ chức kiểm tra y học, kiểm tra thể lực chung, chuyên môn đối với VĐV các môn thể thao trong giai đoạn chuyển tiếp 2025-2026; xây dựng lực lượng vận động viên tham dự Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. c) Hoạt động du lịch Tỉnh xây dựng bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên: Logo huy hiệu cài áo, túi du lịch Hưng Yên, ảnh đẹp du lịch, móc treo chìa khoá; phối hợp với Đài Truyền hình Việt Nam ghi hình 02 phim quảng bá du lịch Hưng Yên trong chương trình Around Việt Nam: “Theo dấu linh thiêng hào khí Đông A”, “Hành trình về miền đất linh thiêng Hưng Yên”; xây dựng Kế hoạch “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026”; xây dựng Kế hoạch tham gia Hội chợ mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam, Đông Anh, thành phố Hà Nội; vận động doanh nghiệp đăng ký tham gia giới thiệu ẩm thực, sản phẩm OCOP tại chương trình Vui Xuân Bính Ngọ - Sắc màu văn hóa Hưng Yên tại Bảo tàng dân tộc học Việt Nam; phối hợp quản lý đất đai tại khu du lịch sinh thái Cồn Vành. Tỉnh đặt 14 bảng quét QR-Code thông tin du lịch tại các điểm trên địa bàn tỉnh; duy trì hoạt động Cổng thông tin du lịch thông minh; viết tin, bài đăng tải trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube về các hoạt động du lịch trong tỉnh thu hút hơn 3.000 lượt truy cập. 4. Hoạt động y tế Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa đông; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng Một, toàn tỉnh không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Cụ thể: Bệnh do liên câu lợn 0 ca; SXH 09 ca; Sởi 06 ca; Tay chân miệng 31 ca; Ho gà 01 ca; Lao phổi 30 ca; Viêm gan B 28 ca; Viêm gan C 06 ca; VN virut khác 0 ca; Adeno 0 ca; Cúm 874 ca; Lỵ 0 ca; Quai bị 0 ca; Thủy đậu 0 ca; Tiêu chảy 0 ca; Covid 01 ca. 5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng qua (từ ngày 26/12/2025 đến ngày 25/01/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 09 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 03 vụ với số tiền xử phạt 141 triệu đồng. So với tháng 12/2025, số vụ vi phạm giảm 09 vụ, giảm 50,0%; số vụ đã xử lý giảm 01 vụ, giảm 25,0%; số tiền xử phạt giảm 286,50 triệu đồng, giảm 67,02%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 18 vụ, giảm 66,67%; số vụ đã xử lý giảm 18 vụ, giảm 85,71%; số tiền xử phạt giảm 1.047,58 triệu đồng, giảm 88,14%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 06 vụ cháy, không có vụ nổ (phường Đường Hào xảy ra 01 vụ; xã Yên Mỹ 01 vụ; xã Nguyễn Văn Linh 01 vụ, xã Như Quỳnh 01 vụ, xã Nam Cường 01 vụ, xã Lạc Đạo 01 vụ); không có người chết và bị thương do cháy. Giá trị thiệt hại về tài sản do cháy là 857 triệu đồng. 6. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/01/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 49 vụ tai nạn giao thông (đều là tai nạn đường bộ), làm chết 28 người, làm bị thương 37 người. So với tháng 12 năm 2025, số vụ tai nạn giảm 07 vụ, giảm 12,50%; số người chết giảm 03 người, giảm 9,68%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 9,76%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 9,26%; số người chết giảm 03 người, giảm 9,68%; số người bị thương tăng 10 người, tăng 37,04%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 11 và 11 tháng năm 2025
  •   19/12/2025 09:57

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản Tháng Mười Một, các địa phương trong tỉnh khẩn trương thu hoạch xong diện tích lúa mùa còn lại; tổ chức gieo trồng, chăm sóc cây rau màu vụ đông; đồng thời tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng lâu năm và bảo đảm an toàn cho đàn gia súc, gia cầm. Kết quả cụ thể như sau:  a) Trồng trọt Cây hằng năm Vụ mùa: Đến nay, toàn tỉnh đã kết thúc thu hoạch lúa mùa. Theo đánh giá từ các địa phương, năng suất gieo trồng lúa mùa ước đạt 59,21 tạ/ha, tăng 34,55% (tăng15,20 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 572.710 tấn, tăng 31,99% (tăng 138.809 tấn) so với vụ mùa năm 2024. Ước tính năng suất gieo trồng và sản lượng gieo trồng một số cây hằng năm vụ mùa như sau: năng suất ngô 58,17 tạ/ha, tăng 30,31% (tăng 13,53 tạ/ha), sản lượng ngô 17.337 tấn, tăng 25,75% (tăng 3.551 tấn); năng suất đậu tương 21,94 tạ/ha, tăng 3,95% (tăng 0,83 tạ/ha), sản lượng đậu tương 1.149 tấn, tăng 0,18% (tăng 2 tấn); năng suất rau các loại 257,38 tạ/ha, tăng 20,32% (tăng 43,47 tạ/ha), sản lượng rau các loại 316.070 tấn, tăng 21,70% (tăng 56.367 tấn). Nguyên nhân chủ yếu khiến năng suất và sản lượng gieo trồng một số cây hằng năm vụ mùa năm nay tăng mạnh so với năm ngoái là do tháng Chín năm 2024, bão số 3 (bão Yagi) có cường độ rất mạnh đổ bộ vào nước ta. Bão và mưa, lũ sau bão đã gây ra đợt mưa lớn tại khắp các tỉnh Bắc Bộ, làm ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp và thủy sản. Sản xuất cây vụ đông năm 2026: Đến ngày 20/11/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng khoảng 39.800 ha các loại cây vụ đông (đạt khoảng 92,3% diện tích). Trong đó: cây ngô 7.495 ha, tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 1.852 ha, tăng 2,03%; đậu tương 199 ha, tăng 4,47%; lạc 170 ha, tăng 3,72%; rau các loại 18.237 ha, tăng 1,79%; đậu các loại 1.100 ha, tăng 1,81%. Nông dân các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ sản xuất; mở rộng diện tích gieo trồng