Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng sáu và sáu tháng đầu năm 2025
- 04/09/2025 08:04
Từ đầu năm 2025 đến nay, trên thế giới, áp lực lạm phát, nguy cơ suy thoái, cùng với những bất ổn tài chính và xung đột địa chính trị tại một số quốc gia tiếp tục nóng với những diễn biến phức tạp là các yếu tố rủi ro lớn đối với đà phục hồi chung của các quốc gia. Bên cạnh đó, các chính sách thuế quan mới của Mỹ đã tác động mạnh đến dòng chảy thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong nước, nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức như giá nguyên nhiên vật liệu và chi phí vận tải tăng cao, nhất là vận tải biển; sức mua nội địa phục hồi chậm; thị trường xuất khẩu đối mặt với nhiều rào cản thương mại;... Đối với tỉnh Hưng Yên, trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, có những chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đã giúp Hưng Yên đón nhận các dự án đầu tư lớn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025 của tỉnh đạt được những kết quả khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực. I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2025 ước tăng 8,20% so với cùng kỳ năm 2024 (cao hơn 0,74 điểm phần trăm so với 6 tháng năm 2024), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,15% (đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); công nghiệp và xây dựng tăng 9,14% (đóng góp 5,38 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); khu vực thương mại, dịch vụ tăng 7,87% (đóng góp 1,96 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9,45% (đóng góp 0,66 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh). So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 8/11 tỉnh, thành phố và đứng thứ 26/63 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng một số tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Hà Nam tăng 11,09%; Hải Phòng tăng 11,04%; Hải Dương tăng 11,59%; Quảng Ninh tăng 11,03%; Nam Định tăng 11,84%; Thái Bình tăng 8,02%; Vĩnh Phúc tăng 10,07%; Bắc Ninh tăng 7,09%;... Sản xuất nông nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, không có dịch bệnh xảy ra đối với cây trồng và vật nuôi. Năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do diện tích gieo trồng cây hằng năm tiếp tục giảm nên sản lượng hầu hết các loại cây trồng đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, đóng góp vào tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 chủ yếu đến từ lĩnh vực chăn nuôi (ước chăn nuôi tăng trưởng 5,17%). Sản xuất công nghiệp và xây dựng: sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, ở quý II/2025, nguy cơ Mỹ áp thuế cao lên một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, điện tử, linh kiện, đồ gỗ,... đã khiến cho tăng trưởng của khu vực công nghiệp chững lại. Một số ngành chủ lực của tỉnh trong những năm gần đây có mức tăng trưởng thấp, như: ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học chỉ tăng 2,05%; sản xuất xe có động cơ tăng 4,26%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,89%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,82%;... Tuy nhiên, một số ngành vẫn duy trì mức tăng trưởng khá, đóng góp lớn vào tăng trưởng khu vực công nghiệp như: sản xuất trang phục tăng 14,08%; sản xuất giày dép tăng 49,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,31%; sản xuất thuốc, hóa dược tăng 24,57%; sản xuất kim loại tăng 10,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 17,05%; sản xuất máy móc, thiết bị tăng 15,20%;… Hoạt động xây dựng duy trì mức tăng trưởng khá (tăng 12,12%). Đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng của khu vực xây dựng 6 tháng đầu năm 2025 phần lớn là từ hoạt động xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng (ước tăng 74,66%, đóng góp tới 89% tăng trưởng ngành xây dựng). Tuy nhiên, hoạt động xây dựng nhà ở có mức tăng trưởng giảm - ước giảm 15,80% do dự án Dream City tại khu đô thị Vinhomes Văn Giang đã gần hoàn thiện và dự án Khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (Ecopark) cũng đã cơ bản hoàn thành. Khu vực dịch vụ có tăng trưởng đạt 7,87%, cao hơn nhiều so với 6 tháng đầu năm 2024 (6 tháng đầu năm 2024, khu vực dịch vụ tăng 3,05%). Hầu hết các ngành dịch vụ đều duy trì mức tăng trưởng khá, như: thương nghiệp tăng 8,89%; vận tải, kho bãi tăng 8,25%; lưu trú và ăn uống tăng 15,35%; tài chính, ngân hàng tăng 7,81%; quản lý nhà nước tăng 14,49%; giáo dục và đào tạo tăng 12,0%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 11,84%;… 2. Nông nghiệp và thủy sản a) Trồng trọt Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân toàn tỉnh đạt 36.546 ha, giảm 2,58% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa 23.778 ha, giảm 3,47%, tương đương giảm 855 ha. Một số địa phương có diện tích lúa giảm mạnh như huyện Ân Thi (giảm 298 ha); huyện Kim Động (giảm 220 ha); huyện Văn Lâm (giảm 81 ha);... Đây là những địa phương thời gian qua có các dự án khu, cụm công nghiệp triển khai và thu hồi đất như: Khu công nghiệp Thổ Hoàng, Khu công nghiệp số 6, KCN Tân Á Đại Thành, KCN Lý Thường Kiệt,... Diện tích gieo một số cây hàng năm khác như sau: ngô 2.232 ha, giảm 0,88%; cây lấy củ có chất bột 398 ha, giảm 7,30%; cây có hạt chứa dầu 725 ha, giảm 0,41%; cây rau, đậu, hoa các loại 8.362 ha, giảm 0,77%; cây hằng năm khác đạt 714 ha, giảm 31,56% so với cùng kỳ năm trước. Vụ đông xuân năm nay, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho cây trồng sinh trưởng, ít sâu bệnh nên năng suất các loại cây trồng đạt khá. Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến thời điểm ngày 25/6/2025 toàn tỉnh đã thu hoạch được 95% diện tích lúa xuân. Ước tính năng suất một số cây hằng năm vụ đông xuân như sau: lúa 67,59 tạ/ha, tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước; ngô 60,55 tạ/ha, tăng 0,29%; đậu tương 19,16 tạ/ha, tăng 1,24%; rau các loại đạt 256,96 tạ/ha, giảm 0,33%;... Sản lượng lúa ước đạt 160.705 tấn, giảm 3,40% so với cùng kỳ năm trước; ngô đạt 13.517 tấn, giảm 0,60%; đậu tương đạt 605 tấn, giảm 9,84%; rau các loại đạt 191.114 tấn, giảm 1,08%;... Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ làm đất, gieo mạ chuẩn bị cấy lúa mùa. Tính đến ngày 25/6/2025, toàn tỉnh đã làm đất lần 1 đạt 15.210 ha; diện tích đã làm đất lần 2 đạt 4.950 ha; diện tích gieo mạ vụ mùa 945 ha, trong đó: mạ dày xúc 795 ha, mạ sân quy dược 150 ha. Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm của Hưng Yên cơ bản ổn định. Tổng diện tích cây lâu hiện có khoảng 15.804 ha, trong đó chủ yếu là cây ăn quả (diện tích cây ăn quả đạt 14.718 ha, chiếm trên 93% tổng diện tích cây lâu năm, giảm 85 ha so với cùng kỳ năm trước). Ước tính diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như sau: cây chuối 2.612 ha, giảm 0,50% (giảm 13 ha); cam 1.675 ha, giảm 5,30% (giảm 94 ha); bưởi 2.133 ha, giảm 0,40% (giảm 9 ha); cây nhãn 4.902 ha, tương đương năm trước; cây vải 1.377 ha, tăng 1,64% (tăng 22 ha); cây ổi 849 ha, giảm 5,43% (giảm 49 ha);... Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu như sau: chuối đạt 50.500 tấn, giảm 2,48% so với cùng kỳ năm trước; ổi đạt 11.300 tấn, giảm 0,87%; cam đạt 21.245 tấn, tăng 1,70%; táo đạt 4.530 tấn, tăng 4,86%;... Đối với cây nhãn, vải là cây lâu năm chủ lực cho giá trị kinh tế cao của tỉnh, năm nay thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ ra hoa, đậu quả đạt cao, hứa hẹn một mùa bội thu. Ước tính năng suất, sản lượng nhãn, vải năm nay tăng khá so với cùng kỳ năm trước. b) Chăn nuôi Chăn nuôi là ngành có đóng góp lớn nhất và chủ yếu vào tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và thủy sản trong 6 tháng đầu năm (đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn). Từ đầu năm đến nay, giá thịt lợn hơi luôn giữ ở mức cao, dao động từ 65.000 - 70.000 đồng/kg đã thúc đẩy các hộ chăn nuôi yên tâm sản xuất và tái đàn. Số liệu đầu con ước tính tại thời điểm 30/6/2025 như sau: đàn trâu 4.621 con, tăng 4,67%; đàn bò 30.934 con, giảm 0,26%; đàn lợn 462.082 con, tăng 4,41%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 8.886 nghìn con, tăng 2,46%, trong đó, đàn gà ước đạt 6.225 nghìn con, tăng 1,32% so với cùng thời điểm năm trước. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong 6 tháng đầu năm 2025 như sau: thịt trâu 273 tấn, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò 2.204 tấn, tăng 5,71%; thịt lợn 58.041 tấn, tăng 6,86%; thịt gia cầm xuất chuồng (gà, vịt, ngan) đạt 23.837 tấn, tăng 5,88%;... c) Sản xuất thuỷ sản Tổng diện tích nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.435 ha, giảm 1,78%, tương ứng giảm 80 ha so với cùng kỳ năm trước, cùng với khoảng 500 lồng nuôi cá các loại. Ước tính sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm toàn tỉnh đạt 28.511 tấn, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 28.069 tấn, tăng 2,76%; tôm 162 tấn, tăng 5,19%; thủy sản khác 279 tấn, tăng 1,60%. Hoạt động khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục duy trì ở quy mô rất nhỏ (chủ yếu hộ gia đình), chỉ chiếm khoảng 0,93% tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh và có xu hướng giảm dần. Ước tính sản lượng thủy sản khai thác đạt 270 tấn, giảm 2,49 so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 210 tấn, giảm 2,74%; tôm 15 tấn, tương đương năm trước; thủy sản khác 45 tấn, giảm 2,14%. Tình hình sản xuất giống thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định, sản lượng giống cung cấp chủ yếu là cá bột và cá trắm giống, chiếm tới 98%. Sản lượng cá giống đã đáp ứng cho nuôi trồng trên địa bàn tỉnh và cung cấp cho những tỉnh lân cận. Tổng sản lượng giống cung cấp toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.777 triệu con, tăng 5,95% so với cùng kỳ năm 2024. 