bằng các loại cây ngắn ngày và nhóm cây ưa lạnh như khoai tây, su hào, bắp cải, đồng thời  tăng cường công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đối với diện tích cây vụ đông đã xuống giống. Đối với những diện tích rau màu đến kỳ thu hoạch, nhà nông cần thu hái kịp thời nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh ổn định, các nhà vườn chú trọng phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Ước tính năm 2025, tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm toàn tỉnh đạt 24.427 ha, tăng 0,24%, tương ứng tăng 58 ha so với năm 2024. Trong đó: cây ăn quả 20.888 ha, tăng 0,25% (tăng 52 ha); cây lấy quả chứa dầu 59 ha, tăng 0,25% (tăng 0,15 ha); cây chè diện tích ổn định, đạt 138 ha; cây gia vị và dược liệu lâu năm 1.172 ha, giảm 2,13% (giảm 26 ha); cây lâu năm khác 2.170 ha, tăng 1,46% (tăng 31 ha). Ước tính năng suất một số loại cây lâu năm chủ yếu năm 2025 như sau: chuối 327,15 tạ/ha, tăng 2,30% (tăng 7,34 tạ/ha) so với năm trước; ổi 223,50 tạ/ha, tăng 0,90% (tăng 1,99 tạ/ha); cam 193,52 tạ/ha, tăng 8,79% (tăng 15,64 tạ/ha); bưởi 179,86 tạ/ha, tăng 8,62% (tăng14,28 tạ/ha); táo 164,73 tạ/ha, tăng 4,31% (tăng 6,81 tạ/ha); nhãn 102,42 tạ/ha, tăng 15,58% (tăng 13,80 tạ/ha); vải 146,99 tạ/ha, tăng 6,62% (tăng 9,13 tạ/ha). Ước tính sản lượng một số loại cây lâu năm chủ yếu năm 2025 như sau: chuối 148.353 tấn, tăng 14,68% (tăng 18.985 tấn) so với năm trước; ổi 20.655 tấn, tăng 5,96% (tăng 1.161 tấn); cam 33.875 tấn, tăng 9,11% (tăng 2.827 tấn); táo 7.145 tấn, tăng 4,63% (tăng 316 tấn); nhãn 56.010 tấn, tăng 20,19% (tăng 9.408 tấn); vải 24.475 tấn, tăng 9,70% (tăng 2.164 tấn). Năng suất, sản lượng các cây lâu năm chủ yếu năm 2025 tăng cao so với năm 2024 là do năm 2024, cơn bão số 3 (bão Yagi) và mưa, lũ sau bão đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp. b) Chăn nuôi Trong tháng Mười Một, bệnh dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại các xã cũ và 01 xã mới (xã Hồng Minh). Lũy kế đến ngày 14/11/2025, dịch đã xảy ra tại 439 hộ trên địa bàn 136 thôn của 35 xã. Tổng số lợn đã tiêu huỷ trên địa bàn tỉnh lũy kế đến ngày 14/11/2025 là 12.594 con (735 con lợn nái và 11.859 con lợn thịt); khối lượng lợn tiêu hủy 756.572 kg (khối lượng lợn nái 153.334 kg và khối lượng lợn thịt 603.239 kg). Cùng thời gian này, tỉnh đã triển khai tiêm phòng vắc xin vụ thu đông năm 2025 cho đàn gia súc, gia cầm theo kế hoạch. Công tác giám sát dịch bệnh được tăng cường. Các địa phương chủ động chuẩn bị đầy đủ vật tư, hóa chất và nhân lực, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống dịch bệnh có thể phát sinh. Ước tính tại thời điểm 30/11/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.971 con, tăng 0,61%; đàn bò 83.514 con, tăng 0,47%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.045.754 con, tăng 1,17%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.846 nghìn con, tăng 1,71% (trong đó: đàn gà 16.963 nghìn con, tăng 1,98%) so với cùng thời điểm năm trước. c) Lâm nghiệp Sản xuất lâm nghiệp tháng Mười Một tập trung vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và chuẩn bị trồng bổ sung rừng ngập mặn ven biển. Các xã ven biển có rừng tiếp tục quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có. Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 204 m3, tăng 1,49%; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 52 nghìn cây, tăng 3,61% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế mười một tháng năm 2025, tỉnh đã  trồng mới 7 ha rừng thuộc khu vực Thái Thụy cũ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.194 m³, giảm 0,12%; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.508 nghìn cây, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước. d) Sản xuất thủy sản Tháng Mười Một, tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, hướng tới phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và an toàn thực phẩm. Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Mười Một ước đạt 7.673 tấn, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.760 tấn, tăng 3,02%; tôm 293 tấn, tăng 2,81%; thủy sản khác 1.620 tấn, tăng 2,99%. Lũy kế mười một tháng, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 93.808 tấn, tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 62.458 tấn, tăng 3,57%; tôm đạt 2.020 tấn, tăng 3,11%; thủy sản khác 29.330 tấn, tăng 4,22%. Nuôi trồng thủy sản: cơ quan chuyên môn đã tăng cường chỉ đạo, quản lý vùng nuôi tập trung và các điểm nuôi cá lồng trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng nhằm bảo đảm an toàn môi trường và hiệu quả sản xuất. Các đối tượng thủy sản nuôi trong lồng bao gồm: cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen,... Trong đó, nuôi chủ yếu là cá lăng, chép, trắm và diêu hồng. Nuôi hàu cửa sông đạt 2.110 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú. Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh tháng Mười Một ước đạt 23.476 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 9.140 tấn, tăng 4,09%; tôm 803 tấn, tăng 3,21%; thủy sản khác 13.533 tấn, tăng 3,27%. Lũy kế mười một tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 223.732 tấn, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 91.832 tấn, tăng 2,99%; tôm 5.793 tấn, tăng 3,59%; thủy sản khác 126.107 tấn, tăng 2,78%. 2. Sản xuất công nghiệp Thời gian qua, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều doanh nghiệp đầu tư mới và mở rộng quy mô sản xuất, sản xuất các sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nhiều đơn hàng mới được ký kết, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh. So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười Một tăng 2,46%. Trong đó: khai khoáng tăng 1,11%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,68%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: điện sản xuất tăng 17,87%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 17,10%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 12,11%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 11,88%; thức ăn cho gia cầm tăng 6,79%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 6,25%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 4,12%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 3,27%; quần áo các loại tăng 2,14%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 1,12%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân giảm 7,46%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 5,0%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 31,16%; mạch điện tử tích hợp giảm 8,66%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng giảm 7,85%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 1,41%;... So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Một tăng 15,74%. Trong đó: khai khoáng tăng 11,22%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,76%; sản xuất và phân phối điện tăng 15,61%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,65%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: Nitơrat Amoni tăng 711,93%; mạch điện tử tích hợp tăng 74,40%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 33,55%; gỗ, ốp lát công nghiệp tăng 31,49%; quần áo các loại tăng 17,86%; điện sản xuất tăng 17,45%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 16,71%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 15,14%; thức ăn cho gia cầm tăng 13,11%; điện thương phẩm tăng 11,35%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 10,86%; mạch in khác tăng 10,66%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 10,40%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 23,05%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 20,42%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 23,85%; dây thép không gỉ tăng 46,36%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 46,37%; giày dép khác chưa được phân vào đâu giảm 39,53%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 24,72%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 16,68%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 11,81%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân giảm 32,63%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 39,01%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 21,15%; tôm đông lạnh giảm 9,72%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 8,73%;... Tính chung mười một tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,26% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Cụ thể: chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 16,07%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,66%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 7,26%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 13,50%. Trong đó, hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh đều có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 96,34%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 31,79%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,48%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 19,69%; sản xuất thiết bị điện tăng 19,48%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,51%; sản xuất trang phục tăng 17,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 17,35%;... Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất đồ uống giảm 4,10%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 3,96%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,37%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 3,78%;... Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh trong mười một tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 68,35%; giày dép khác chưa được phân vào đâu tăng 31,89%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 24,76%; quần áo các loại tăng 18,75%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 18,0%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 17,80%; khí tự nhiên dạng khí tăng 16,97%; Nitơrat Amoni tăng 15,17%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 8,35%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 25,50%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 31,57%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 50,98%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 35,77%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 17,22%; mạch điện tử tích hợp giảm 13,66%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 9,47%; tôm đông lạnh giảm 8,59%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 8,25%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 19,62%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 3,40%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Ngày 31/10/2025, tỉnh Hưng Yên đã làm lễ khởi công xây dựng tuyến đường từ phường Thái Bình đi qua xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến (tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên cũ). Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ phường Thái Bình đi qua xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 305/QĐ-UBND ngày 16/7/2025 với tổng mức đầu tư 4.927 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách tỉnh, ngân sách Trung ương hỗ trợ. Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 2 tỉnh làm chủ đầu tư, liên danh Công ty Cổ phần xây dựng Xuân Quang, Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn thi công có tổng chiều dài 24,8km, đi qua phường Thái Bình và các xã Nam Tiên Hưng, Tiên Hưng, Hồng Minh, Hưng Hà, Tiên La và Ngự Thiên, với điểm đầu tại nút giao với Quốc lộ 10, thuộc phường Thái Bình, điểm cuối tại đầu cầu vượt sông Luộc, thuộc xã Ngự Thiên. Toàn tuyến có 8 cây cầu và 9 nút giao cùng mức, bảo đảm an toàn, thông suốt và kết nối liên hoàn với hạ tầng hiện hữu. Thời gian thực hiện dự kiến từ năm 2025 đến năm 2028. Ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Mười Một đạt 5.407 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 77,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.418 tỷ đồng, tăng 11,24% so với tháng trước và tăng 103,42% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.989 tỷ đồng, tăng 2,05% so với tháng trước và tăng 44,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 35.551 tỷ đồng, tăng 54,81% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,97% so với kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 21.020 tỷ đồng, tăng 91,52% so với cùng kỳ năm trước và đạt 66,74% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 14.531 tỷ đồng, tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước và đạt 64,88% kế hoạch năm. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/11/2025, toàn tỉnh có 940 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.814,06 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/11/2025, có 132 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.680,71 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 194 dự án, vốn đăng ký là 6.165,02 triệu USD, chiếm 36,67% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 354 dự án, vốn đăng ký 4.416,19 triệu USD, chiếm 26,26% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 208 dự án, vốn đăng ký 2.287,37 triệu USD, chiếm 13,60% tổng vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 359 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 2.704 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 66 doanh nghiệp, vốn đăng ký 728 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 127 doanh nghiệp, vốn đăng ký 525 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 14 doanh nghiệp, vốn đăng ký 303 tỷ đồng; vận tải kho bãi 34 doanh nghiệp, vốn đăng ký 420 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 19 doanh nghiệp, vốn đăng ký 44 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, vốn đăng ký 39 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 15 doanh nghiệp, vốn đăng ký 46 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh có 4.903 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 66.151 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.996 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 7.146 tỷ đồng (chiếm 10,80% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 1.078 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 24.137 tỷ đồng (chiếm 36,49%); xây dựng 354 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.925 tỷ đồng (chiếm 4,42%); hoạt động vận tải, kho bãi 306 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.041 tỷ đồng (chiếm 3,09%); giáo dục và đào tạo 304 doanh nghiệp, vốn đăng ký 799 tỷ đồng (chiếm 1,21%); kinh doanh bất động sản 193 doanh nghiệp, vốn đăng ký 21.681 tỷ đồng (chiếm 32,78%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 176 doanh nghiệp, vốn đăng ký 707 tỷ đồng (chiếm 1,07%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 116 doanh nghiệp, vốn đăng ký 519 tỷ đồng (chiếm 0,78%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Mười Một (tính từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025) là 69 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 663 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp giải thể là 95 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 86 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh có 641 doanh nghiệp giải thể và 1.604 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 124 doanh nghiệp giải thể và 364 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,34% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 22,69% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 218 doanh nghiệp giải thể và 573 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,01% và 35,72%; kinh doanh bất động sản có 26 doanh nghiệp giải thể và 46 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,06% và 2,87%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 30 doanh nghiệp giải thể và 66 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,68% và 4,11%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một năm 2025 của tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.220 tỷ đồng, tăng 3,62% so với tháng trước và tăng 20,42% so cùng kỳ năm trước. Cộng dồn mười một tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 205.784 tỷ đồng, tăng 8,94% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Mười Một ước đạt 10.718 tỷ đồng (chiếm 44,25% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng), tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 35,16%; hàng may mặc tăng 32,26%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,91%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 22,57%; xăng, dầu các loại tăng 20,41%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 18,93%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 40,0%; hàng hóa khác tăng 15,60%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 15,87%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng thì cũng có những nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm so cùng kỳ năm trước như: đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 15,96%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 13,30%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 7,20%. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 108.084 tỷ đồng, tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước. Có 10/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước là: lương thực, thực phẩm tăng 24,88%; hàng may mặc tăng 19,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,25%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 15,10%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 16,38%; xăng, dầu các loại tăng 13,99%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 17,46%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 31,18%; hàng hóa khác tăng 15,69%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 18,29%. Có 2 nhóm ngành hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ năm trước là: đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 5,52% và vật phẩm, văn hóa giáo dục giảm 1,10%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Mười Một ước đạt 835 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 6,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 34 tỷ đồng, tăng 2,54% so với tháng trước và tăng 10,55% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 801 tỷ đồng, tăng 4,96% so với tháng trước và tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 9.310 tỷ đồng, tăng 16,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 342 tỷ đồng, tăng 14,30%; doanh thu dịch vụ ăn uống 8.968 tỷ đồng, tăng 16,94% do các chi phí sản xuất như giá lương thực, giá điện, giá gas, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Mười Một ước đạt 10 tỷ đồng, tăng 11,15% so với tháng trước và tăng 45,67% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 184 tỷ đồng, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Mười Một ước đạt 12.656 tỷ đồng, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 23,36% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản 11.731 tỷ đồng, tăng 4,83% so với tháng trước và tăng 24,78% so với cùng kỳ năm trước; hành chính và dịch vụ hỗ trợ 331 tỷ đồng, tăng 5,04% so với tháng trước và tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục và đào tạo 158 tỷ đồng, giảm 3,47% so với tháng trước và tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 126 tỷ đồng, tăng 1,40% so với tháng trước và tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 79 tỷ đồng, giảm 0,04% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 231 tỷ đồng, tăng 8,57% so với tháng trước và tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 88.205 tỷ đồng, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm tới 89,49% tổng doanh thu ngành dịch vụ), tăng 0,45%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,67%; giáo dục và đào tạo tăng 8,10%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 8,88%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 21,47%; dịch vụ khác tăng 11,90%. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Một tăng 0,57%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 08 nhóm có chỉ số giá tăng, 03 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,77%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,79%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,61%; giao thông tăng 1,01%; thông tin truyền thông tăng 0,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,34%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 1,01%; giáo dục giảm 0,01%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,26%. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười Một tăng 2,96%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 0,31%, còn các nhóm hàng khác đều có chỉ số giá tăng. Trong đó: nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,88%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,95%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,91%; thông tin truyền thông tăng 0,03%; giáo dục tăng 1,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,13%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,36%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười Một tăng 2,95%. Tất cả các nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,15% (lương thực giảm 3,11%; thực phẩm tăng 2,39%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,67%); đồ uống và thuốc lá tăng 3,95%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,65%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,92%; giao thông tăng 0,21%; thông tin truyền thông tăng 0,11%; giáo dục tăng 1,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,68%. Bình quân chung mười một tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,37%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,98%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,51%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,80%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,0%; giáo dục tăng 1,96%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,17%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,88%; giao thông giảm 2,71%; thông tin truyền thông giảm 0,19%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Trong tháng Mười Một, giá vàng trên thế giới diễn biến tăng trước những thông tin về lãi suất, lạm phát và bất ổn kinh tế toàn cầu, khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một kênh trú ẩn an toàn. Tại Việt Nam, giá vàng miếng và vàng trang sức tăng theo xu hướng chung, đồng thời nhu cầu tích trữ vàng của người dân vào thời điểm cuối năm cũng góp phần đẩy chỉ số giá vàng trong tháng tăng. Chỉ số giá vàng tháng Mười Một trên địa bàn tỉnh tăng 4,15% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 14.903.000 VNĐ/chỉ. Chỉ số giá USD trong tháng Mười Một trên địa bàn tỉnh giảm 0,04% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm nhẹ trong bối cảnh chính sách tiền tệ của Mỹ có tín hiệu nới lỏng hơn, cùng với việc kỳ vọng lạm phát toàn cầu ổn định đã làm giảm sức mạnh của đồng USD. Bên cạnh đó, dòng vốn quốc tế dịch chuyển sang các thị trường mới nổi khi rủi ro toàn cầu hạ nhiệt cũng góp phần làm đồng USD suy yếu. Bình quân tháng 11/2025, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.371 VNĐ. 6. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười Một ước đạt 1.585 tỷ đồng, giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế mười một tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 16.588 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau: a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Mười Một ước đạt 4,09 triệu lượt người vận chuyển và 523 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 15,04% về lượt người vận chuyển và tăng 14,09% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 350 tỷ đồng, tăng 6,46% so cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 41,51 triệu lượt người vận chuyển và 6.305 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 15,81% về lượt người vận chuyển và tăng 31,82% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.802 tỷ đồng, tăng 11,25% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Mười Một ước đạt 4,41 triệu tấn vận chuyển và 1.518 triệu tấn luân chuyển, lần lượt giảm 13,02% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 3,17% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.130 tỷ đồng, tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 53,48 triệu tấn vận chuyển và 16.579 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 4,50% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 12,80% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 11.714 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười Một ước đạt 77 tỷ đồng, tăng 8,43% so với tháng trước và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 851 tỷ đồng, tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Mười Một ước đạt 27 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 29,49% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221 tỷ đồng, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước. 7. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Mười Một ước đạt 6.008 tỷ đồng, tăng 90,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 5.558 tỷ đồng, tăng 106,63%; thuế xuất nhập khẩu 450 tỷ đồng, giảm 4,67%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 107 tỷ đồng, tăng 88,35%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 174 tỷ đồng, giảm 9,51%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.449 tỷ đồng, tăng 137,52%; thu thuế thu nhập cá nhân 281 tỷ đồng, tăng 36,53%; các khoản thu về đất 3.254 tỷ đồng, tăng 138,26%;... Tính chung mười một tháng năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 82.983 tỷ đồng, tăng 75,47% so với cùng kỳ năm trước và đạt 149,77% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 77.342 tỷ đồng, tăng 83,36%; thuế xuất nhập khẩu 5.640 tỷ đồng, tăng 10,36%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.223 tỷ đồng, tăng 20,59%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.866 tỷ đồng, tăng 18,13%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 18.573 tỷ đồng, tăng 17,45%; thu lệ phí trước bạ 1.558 tỷ đồng, tăng 37,19%; thuế thu nhập cá nhân 3.637 tỷ đồng, tăng 61,64%; các khoản thu về đất 46.487 tỷ đồng, tăng 179,15%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Mười Một ước đạt 4.045 tỷ đồng, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 2.188 tỷ đồng, giảm 2,20%; chi thường xuyên 1.857 tỷ đồng, tăng 3,23%. Tính chung mười một tháng năm 2025, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 56.240 tỷ đồng, tăng 46,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 32.378 tỷ đồng, tăng 45,28%; chi thường xuyên 23.863 tỷ đồng, tăng 47,70%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.385 tỷ đồng, tăng 195,37%; chi giáo dục, đào tạo 8.761 tỷ đồng, tăng 22,21%; chi sự nghiệp y tế 1.925 tỷ đồng, tăng 22,29%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 412 tỷ đồng, tăng 42,19%; chi đảm bảo xã hội 2.831 tỷ đồng, tăng 48,61%; chi quản lý hành chính 7.297 tỷ đồng, tăng 99,85%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 30/11/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 306.000 tỷ đồng, tăng 10,04% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 304.500 tỷ đồng, tăng 9,90% và chiếm 99,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.500 tỷ đồng, tăng 47,05% và chiếm 0,49%.  Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/11/2025 đạt 257.500 tỷ đồng, tăng 15,29% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó, phân theo kỳ hạn: dư nợ cho vay ngắn hạn 187.000 tỷ đồng, tăng 12,67%, dư nợ cho vay trung và dài hạn 70.500 tỷ đồng, tăng 22,90%; phân theo loại tiền: dư nợ cho vay bằng nội tệ 250.500 tỷ đồng, tăng 16,28%, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.000 tỷ đồng, giảm 11,64%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 170.550 tỷ đồng, tăng 13,92% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 111.500 tỷ đồng, tăng 12,54%; xuất khẩu 1.600 tỷ đồng, giảm 23,66%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.000 tỷ đồng, tăng 19,68%; công nghiệp hỗ trợ 5.300 tỷ đồng, tăng 6,88%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 150 tỷ đồng, tăng 16,29%. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/11/2025 là 1.800 tỷ đồng (chiếm 0,70% dư nợ tín dụng), giảm 5,91% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch a) Hoạt động văn hoá Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công Lễ hội chùa Keo mùa thu cấp tỉnh năm 2025; phối hợp với Báo và Phát thanh truyền hình thực hiện chương trình “Lưu giữ hồn quê” tại di tích đền thờ các vị vua triều Trần, xã Long Hưng. Tổ chức trưng bày tại Bảo tàng tỉnh chuyên đề “Hưng Yên - Qua miền di sản” chào mừng ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11; chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”. Thực hiện tuyên truyền, trưng bày sách báo, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại: “Chương trình giao lưu các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh khu vực phía Bắc năm 2025 do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức; Tuần lễ Văn hoá, Thể thao, Du lịch Hưng Yên; chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11); tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực quan chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11; ngày Thế giới xoá bỏ bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái 25/11. Thư viện tỉnh tổ chức phục vụ lưu động tại 04 trường: Trường Tiểu học Tân Phong, phường Thái Bình; Trường Tiểu học Kim Đồng, phường Trần Hưng Đạo; Trường Trung học cơ sở Quang Bình, xã Kiến Xương; Trường tiểu học An Đồng, xã A Sào, với 2.881 học sinh tham gia và trên 4.000 lượt sách được luân chuyển, tặng 131 bản sách cho các em học sinh. Về nghệ thuật biểu diễn: Trong tháng, Nhà hát Chèo tổ chức 09 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu là: Chương trình nghệ thuật khai mạc Tuần Văn hóa, thể thao và du lịch Hưng Yên năm 2025; tham gia Liên hoan Chèo toàn quốc - 2025 đạt 01 huy chương bạc cho vở diễn “Sắc đào thắm đỏ” và 04 huy chương vàng, 12 huy chương bạc, 02 nhạc công xuất sắc cho các cá nhân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 109 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 89 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: Toàn tỉnh duy trì tốt phòng trào thể dục thể thao nâng cao sức khỏe trong mọi tầng lớp Nhân dân. Tích cực phối hợp với các ngành, các cấp để phát triển phong trào thể dục thể thao. Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao quần chúng cấp tỉnh, như: Giải Dân vũ, Khiêu vũ, Shuffledance các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; giải đua Xe đạp các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; giải Bóng đá nhi đồng vô địch U10 tỉnh Hưng Yên năm 2025. Thể thao thành tích cao: Đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu 06 giải quốc gia, quốc tế, đạt 60 Huy chương các loại, trong đó có: 23 HCV, 14 HCB, 23 HCĐ. Cụ thể: môn Bơi lặn tham dự thi đấu Giải Lặn vô địch quốc gia năm 2025 tại Thành phố Hà Nội, đạt: 01 HCB, 01 HCĐ; môn Cử tạ tham dự thi đấu Giải vô địch Cử tạ các CLB quốc gia năm 2025 tại tỉnh Thái Nguyên, đạt 01 HCĐ; môn Điền kinh tham dự thi đấu Giải vô địch Điền kinh trẻ quốc gia năm 2025 tại TP. Đà Nẵng, đạt: 03 HCV, 02 HCB, 02 HCĐ; môn Jujitsu tham dự thi đấu Giải vô địch vận động viên xuất sắc Jujitsu quốc gia năm 2025 tại tỉnh Đồng Nai, đạt: 09 HCV, 07 HCB, 08 HCĐ; môn Đua thuyền Rowing tham dự thi đấu Giải Đua thuyền Rowing vô địch U19 và U23 quốc gia năm 2025 tại TP. Hải Phòng, đạt 05 HCV, 02 HCB, 03 HCĐ; môn Pencak Silat tham dự thi đấu Giải vô địch các CLB Pencak Silat quốc gia năm 2025 tại tỉnh Gia Lai, đạt 01HCV, 01HCB, 08HCĐ. Đặc biệt, các vận động viên môn Đua thuyền Rowing của tỉnh được tập trung Đội tuyển Đua thuyền Rowing quốc gia tham dự Giải vô địch Đua thuyền Rowing Châu Á năm 2025 tổ chức tại TP. Hải Phòng. Các VĐV của tỉnh đã đóng góp 05 HCV, 01 HCB vào thành tích của Đội tuyển Đua thuyền Rowing Việt Nam. c) Hoạt động du lịch Thực hiện ghi hình phim quảng bá Du lịch Hưng Yên “Trải nghiệm lễ hội chùa Keo”; viết bài, chụp ảnh tư liệu giới thiệu, quảng bá điểm du lịch Hưng Yên; khảo sát, đánh giá tiềm năng, hiện trạng hạ tầng, dịch vụ du lịch tại các khu, điểm có khả năng khai thác phục vụ du lịch của tỉnh (chùa Từ Vân; làng vườn Bách Thuận, nghệ thuật hát Chèo làng Khuốc, nghệ thuật Múa rối nước, làng làm bánh Cáy Nguyên Xá); phối hợp với Ban Chuyên đề - Khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam sản xuất phim tài liệu “Từ Thăng Long đến Phố Hiến”. Cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị ký kết hợp tác giữa UBND tỉnh Hưng Yên và Tổng Công ty hàng không Việt Nam (VN Airlines) về việc thỏa thuận chương trình hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hưng Yên và Tổng công ty Hàng không Việt Nam - VN Airlines giai đoạn 2026-2030. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tổ chức Chương trình khảo sát và Hội nghị xúc tiến điểm đến du lịch Hưng Yên năm 2025. 2. Hoạt động y tế Ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Tỉnh Hưng Yên đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Tính từ ngày 01/7/2025 đến ngày 23/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 71 ca, không có trường hợp nặng, tử vong. Sốt xuất huyết Dengue: Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 422 ca, không ghi nhận ca tử vong do SXH. Bệnh tay chân miệng: Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 660 ca, không có ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm, nặng hoặc tử vong trên địa bàn. Bệnh Covid-19: Tổng từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 101 ca, không có trường hợp nặng, tử vong, toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định. Bệnh do vi-rút Adeno: Lũy kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 37 ca, rải rác tại các xã, không có trường hợp tử vong. Bệnh Ho gà: Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 23/11/2025, toàn tỉnh có 09 trường hợp ho gà. Hội chứng cúm: Trên địa bàn tỉnh ghi nhận một số trường hợp mắc hội chứng cúm, chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh. 3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Trong tháng Mười Một (từ ngày 26/10/2025 - 25/11/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 14 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 14 vụ với số tiền xử phạt 478 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 3 vụ, tương ứng giảm 17,65%; số vụ đã xử lý tăng 3 vụ, tương đương tăng 27,27%; số tiền xử phạt giảm 556 triệu đồng, tương ứng giảm 53,74%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm tăng 4 vụ, tương ứng tăng 40,0%; số vụ đã xử lý tăng 4 vụ, tương đương tăng 40,0%; số tiền xử phạt giảm 458 triệu đồng, tương đương giảm 48,90%. Lũy kế mười một tháng năm 2025, toàn tỉnh đã phát hiện 168 vụ vi phạm môi trường; đã xử lý 116 vụ với số tiền xử phạt 6.880 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 58 vụ, tương ứng tăng 52,73%; số vụ đã xử lý tăng 57 vụ, tương ứng tăng 96,61%; số tiền xử phạt tăng 2.057 triệu đồng, tương đương tăng 42,65%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,... Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Nam Đông Hưng xảy ra 01 vụ, xã Ân Thi xảy ra 01 vụ, phường Trà Lý xảy ra 01 vụ) và 01 vụ nổ (tại xã Lạc Đạo); không có người chết; có 01 người bị thương do nổ. Lũy kế mười một tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/11/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 36 vụ cháy, nổ (trong đó: 33 vụ cháy và 03 vụ nổ); số người chết do cháy, nổ là 07 người; số người bị thương là 10 người. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ cháy, nổ tăng 01 vụ; số người chết tăng 07 người, số người bị thương tăng 05 người. 4. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025, toàn tỉnh xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông (đều là tai nạn đường bộ), làm chết 36 người, làm bị thương 38 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 06 vụ, giảm 10,53%; số người chết tăng 02 người, tăng 5,88%; số người bị thương giảm 02 người, giảm 5,0%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 14 vụ, giảm 21,54%; số người chết giảm 02 người, giảm 5,26%; số người bị thương giảm 09 người, giảm 19,15%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/11/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 543 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 539 vụ, đường sắt 02 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ); làm chết 324 người (trong đó đường bộ 322 người, đường sắt 01 người, đường thủy nội địa 01 người); làm bị thương 355 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 290 vụ, giảm 34,81%; số người chết giảm 46 người, giảm 12,43%; số người bị thương giảm 276 người, giảm 43,74%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.