3. Sản xuất công nghiệp So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Sáu tăng 0,66%, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,45%%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,99%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: thức ăn cho gia cầm tăng 2,19%; quần áo các loại tăng 3,14%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 1,12%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 10,47%; dược phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 3,34%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 8,75%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 6,28%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 5,77%; mạch điện tử tích hợp tăng 7,0%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37,5W tăng 4,21%; máy làm đông lạnh kiểu tủ dung tích không quá 800 lít tăng 77,61%;… Một số sản phẩm có sản lượng sản phẩm sản xuất trong tháng 6 giảm so với tháng 5 như: thức ăn cho gia súc giảm 0,14%; sản phẩm bằng plastic các loại giảm 13,02%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 18,58%; máy phát điện xoay chiều giảm 3,86%; máy điều hòa không khí giảm 11,76%; máy giặt dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10kg vải khô một lần giặt giảm 31,87%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nộn, có tổng trọng tải tối đa >5 tấn và <20 tấn giảm 17,32%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 0,26%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc giảm 7,19%;… So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu tăng 12,75%, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,86%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 28,78%. Trong đó, một số sản phẩm có sản lượng sản phẩm sản xuất tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: quần áo các loại tăng 18,48%; thức ăn cho gia súc tăng 36,98%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 70,46%; dược phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 85,94%; sản phẩm plastic các loại tăng 8,13%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 33,51%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 12,49%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nộn có tổng tải trọng tối đa >5 tấn và <20 tấn tăng 20,69%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 20,07%;… Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp như: sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,85%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 8,37%; mạch điện tử tích hợp giảm 38,89%; mạch in khác giảm 1,0%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 28,73%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu giảm 6,25%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10 kg vải khô một lần giặt giảm 11,10%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50cc giảm 26,68%;… Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,23%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 8,71%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, tái chế phế liệu tăng 36,93%. Một số ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất trang phục tăng 20,28%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 64,28%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,93%; sản xuất kim loại tăng 8,38%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,27%; sản xuất máy móc, thiết bị khác chưa được phân vào đâu tăng 20,14%; sản xuất xe có động cơ tăng 23,89%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 11,17%;…Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh trong những năm gần đây lại có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 2,26%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,85%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,27%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 5,40%;… Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia súc tăng 12,46%; quần áo các loại tăng 12,80%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 65,36%; dược phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 39,53%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 18,01%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 8,29%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 36,95%; mạch in khác tăng 10,83%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu tăng 32,47%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10 kg vải khô một lần giặt tăng 22,06%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nộn có tổng tải trọng tối đa >5 tấn và <20 tấn tăng 37,45%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 16,60%;… Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: rượu Vodka và rượu Cô nhắc giảm 23,19%; cửa sổ, cửa ra vào bằng gỗ giảm 10,65%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước giảm 16,44%; mạch điện tử tích hợp giảm 33,01%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37,5W giảm 7,07%; máy làm đông lạnh kiểu tủ, dung tích không quá 800 lít giảm 70,08%;... 4. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 34.126 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nguồn vốn, khu vực vốn nhà ước đạt 9.348 tỷ đồng, tăng 26,35%; khu vực vốn ngoài nhà nước ước đạt 19.221 tỷ đồng, tăng 0,70%; khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 5.556 tỷ đồng, tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo khoản mục đầu tư, tổng vốn đầu tư sử dụng cho xây dựng cơ bản 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 25.948 tỷ đồng, chiếm 76,04% trong tổng vốn và tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 5.851 tỷ đồng (chiếm 17,15%), tăng 1,54%; vốn đầu tư sửa chữa lớn và nâng cấp sản cố định đạt 1.201 tỷ đồng (chiếm 3,52%), giảm 47,01%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động đạt 1.115 tỷ đồng (chiếm 3,27%), tăng 660,06%; vốn đầu tư khác 10 tỷ đồng, giảm 77,16%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý: 6 tháng đầu năm ước đạt 9.235 tỷ đồng, tăng 46,28% so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 32,07% kế hoạch. Phân theo cấp quản lý, vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý cấp tỉnh ước đạt 5.269 tỷ đồng, tăng 64,20% so với cùng kỳ năm trước và đạt 28,89% kế hoạch; cấp huyện 2.490 tỷ đồng, tăng 73,97% và đạt 37,04% kế hoạch; cấp xã 1.475 tỷ đồng, giảm 11,81% và đạt 38,44% kế hoạch. Hoạt động đầu tư nước ngoài, tính đến 30/6/2025, toàn tỉnh có 650 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 9.410,3 triệu USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 38 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 754,2 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 180 dự án, vốn đăng ký là 3.967,1 triệu USD, chiếm 42,16% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 189 dự án, vốn đăng ký 1.542,3 triệu USD, chiếm 16,39% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 166 dự án, vốn đăng ký 1.467,3 triệu USD, chiếm 15,59% tổng số vốn đăng ký. Về phát triển doanh nghiệp: Tính từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/6/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 1.520 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 23.804 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực: nông, lâm nghiệp và thủy sản 06 doanh nghiệp, vốn đăng ký 50 tỷ đồng; công nghiệp chế biến, chế tạo 346 doanh nghiệp, vốn đăng ký 5.002 tỷ đồng; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 604 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.283 tỷ đồng; xây dựng 88 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.236 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 86 doanh nghiệp, vốn đăng ký 12.663 tỷ đồng; giáo dục và đào tạo 105 doanh nghiệp, vốn đăng ký 128 tỷ đồng; hoạt động vận tải, kho bãi 84 doanh nghiệp, vốn đăng ký 646 tỷ đồng;... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm (tính từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/6/2025) là 199 doanh nghiệp. Trong đó, ngành sản xuất kinh doanh quay lại hoạt động nhiều nhất là bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 69 doanh nghiệp, tiếp đó là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 44 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi 20 doanh nghiệp; xây dựng 13 doanh nghiệp; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp; hoạt động kinh doanh bất động sản 11 doanh nghiệp;… Số doanh nghiệp giải thể trong 6 tháng đầu năm (tính từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/6/2025) là 120 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 664 doanh nghiệp. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy có 41 doanh nghiệp giải thể và 251 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 29 doanh nghiệp giải thể và 153 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; xây dựng có 07 doanh nghiệp giải thể và 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ có 06 doanh nghiệp giải thể và 41 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; kinh doanh bất động sản có 06 doanh nghiệp giải thể và 24 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh;... 5. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu ước tính đạt 9.482 tỷ đồng, tăng 9,01% so với tháng trước và giảm 1,15% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 55.832 tỷ đồng, tăng 6,36% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau: Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Sáu ước đạt 3.165 tỷ đồng, chiếm 33,38% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,60% so với tháng trước và tăng 16,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 22,22%; hàng may mặc tăng 27,24%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 18,13%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 13,55%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,43%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 37,10%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 24,43%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 50,36%;… Duy nhất chỉ có nhóm xăng, dầu các loại có doanh thu giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 18.414 tỷ đồng, tăng 12,69% so với cùng kỳ năm trước. Có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 16,26%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 17,70%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,90%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 28,57%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 33,34%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 23,79%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 20,73%;... Chỉ có nhóm xăng, dầu các loại có doanh thu giảm 8,28% so với cùng kỳ năm trước. Dịch vụ lưu trú và ăn uống: doanh thu tháng Sáu ước đạt 300 tỷ đồng, tăng 5,54% so với tháng trước và tăng 21,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú giảm 2,19% so với tháng trước và tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 22,78% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.753 tỷ đồng, tăng 20,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 72 tỷ đồng, tăng 15,52%; dịch vụ ăn uống 1.680 tỷ đồng, tăng 21,10% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Sáu ước đạt 10,5 tỷ đồng, tăng 12,11% so với tháng trước và tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 37,3 tỷ đồng, tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước. Các chi phí về đi lại (vé máy bay, thuê xe ô tô..), ngủ nghỉ tại các điểm du lịch đều tăng mạnh do ảnh hưởng bởi lạm phát là nguyên nhân chính dẫn tới doanh thu dịch vụ du lịch tăng so với cùng kỳ. Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Sáu ước đạt 6.006 tỷ đồng, tăng 13,55% so với tháng trước và giảm 9,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 35.628 tỷ đồng, tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân doanh thu dịch vụ khác 6 tháng đầu năm tăng thấp chủ yếu là do ngành kinh doanh bất động sản chiếm trên 90% doanh thu dịch vụ khác ghi nhận doanh thu giảm mạnh ở quý II so với cùng kỳ (quý II giảm 16,57%; 6 tháng tăng 2,09%). Tuy nhiên, một số ngành dịch vụ khác vẫn duy trì mức tăng doanh thu 6 tháng đầu năm đạt khá so với cùng kỳ năm trước như: dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 7,86%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 9,95%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 68,64%; dịch vụ khác tăng 12,88%. 6. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng, đô la Mỹ a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu tăng 0,51%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng là: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,10%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,0%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giao thông tăng 2,94%; bưu chính viễn thông tăng 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,26%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,05%. Nhóm hàng đồ uống, thuốc lá và nhóm dịch vụ giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 1,91%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm có chỉ số tăng, 02 nhóm có chỉ số giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: đồ uống và thuốc lá tăng 1,22%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,35%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,42%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,60%; giao thông tăng 0,77%; bưu chính viễn thông tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,91%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,79%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,02%; giáo dục giảm 0,09%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 3,35%. Trong đó, 9/11 nhóm hàng tiêu dùng chính có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55% (lương thực giảm 1,02%; thực phẩm tăng 0,44%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,01%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,67%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,88%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,76%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,13%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,75%; bưu chính viễn thông tăng 0,28%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,56%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,35%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 1,05%; giáo dục giảm 1,74%. Bình quân chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, 09 nhóm có chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số giá giảm. Cụ thể, hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,61%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,94%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,63%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,48%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,58%; giao thông giảm 4,29%; dịch vụ giáo dục giảm 1,60%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Dù thị trường vàng thế giới liên tục ghi nhận những dao động mạnh bởi ảnh hưởng từ các yếu tố địa chính trị và kinh tế quốc tế như căng thẳng Trung Đông, chính sách tiền tệ của Fed, biến động đồng USD hay xu hướng lợi suất trái phiếu Mỹ, giá vàng trong nước vẫn duy trì xu hướng đi ngang trong những ngày gần đây. Trên địa bàn tỉnh, giá vàng bình quân bình quân tháng 6/2025 xấp xỉ 11.482.000 VNĐ/1 chỉ. Tỷ giá USD trong nước có xu hướng tăng, phản ánh sự thận trọng của thị trường trong bối cảnh chưa có thông tin chính thức liên quan đến kết quả đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ. Bên cạnh đó, việc hoãn áp dụng mức thuế đối ứng với thời hạn 90 ngày của Tổng thống Donald Trump sẽ kết thúc vào đầu tháng 7 tới đang khiến giới đầu tư có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản phòng thủ như đồng USD. Trong tháng 6, giá đồng USD trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ so với tháng trước, giá 1 USD xấp xỉ 26.204 VNĐ. 7. Hoạt động vận tải Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Sáu ước đạt 639 tỷ đồng, tăng 3,88% so với tháng trước và tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 3.681 tỷ đồng, tăng 11,60% so với cùng kỳ năm trước. Vận tải hành khách: vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 1.390 nghìn lượt người vận chuyển và 80.752 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 2,49% về lượt người vận chuyển và giảm 6,54% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 77 tỷ đồng, giảm 5,35%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 8.322 nghìn lượt người vận chuyển và 514.952 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 2,31% về lượt người vận chuyển và 0,42% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 478 tỷ đồng, tăng 0,47%. Vận tải hàng hóa: vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 1.702 nghìn tấn vận chuyển và 225.689 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 25,21% về tấn hàng hóa vận chuyển và 16,66% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 454 tỷ đồng, tăng 15,60%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 9.453 nghìn tấn vận chuyển và 1.284.648 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 15,66% về tấn hàng hóa vận chuyển và 18,66% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.646 tỷ đồng, tăng 12,10%. Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: doanh thu tháng Sáu ước đạt 88 tỷ đồng, tăng 12,50% so với tháng trước và tăng 57,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 439 tỷ đồng, tăng 23,96% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Sáu ước đạt 20 tỷ đồng, giảm 5,63% so với tháng trước và tăng 13,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 119 tỷ đồng, tăng 9,38% so với cùng kỳ năm trước. 8. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Sáu của tỉnh Hưng Yên đạt cao, ước đạt 13.901 tỷ đồng, tăng 462,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa 13.440 tỷ đồng, tăng 541,34%, chủ yếu tăng từ các khoản thu về đất, nếu trừ các khoản thu về đất thì thu nội địa tháng 6 của Hưng Yên tăng 76,43%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 25 tỷ đồng, tăng 188,23%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 141 tỷ đồng, giảm 29,79%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 858 tỷ đồng, tăng 271,37%; thu thuế thu nhập cá nhân 228 tỷ đồng, tăng 78,91%; các khoản thu về đất 11.945 tỷ đồng, tăng 856,94%;... Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 45.692 tỷ đồng, tăng 107,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 43.096 tỷ đồng, tăng 116,58%, đạt 106,09% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 2.596 tỷ đồng, tăng 21,73%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 123 tỷ đồng, tăng 7,35%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2.052 tỷ đồng, tăng 11,35%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 11.377 tỷ đồng, tăng 56,84%; thu lệ phí trước bạ 532 tỷ đồng, tăng 60,35%; thuế thu nhập cá nhân 1.529 tỷ đồng, tăng 51,32%; các khoản thu về đất 27.028 tỷ đồng, tăng 216,59%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Sáu ước đạt 8.220 tỷ đồng, tăng 365,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 5.746 tỷ đồng, tăng 440,12%; chi thường xuyên 2.474 tỷ đồng, tăng 252,13%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 210 tỷ đồng, tăng 149,53%; chi giáo dục, đào tạo 786 tỷ đồng, tăng 228,11%; chi sự nghiệp y tế 231 tỷ đồng, tăng 35,66%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 42 tỷ đồng, tăng 317,51%; chi đảm bảo xã hội 211 tỷ đồng, tăng 343,20%; chi quản lý hành chính 844 tỷ đồng, tăng 549,93%;... Tính chung năm 6 đầu năm 2025, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 23.523 tỷ đồng, tăng 82,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 16.739 tỷ đồng, tăng 82,06%; chi thường xuyên 6.784 tỷ đồng, tăng 82,59%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 437 tỷ đồng, tăng 86,02%; chi giáo dục, đào tạo 2.395 tỷ đồng, tăng 73,15%; chi sự nghiệp y tế 696 tỷ đồng, tăng 38,65%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 126 tỷ đồng, tăng 97,25%; chi đảm bảo xã hội 605 tỷ đồng, tăng 84,45%; chi quản lý hành chính 2.016 tỷ đồng, tăng 121,54%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 30/6/2025 đạt 153.412 tỷ đồng, tăng 5,20% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 152.694 tỷ đồng, tăng 5,21%; phát hành giấy tờ có giá 718 tỷ đồng, tăng 4,30% so với thời điểm 31/12/2024. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến 30/6/2025 đạt 125.112 tỷ đồng, tăng 9.199 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,94% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 91.501 tỷ đồng, tăng 8,41%; dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt 33.611 tỷ đồng, tăng 6,67%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 121.841 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 97,39% tổng dư nợ và tăng 8,62%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 3.271 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,61% tổng dư nợ và giảm 12,55%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 83.538 tỷ đồng, tăng 3,71% so với thời điểm 31/12/2024, chia ra: nông nghiệp, nông thôn 52.895 tỷ đồng, tăng 5,50%; xuất khẩu 1.526 tỷ đồng, giảm 25,87%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 24.268 tỷ đồng, tăng 3,72%; công nghiệp hỗ trợ 4.738 tỷ đồng, giảm 4,45%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 110 tỷ đồng. Về chất lượng tín dụng: ước tính đến 30/6/2025, nợ xấu trên toàn địa bàn là 1.195 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,96% tổng dư nợ, giảm 31 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội Sáu tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp theo các Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình hành động của Chính phủ, Quốc hội và tỉnh Hưng Yên, nhất là Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2025 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025. Tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, tăng cường công tác giải quyết việc làm cho người lao động, tập trung rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng linh hoạt, hiện đại; gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách an sinh xã hội. Trong 6 tháng đầu năm 2025, trên địa toàn tỉnh đã tổ chức thăm, tặng quà 72.613 lượt người có công, gia đình liệt sĩ và 04 tập thể với tổng số tiền gần 43 tỷ đồng nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho 102.792 lượt người, với tổng kinh phí chi trả trên 327 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 6/2025, chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho khoảng 123.200 lượt người có công, với tổng kinh phí chi trả 392 tỷ đồng; tiếp nhận và giải quyết khoảng 2.800 lượt hồ sơ. Quyết định điều dưỡng đối với 7.432 người đến niên hạn điều dưỡng (trong đó: có 2.456 người điều dưỡng tập trung, 4.976 người điều dưỡng tại nhà), với tổng kinh phí trên 24,8 tỷ đồng. Ban hành quyết định cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng đối với 455 người, với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng. Ban hành Quyết định thu hồi số tiền hưởng sai thời điểm đối với 212 trường hợp; quyết định chấm dứt chế độ ưu đãi con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (CĐHH) đối với 269 trường hợp; thu hồi chế độ đối với 40 trường hợp là con đẻ của người hoạt động kháng chiến (HĐKC) bị nhiễm CĐHH không bị dị dạng, dị tật; quyết định thu hồi chế độ đối với 09 trường hợp là người HĐKC bị nhiễm CĐHH và con đẻ của họ do thiếu giấy tờ chứng minh vùng miền. Tiếp tục thực hiện công tác quản lý, điều trị, chăm sóc dinh dưỡng, tập vật lý trị liệu bằng dụng cụ phục hồi chức năng...liệu pháp để nâng cao sức khỏe, phục hồi chức năng cho người có công đang nuôi dưỡng tại Trung tâm Điều dưỡng, Chăm sóc người có công. Triển khai công tác điều dưỡng tập trung đối với 333 người có công và thân nhân liệt sĩ theo kế hoạch. 2. Lao động việc làm Sáu tháng đầu năm 2025, số lao động được giải quyết việc làm trong kỳ đạt 12.694 người (đạt 51,81% kế hoạch năm), tuy giảm 4% so với cùng kỳ năm 2024 nhưng vẫn là con số khả quan trong bối cảnh thị trường lao động có nhiều biến động do tác động của xu hướng tự động hóa và chuyển đổi số. Đặc biệt, lĩnh vực xuất khẩu lao động ghi nhận điểm sáng với 1.885 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài (đạt 60,8% kế hoạch năm, tăng 3% so với cùng kỳ). Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã tổ chức thành công 05 phiên giao dịch việc làm; với 26 đơn vị, doanh nghiệp tham gia; số người được sơ tuyển/phỏng vấn tại phiên giao dịch việc làm: 388 người. Số người lao động được tư vấn về việc làm là 20.752 người. Tư vấn học nghề cho 3.781 người; cập nhật tình hình biến động lao động tại 148 doanh nghiệp; tiếp nhận 2.918 người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trong đó đã ban hành quyết định hưởng cho 2.627 người; 100% lao động đến đăng ký thất nghiệp đều được tư vấn về việc làm, học nghề và được cung cấp thông tin về thị trường lao động. Tỉnh đã tổ chức 01 lớp huấn luyện công tác an toàn lao động cho 130 người lao động làm các công việc độc hại nặng nhọc (nhóm 3) của 70 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kiểm định lại và kiểm định chất lượng sản phẩm, dịch vụ việc làm năm 2024 và 4 tháng đầu năm 2025, với tổng số phiếu là 33.842 phiếu, trong đó kiểm định lại năm 2024 là 12.113 phiếu cho Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh. 3. Hoạt động văn hóa, thể thao a) Hoạt động văn hoá Sáu tháng đầu năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước, của tỉnh diễn ra sôi nổi trong toàn tỉnh. Tổ chức 4 chương trình biểu diễn Ca - Múa - Nhạc; Liên hoan Nghệ thuật quần chúng tỉnh Hưng Yên năm 2025; tham gia Hội diễn toàn quốc “ Tiếng hát Làng Sen” kỷ niệm 135 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nghệ An, giành 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc; tổ chức 4 buổi trình diễn Di sản Văn hóa phi vật thể (Hát Văn, Chầu văn, Xẩm). Thư viện tỉnh tổ chức 3 cuộc trưng bày sách, báo, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn; tuyên truyền giới thiệu 30 lượt sách, báo, tài liệu nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và địa phương trên Website Thư viện tỉnh; tổ chức Hội nghị nói chuyện chuyên đề với chủ đề: “Đọc sâu - Nhớ lâu”, thu hút trên 500 giáo viên và học sinh tham dự; phục vụ, hướng dẫn 500 giáo viên, học sinh trường THPT huyện Văn Giang và 350 em học sinh, giáo viên Trường Mầm non 19/5 TP. Hưng Yên đến tham quan, trải nghiệm tại Thư viện; phối hợp tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4, gồm các hoạt động: Tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách cho học sinh Tiểu học và THCS trên địa tỉnh thu hút 120 em học sinh tham gia; tổ chức chương trình phát động, hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam; nói chuyện chuyên đề, giao lưu về sách và văn hóa đọc; trưng bày, giới thiệu sách, xếp mô hình sách nghệ thuật tại Thư viện tỉnh; tặng trên 500 cuốn sách cho 8 thư viện, tủ sách cơ sở thư viện trường học, bạn đọc tiêu biểu tại Thư viện tỉnh; tổ chức chương trình “Hè vui đọc sách” phục vụ thiếu nhi hè 2025. Nhà hát Chèo tổ chức 40 buổi biểu diễn tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của tỉnh, của đất nước, nổi bật là: Chương trình nghệ thuật chào mừng 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng Xuân Ất Tỵ 2025 tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, TP Hưng Yên; chương trình nghệ thuật Khai mạc trưng bày tranh dân gian Việt Nam và Chợ Tết Việt; chương trình văn nghệ chào mừng khai mạc Hội báo xuân Ất Tỵ 2025 và trưng bày Chuyên đề “Báo chí cách mạng Việt Nam: Một thế kỷ xung trận - Tự hào báo chí Hưng Yên”; biểu diễn tại lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Ất Tỵ 2025 tại Văn Lâm; chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; biểu diễn chương trình nghệ thuật tại hội nghị tổng kết trao giải Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật Hưng Yên; biểu diễn tuyên truyền kỷ niệm 135 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dàn dựng vở mới “Bến sông trăng” để tham dự Liên hoan nghệ thuật sân khấu về hình tượng người chiến sĩ Công an Nhân dân; vở mới “Sắc đào đỏ thắm” để tham dự hội diễn chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2025. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 360 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân (lưu động 70 buổi, tại rạp 290 buổi). Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm tổ chức 2 cuộc trưng bày triển lãm ảnh về một số thành tựu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. b) Hoạt động thể dục thể thao Thể thao quần chúng: toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Phong trào thể thao cho mọi người ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. Các hoạt động thể dục thể thao từ tỉnh đến cơ sở diễn ra sôi nổi, được đông đảo nhân dân tham gia, hưởng ứng, tạo được không khí vui tươi, đoàn kết. Hoạt động TDTT trong lực lượng vũ trang được duy trì thường xuyên, nhiều hoạt động thi đấu, giao lưu TDTT được tổ chức. Chương trình giáo dục thể chất trong trường học được duy trì ổn định; tổ chức các giải thể thao gắn liền với các nội dung trong chương trình Hội khỏe Phù Đổng các cấp. Tỉnh đã tổ chức các giải thể thao quần chúng cấp tỉnh, tạo ra sân chơi bổ ích cho cán bộ, công chức, viên chức, hội viên và học sinh; thường xuyên phối hợp với các Liên đoàn thể thao để phát triển phòng trào tập luyện thể dục thể thao; xây dựng và ban hành kế hoạch thi đấu các giải thể thao quần chúng năm 2025. Trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã tổ chức thành công 9 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh. Thể thao thành tích cao: Tập trung huấn luyện 235 vận động viên ở 14 môn thể thao; chỉ đạo, triển khai kế hoạch huấn luyện năm 2025; đầu tư mua sắm, nâng cấp, sửa chữa trang thiết bị, dụng cụ,... bảo đảm cho công tác huấn luyện; thường xuyên đánh giá, thải loại và tuyển mới vận động viên các môn; chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên sẵn sàng tham gia thi đấu quốc gia, khu vực, quốc tế; xây dựng kế hoạch lực lượng vận động viên chuẩn bị cho Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Trong 6 tháng đầu năm 2025, đoàn thể thao của tỉnh đã tổ chức tập huấn, tham gia thi đấu 9 giải quốc gia, gồm: Karate, Muay, Đua thuyền Rowing, Wushu, Cử tạ, Pencak Silat, Bóng chuyền nữ, Boxing, võ Cổ truyền, đạt 37 huy chương các loại, trong đó 5 HCV, 10 HCB, 22 HCĐ; có 3 VĐV được tập trung các tuyến đội tuyển trẻ và đội tuyển quốc gia. 4. Hoạt động y tế Trong 6 tháng đầu năm 2025, ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm; đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau: Bệnh sởi: lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 26/6/2025, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 758 ca mắc/nghi mắc có địa chỉ tại Hưng Yên (trong đó có 412 trường hợp được phát hiện, chẩn đoán xác định dương tính tại các BV tuyến Trung ương). Tình hình bệnh sởi đang có xu hướng đi xuống. Nhìn chung, các ca mắc đơn lẻ, rải rác tại địa phương, trong đó nhiều nhất tại TP. Hưng Yên, hiện còn 01 ca đang điều trị tại BVĐK tỉnh, 01 ca tại BV Sản Nhi, 02 ca tại BVĐK Hưng Hà sức khỏe ổn định, không có ca nặng, tử vong. Bệnh tay chân miệng: lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 26/6/2025, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 176 ca, tăng 70 ca so với cùng kỳ năm 2024. Hầu hết các ca bệnh được sàng lọc tại bệnh viện khi đến khám và điều trị, không ghi nhận ổ dịch lớn, không có trường hợp tử vong. Bệnh Covid-19: lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 207 ca, không có ca nặng, tử vong. Tình hình một số bệnh truyền nhiễm khác đến ngày 26/6/2025: + Bệnh Ho gà: lũy kế từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 04 ca, chưa có ca tử vong. + Bệnh viêm não Nhật Bản: lũy kế từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 02 ca, không có ca tử vong. + Bệnh viêm màng não do vi rút: ghi nhận 01 ca mắc từ đầu năm 2025, không có ca tử vong. + Bệnh cúm mùa: toàn tỉnh chưa ghi nhận ca bệnh nhiễm cúm A H5N1 và H7N9, số ca mắc cúm mùa từ đầu năm 2025 là 3.407 ca theo hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm. 5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Từ ngày 26/5/2025 đến ngày 25/6/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phát hiện 16 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 03 vụ vi phạm an toàn thực phẩm và 13 vụ vi phạm môi trường. Trong tháng, đã tiến hành khởi tố 02 vụ về vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, các vụ khác đang củng cố hồ sơ. So với cùng kỳ tháng 6 năm 2024, số vụ vi phạm tăng 7 vụ, tương ứng tăng 77,78%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 - 25/6/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 71 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 31 vụ với số tiền xử phạt là 226 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 42 vụ, tăng 144,83%; số vụ đã xử lý tăng 12 vụ, tăng 63,16%; số tiền xử phạt giảm 39 triệu đồng, giảm 14,72%. Số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng cao so với cùng kỳ là do các cơ quan chức năng đang tổ chức thực hiện kiểm tra đợt 1 tại các cơ sở làng nghề. Việc kiểm tra toàn diện lần này được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc bảo vệ môi trường tại các làng nghề, góp phần xây dựng môi trường sống an toàn, bền vững. Nguyên nhân xử phạt chủ yếu về vi phạm quản lý chất thải nguy hại, xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép; không bảo đảm vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm;... Từ ngày 15/5/2025 đến ngày 14/6/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy nhà đơn lẻ tại huyện Kim Động, làm 5 người bị thương, không có người chết. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 - 14/6/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ cháy, không có vụ nổ, làm bị thương 7 người, không có người chết. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ cháy giảm 10 vụ, giảm 43,48%; số người bị thương tăng 5 người, tăng 250,0%. 6. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/5/2025 đến 14/6/2025, toàn tỉnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 14 người, làm bị thương 16 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn và số người bị thương ổn định so với tháng trước; số người chết tăng 3 người, tăng 27,27%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 21 vụ, giảm 47,73%; số người chết tăng 1 người, tăng 7,69%; số người bị thương giảm 22 người, giảm 57,89%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/6/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 141 vụ tai nạn giao thông, làm chết 77 người, làm bị thương 101 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 190 vụ, giảm 57,40%; số người chết giảm 24 người, giảm 23,76%; số người bị thương giảm 214 người, giảm 67,94%./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng năm và 5 tháng đầu năm 2025
- 10/06/2025 15:24
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Sản xuất nông nghiệp và thuỷ sản Nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp tháng Năm của các địa phương là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây lúa, rau màu vụ xuân, chủ động phòng trừ sâu bệnh hại trên cây ăn quả, đồng thời bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm. Tình hình cụ thể như sau: a) Trồng trọt Cây hằng năm Sản xuất vụ xuân: Theo tổng hợp báo cáo của các huyện, thị xã, thành phố, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ xuân toàn tỉnh sơ bộ đạt 29.796 ha, giảm 3,0%, tương ứng giảm 922 ha so với vụ xuân năm trước. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa 23.778 ha, giảm 3,47% (giảm 855 ha); ngô 925 ha, giảm 3,45% (giảm 33 ha); cây lấy củ có chất bột 77 ha, giảm 14,64% (giảm 13 ha); cây có hạt chứa dầu 540 ha, tăng 10,06% (tăng 49 ha); rau các loại 3.347 ha, giảm 2,34% (giảm 80 ha); đậu các loại 178 ha, giảm 0,21% (giảm 0,35 ha); hoa các loại 342 ha, tăng 1,21% (tăng 4 ha); cây hằng năm khác 608 ha, tăng 0,76% (tăng 5 ha). Diện tích vụ xuân tiếp tục giảm chủ yếu ở diện tích trồng lúa, nguyên nhân chính do thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp, phần lớn là mở rộng các khu công nghiệp. Các địa phương có diện tích lúa giảm mạnh như: huyện Ân Thi (giảm 298 ha); huyện Kim Động (giảm 220 ha); huyện Văn Lâm (giảm 81 ha). Vụ xuân năm nay, toàn tỉnh thực hiện 60 mô hình sản xuất lúa tập trung (từ 5 ha trở lên). Các mô hình chủ yếu gieo cấy giống lúa chất lượng cao như: Nếp các loại (268 ha), Bắc thơm số 7 (330 ha),... Hiện nay, lúa trong các mô hình phát triển tốt, dự kiến cho năng suất cao. Các mô hình sản xuất lúa tập trung đã tạo điều kiện thuận lợi để áp dụng cơ giới hóa, tiết kiệm chi phí vật tư nguyên liệu đầu vào, dự kiến cho hiệu quả kinh tế cao hơn sản xuất đại trà từ 1,3 đến 1,5 lần. Trên đồng ruộng hiện đang xuất hiện các loại sâu bệnh phát sinh gây hại cho cây lúa như: rầy nâu, rầy lưng trắng, bệnh đạo ôn, bệnh khô vằn,... Diện tích lúa bị nhiễm sâu bệnh đến ngày 30/5/2025 như sau: bệnh khô vằn diện tích nhiễm 4.345 ha, diện tích phòng trừ 4.799 ha; bệnh bạc lá diện tích nhiễm 193 ha, diện tích phòng trừ 415 ha; bệnh đạo ôn cổ bông diện tích nhiễm 17 ha, diện tích phòng trừ 347 ha; rầy nâu diện tích nhiễm 255 ha, diện tích phòng trừ 244 ha. Hiện nay, các địa phương đang tích cực thu hoạch rau màu vụ xuân, đồng thời đẩy nhanh tiến độ gieo trồng rau màu vụ hè thu. Tính đến ngày 30/5/2025, trên địa bàn tỉnh đã thu hoạch được 3.576 ha rau màu vụ xuân, trong đó: ngô 397 ha; dưa các loại 135 ha; bầu bí các loại 142 ha; lạc, đậu tương 55 ha; dược liệu 70 ha; hoa cây cảnh 97 ha; rau các loại 2.680 ha. Diện tích trồng rau màu vụ hè thu toàn tỉnh đạt 946 ha. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn duy trì ổn định. Đối với cây nhãn, cây vải - cây đặc sản của tỉnh, các hợp tác xã và nhà vườn cần thường xuyên theo dõi diễn biến của thời tiết, áp dụng các biện pháp chăm sóc theo từng thời kỳ phát triển của cây để bảo đảm năng suất, chất lượng vụ nhãn, vải. Hiện nay, cây vải lai chín sớm trên địa bàn tỉnh bắt đầu bước vào vụ thu hoạch. Các nhà vườn tuyệt đối không sử dụng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật để bảo đảm thời gian cách ly, chất lượng quả và an toàn vệ sinh thực phẩm. Năm nay, thời tiết thuận lợi nên dự báo sản lượng vải sẽ đạt khá so với năm 2024. b) Chăn nuôi Từ cuối tháng Tư, ngành chức năng đã thực hiện triển khai tiêm phòng vắc xin phòng chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm vụ xuân hè năm 2025. Đến nay, toàn tỉnh đã hoàn thành công tác tiêm vắc xin phòng 2 bệnh đỏ trên đàn lợn và bệnh tụ huyết trùng trên đàn trâu, bò. Thời gian tới, việc thực hiện tiêm phòng trên các đàn vật nuôi còn lại tiếp tục được thực hiện. Theo kế hoạch, thời gian tiêm phòng vụ xuân hè sẽ kết thúc trong tháng Sáu. Ước tính tại thời điểm 31/5/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 4.643 con, tăng 1,22% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò 30.895 con, tăng 0,80%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 460.623 con, tăng 3,02%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 9.371 nghìn con, tăng 4,15% (trong đó: đàn gà 6.533 nghìn con, tăng 3,78%). c) Sản xuất thủy sản Tình hình sản xuất thuỷ sản của tỉnh tiếp tục ổn định và từng bước đa dạng giống nuôi trồng. Tháng Năm là thời điểm bắt đầu mùa nắng nóng, các hộ nuôi cá cần chủ động các biện pháp chống nắng, chống nóng tại các ao, đầm nuôi để bảo vệ thủy sản; thường xuyên theo dõi, duy trì mực nước trong ao nuôi; thả bèo ở các góc ao để làm chỗ trú ẩn, tránh nắng cho cá, đồng thời bảo đảm chất lượng cá khi xuất bán. Ước tính sản lượng thuỷ sản nuôi trồng của tỉnh trong tháng Năm đạt 4.590 tấn, tăng 4,54%, tương ứng tăng 199 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 4.521 tấn, tăng 4,60% (tăng 199 tấn); tôm 32,5 tấn, tăng 4,84% (tăng 1,50 tấn); thuỷ sản khác 36 tấn, giảm 2,93% (giảm 1,10 tấn). Hoạt động khai thác thuỷ sản trong tỉnh vẫn được duy trì ở quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình, những thuyền đánh cá trên sông phần nhiều là thuyền nhỏ không động cơ, một số người khai thác thuỷ sản không chuyên nghiệp bằng những dụng cụ đơn giản như lưới, vó tranh thủ theo mùa vụ nên sản lượng khai thác được không nhiều. Do đặc điểm của địa phương không có biển, tuy có những sông lớn là sông Hồng, sông Luộc nhưng nguồn lợi thuỷ sản không nhiều nên dự báo trong dài hạn, việc khai thác thuỷ sản vẫn được duy trì tương đối ổn định với sản lượng không cao. 2. Sản xuất công nghiệp So với tháng trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm tăng 1,63%. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,23%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,02%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,02%. Các sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước là: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 10,29%; nước khoáng không có ga tăng 4,49%; quần áo các loại tăng 2,13%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 6,47%; thùng, hộp bằng giấy nhăn và bìa nhăn tăng 0,54%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 10,19%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 12,04%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 6,24%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 3,0%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 1,0%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: thức ăn cho gia súc giảm 0,82%; thức ăn cho gia cầm giảm 1,42%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,84%; sản phẩm bằng plastic giảm 2,0%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 6,27%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 4,29%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 26,57%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 23,07%; mạch điện tử tích hợp giảm 19,68%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 1,47%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W giảm 9,44%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 29,08%:... So với cùng kỳ năm trước, Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm tăng 10,77%, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,75%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 6,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 14,11%. Một số sản phẩm công nghiệp trong tháng Năm có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2024 như: thức ăn cho gia súc tăng 20,79%; thức ăn cho gia cầm tăng 7,35%; quần áo các loại tăng 33,89%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 51,34%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 27,38%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 49,28%; sản phẩm bằng plastic tăng 27,10%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 23,61%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 69,53%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 3,91%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 70,83%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 1,68%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 16,82%; mạch in khác tăng 29,33%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 17,75%;... Bên cạnh đó, các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 24,56%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 25,97%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 4,84%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 10,61%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 17,35%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W giảm 21,41%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 41,18%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 9,64%;... Tính chung năm tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,90%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,49%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 30,74%. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong năm tháng đầu năm có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia súc tăng 8,60%; thức ăn cho gia cầm tăng 5,40%; nước khoáng không có ga tăng 5,51%; quần áo các loại tăng 15,47%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 55,34%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 62,70%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 21,96%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 19,27%; sản phẩm bằng plastic tăng 20,62%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 117,94%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 41,43%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 89,05%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 20,97%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 8,78%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm chủ yếu trong năm tháng đầu năm 2025 có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 25,30%; mạch điện tử tích hợp giảm 30,09%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W giảm 13,64%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 30,94%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 7,46%;... 3. Hoạt động đầu tư a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương Ước tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Năm đạt 1.583 tỷ đồng, tăng 25,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 930 tỷ đồng, tăng 35,18%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 431 tỷ đồng, tăng 69,70%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã 223 tỷ đồng, giảm 31,38%. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 7.414 tỷ đồng, tăng 50,46% so với cùng kỳ năm trước và đạt 25,75% kế hoạch năm. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.298 tỷ đồng, tăng 72,37%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 1.941 tỷ đồng, tăng 69,38%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.175 tỷ đồng, giảm 8,72%. b) Hoạt động đầu tư nước ngoài Tính đến ngày 27/5/2025, toàn tỉnh có 640 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 8.790.376 nghìn USD, trong đó từ đầu năm đến ngày 27/5/2025, có 27 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 189.024 nghìn USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 180 dự án, vốn đăng ký là 3.966.731 nghìn USD, chiếm 45,13% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Hàn Quốc có 163 dự án, vốn đăng ký 1.461.603 nghìn USD, chiếm 16,63% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Trung Quốc có 187 dự án, vốn đăng ký 1.476.000 nghìn USD, chiếm 16,79% tổng số vốn đăng ký. c) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/4/2025 đến ngày 21/5/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 222 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 3.110 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 46 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.115 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 82 doanh nghiệp, vốn đăng ký 304 tỷ đồng; vận tải kho bãi 17 doanh nghiệp, vốn đăng ký 348 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 16 doanh nghiệp, vốn đăng ký 998 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 11 doanh nghiệp, vốn đăng ký 27 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/5/2025, toàn tỉnh có 1.083 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 16.731 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 386 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 1.623 tỷ đồng (chiếm 9,70% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 241 doanh nghiệp, vốn đăng ký 4.249 tỷ đồng (chiếm 25,40%); giáo dục và đào tạo 99 doanh nghiệp, vốn đăng ký 123 tỷ đồng (chiếm 0,73%); xây dựng 67 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.149 tỷ đồng (chiếm 6,87%); hoạt động vận tải, kho bãi 60 doanh nghiệp, vốn đăng ký 541 tỷ đồng (chiếm 3,23%); kinh doanh bất động sản 69 doanh nghiệp, vốn đăng ký 8.289 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 44 doanh nghiệp, vốn đăng ký 208 tỷ đồng (chiếm 1,24%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 39 doanh nghiệp, vốn đăng ký 143 tỷ đồng (chiếm 0,86%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Năm (tính từ ngày 22/4/2025 đến ngày 21/5/2025) là 18 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/5/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 175 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/4/2025 đến ngày 21/5/2025, số doanh nghiệp giải thể là 13 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 42 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/5/2025, toàn tỉnh có 93 doanh nghiệp giải thể và 614 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 20 doanh nghiệp giải thể và 147 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 21,51% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 23,94% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 33 doanh nghiệp giải thể và 228 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 35,48% và 37,13%; kinh doanh bất động sản có 5 doanh nghiệp giải thể và 22 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,38% và 3,58%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 6 doanh nghiệp giải thể và 19 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 6,45% và 3,09%;... 4. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm ước đạt 8.174 tỷ đồng, tăng 5,69% so với tháng trước và giảm 7,35% so với cùng kỳ năm trước. Năm tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 45.826 tỷ đồng, tăng 6,82% so với cùng kỳ năm 2024. Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Năm ước đạt 3.042 tỷ đồng, tăng 0,28% so với tháng trước và tăng 8,76% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng so với tháng trước của một số nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn trong doanh thu bán lẻ như sau: Nhóm hàng lương thực, thực phẩm có doanh thu chiếm tỷ trọng 34,09% doanh thu bán lẻ, giảm 0,18%; nhóm hàng may mặc chiếm 4,63% doanh thu bán lẻ, giảm 3,47%; nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình chiếm 14,79% doanh thu bán lẻ, tăng 0,44%; nhóm hàng vật phẩm văn hóa giáo dục chiếm 0,62% doanh thu bán lẻ hàng hóa, giảm 1,23%; nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng chiếm 11,89% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 2,15%; nhóm hàng ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) chiếm 1,48% doanh thu bán lẻ hàng hóa, giảm 9,66%; nhóm xăng, dầu các loại chiếm 11,84% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 1,35%; nhóm hàng hóa khác chiếm 9,87% doanh thu bán lẻ hàng hóa, giảm 1,13%;... Tính chung năm tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt 15.177 tỷ đồng, tăng 11,38% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ năm tháng của một số nhóm hàng chính như sau: doanh thu bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 14,31%; may mặc tăng 3,89%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 17,30%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 16,71%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,18%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 25,95%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 41,73%; xăng, dầu các loại giảm 10,65%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 22,90%; hàng hoá khác tăng 15,81%;... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Năm ước đạt 296 tỷ đồng, tăng 3,59% so với tháng trước và tăng 20,02% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 14 tỷ đồng, tăng 1,18% so với tháng trước và tăng 17,22% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch ăn uống 282 tỷ đồng, tăng 3,71% so với tháng trước và tăng 20,16% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ nhờ sự đóng góp tích cực của một số doanh nghiệp (Các doanh nghiệp có doanh thu tháng 5 tăng cao so với cùng kỳ là: Công ty TNHH Phú Mỹ tăng 57,26%; Công ty TNHH Khách sạn và Du lịch CROWN tăng 260,45%; Công ty TNHH Hoàng Gia Hương tăng 80,35%; Công ty Cổ phần Hoàng Gia phát triển Việt Nam tăng 88,33%) và các hộ kinh doanh cá thể hoạt động trong lĩnh vực lưu trú và ăn uống trên địa bàn thành phố Hưng Yên và một số huyện có các khu công nghiệp phát triển mạnh như huyện Yên Mỹ, thị xã Mỹ Hào, huyện Văn Lâm. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.464 tỷ đồng, tăng 21,66% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ lưu trú 59 tỷ đồng, tăng 19,96%; dịch vụ ăn uống 1.405 tỷ đồng, tăng 21,74%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Năm ước đạt 9 tỷ đồng, tăng 5,49% so với tháng trước và tăng 26,14% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hàng ước đạt 26 tỷ đồng, giảm 4,32% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Năm ước đạt 4.828 tỷ đồng, tăng 9,55% so với tháng trước và giảm 16,36% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 29.159 tỷ đồng, tăng 3,99% so với cùng kỳ năm trước. Chi tiết các ngành như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản 26.589 tỷ đồng, tăng 3,38%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 928 tỷ đồng, tăng 8,22%; dịch vụ giáo dục và đào tạo 637 tỷ đồng, tăng 7,34%; dịch vụ y tế 297 tỷ đồng, tăng 14,16%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 109 tỷ đồng, tăng 47,75%; dịch vụ khác 598 tỷ đồng, tăng 11,58%. 5. Chỉ số giá a) Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm giảm 0,09%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 04 nhóm có chỉ số giá giảm, 06 nhóm có chỉ số giá tăng và 01 nhóm có chỉ số giá ổn định. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,63%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,03%; giao thông giảm 0,45%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: đồ uống và thuốc lá tăng 0,07%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,80%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,12%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,63%. Riêng nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước. So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm tăng 1,39%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm có chỉ số giá tăng, 03 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,22%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,25%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,41%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,57%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,96%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,78%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 2,12%; bưu chính, viễn thông giảm 0,12%; giáo dục giảm 0,09%. So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm tăng 3,30%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,19% (lương thực giảm 0,52%; thực phẩm tăng 2,69%; ăn uống ngoài gia đình tăng 2,16%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,67%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,84%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,11%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,16%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,73%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,81%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,15%.Các nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 6,27%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; giáo dục giảm 1,69%. Bình quân chung năm tháng đầu năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm tăng giá, 02 nhóm giảm giá và 01 nhóm có chỉ số giá ổn định. Cụ thể, hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,27% (lương thực tăng 2,67%; thực phẩm tăng 3,66%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,50%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,60%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,95%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,51%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,61%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,46%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,43%; giao thông giảm 4,92%; dịch vụ giáo dục giảm 1,69%. Duy nhất nhóm bưu chính, viễn thông có chỉ số giá ổn định so với cùng kỳ năm trước. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Thị trường vàng tại tỉnh Hưng Yên tháng 5/2025 có xu hướng tăng 12,48% so với tháng trước. Thời điểm hiện nay, giá vàng trên thế giới ghi nhận giảm nhẹ do tâm lý lạc quan trở lại của giới đầu tư sau thông tin Mỹ và Trung Quốc đạt được thỏa thuận sơ bộ về thuế quan. Hai nền kinh tế lớn nhất thế giới đã đồng ý giảm mạnh mức thuế nhập khẩu trong vòng 90 ngày, với thuế của Mỹ đối với hàng hóa Trung Quốc giảm từ 145% xuống 30% và thuế quan Trung Quốc áp với hàng hóa của Mỹ giảm từ 125% xuống 10%. Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán toàn cầu sôi động cũng hút dòng tiền khỏi vàng. Dòng tiền trên thị trường đang chuyển hướng rõ rệt sang các tài sản rủi ro như cổ phiếu và tiền điện tử. Tháng 5/2025, giá vàng bình quân xấp xỉ 11.604.999 VNĐ/1 chỉ. Tháng Năm, giá đồng đô la Mỹ tăng nhẹ so với tháng trước, một phần nhờ dự luật cắt giảm thuế và chi tiêu của Tổng thống Donald Trump được Hạ viện thông qua. Trong khi đó, đồng Euro giảm điểm sau khi loạt dữ liệu mới cho thấy bức tranh kinh tế ảm đạm của khu vực đồng tiền chung châu Âu. Trên địa bàn tỉnh, chỉ số giá đồng đô la Mỹ tăng 0,89% so tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.150 VNĐ. 5. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Năm ước đạt 615 tỷ đồng, tăng 4,52% so với tháng trước và tăng 11,80% so với cùng kỳ năm trước. Năm tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 3.031 tỷ đồng, tăng 10,19% so với cùng kỳ năm trước. a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Năm ước đạt 1.420 nghìn lượt người vận chuyển và 84.602 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 4,87% về lượt người vận chuyển và giảm 2,52% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 78 tỷ đồng, giảm 3,26% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 6.974 nghìn lượt người vận chuyển và 428.901 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 3,95% về lượt người vận chuyển và tăng 0,59% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 401 tỷ đồng, tăng 1,75% so với cùng kỳ năm trước. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Năm ước đạt 1.620 nghìn tấn vận chuyển và 217.251 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 31,68% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 16,46% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 447 tỷ đồng, tăng 13,49% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 7.727 nghìn tấn vận chuyển và 1.053.333 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,21% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 18,46% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.189 tỷ đồng, tăng 11,24% so với cùng kỳ năm trước. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Năm ước đạt 74 tỷ đồng, tăng 3,24% so với tháng trước và tăng 22,94% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 346 tỷ đồng, tăng 16,26% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Năm ước đạt 17 tỷ đồng, giảm 15,76% so với tháng trước và tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 95 tỷ đồng, tăng 4,18% so với cùng kỳ năm trước. 6. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Năm ước đạt 3.484 tỷ đồng, giảm 43,62% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 3.036 tỷ đồng, giảm 47,40%; thuế xuất nhập khẩu 448 tỷ đồng, tăng 10,16%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 21 tỷ đồng, giảm 13,57%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 230 tỷ đồng, giảm 18,62%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.054 tỷ đồng, giảm 40,81%; thu thuế thu nhập cá nhân 122 tỷ đồng, giảm 25,21%; các khoản thu về đất 1.519 tỷ đồng, giảm 54,04%;... Tính chung năm tháng đầu năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 29.376 tỷ đồng, tăng 51,25% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,39% so với kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 27.300 tỷ đồng, tăng 54,55%; thuế xuất nhập khẩu 2.076 tỷ đồng, tăng 18,12%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 101 tỷ đồng, giảm 4,11%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.912 tỷ đồng, tăng 16,48%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 10.333 tỷ đồng, tăng 50,05%; thu lệ phí trước bạ 390 tỷ đồng, tăng 39,88%; thuế thu nhập cá nhân 1.140 tỷ đồng, tăng 29,35%; các khoản thu về đất 13.133 tỷ đồng, tăng 80,25%. b) Chi ngân sách nhà nước địa phương Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Năm ước đạt 2.470 tỷ đồng, tăng 84,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.425 tỷ đồng, tăng 100,85%; chi thường xuyên 1.045 tỷ đồng, tăng 66,60%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng ước tính như sau: chi sự nghiệp kinh tế 78 tỷ đồng, tăng 133,20%; chi giáo dục, đào tạo 394 tỷ đồng, tăng 55,32%; chi sự nghiệp y tế 63 tỷ đồng, tăng 47,29%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 20 tỷ đồng, tăng 40,38%; chi đảm bảo xã hội 117 tỷ đồng, tăng 121,97%; chi quản lý hành chính 331 tỷ đồng, tăng 62,57%;... Tính chung năm tháng đầu năm 2025, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 15.096 tỷ đồng, tăng 35,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 10.787 tỷ đồng, tăng 32,67%; chi thường xuyên 4.309 tỷ đồng, tăng 43,03%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên ước tính như sau: chi sự nghiệp kinh tế 222 tỷ đồng, tăng 44,36%; chi giáo dục, đào tạo 1.623 tỷ đồng, tăng 41,92%; chi sự nghiệp y tế 471 tỷ đồng, tăng 41,88%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 82 tỷ đồng, tăng 52,46%; chi đảm bảo xã hội 376 tỷ đồng, tăng 34,15%; chi quản lý hành chính 1.182 tỷ đồng, tăng 51,58%. c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/5/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 152.662 tỷ đồng, tăng 4,69% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 151.938 tỷ đồng, tăng 4,69% và chiếm 99,53% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 724 tỷ đồng, tăng 5,16% và chiếm 0,47%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/5/2025 đạt 123.081 tỷ đồng, tăng 6,18% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 90.201 tỷ đồng, tăng 6,87%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 32.880 tỷ đồng, tăng 4,35%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 119.750 tỷ đồng, tăng 6,76%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 3.331 tỷ đồng, giảm 10,95%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 82.888 tỷ đồng, tăng 2,90% so với thời điểm 31/12/2024, chia ra: nông nghiệp, nông thôn 52.071 tỷ đồng, tăng 3,86%; xuất khẩu 1.477 tỷ đồng, giảm 28,22%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 24.217 tỷ đồng, tăng 3,50%; công nghiệp hỗ trợ 5.023 tỷ đồng, tăng 1,30%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 100 tỷ đồng. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu là 1.145 tỷ đồng (chiếm 0,93% dư nợ tín dụng), giảm 6,66% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch a) Hoạt động văn hóa Trong tháng qua, trên địa bàn tỉnh đã diễn ra nhiều hoạt động thông tin, tuyên truyền cổ động, văn hóa, văn nghệ chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); Ngày Quốc tế Lao động 01/5; 71 năm Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954 - 07/5/2025); 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 -19/5/2025). Cụ thể như: tổ chức Chương trình “Ca - Múa - Nhạc” chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh (TP Hưng Yên); tổ chức Chương trình văn nghệ chào mừng Hội thi xe tuyên truyền lưu động; tổ chức Liên hoan nghệ thuật quần chúng tỉnh Hưng Yên năm 2025; tham gia Hội diễn “Tiếng hát Làng Sen” kỷ niệm 135 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1980 - 19/5/2025) tại tỉnh Nghệ An. Tổ chức 07 buổi xe ô tô lưu động tuyên truyền chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước 30/4; tổ chức Hội thi xe tuyên truyền lưu động chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Từ ngày 28/5 đến hết ngày 29/5/2025, Thường trực Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam tỉnh tổ chức cung rước, tôn trí Xá lợi Đức Phật tại chùa Chuông, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên. Đây là hoạt động vừa đáp ứng nhu cầu tâm linh chính đáng của Nhân dân, vừa mang ý nghĩa văn hóa và ngoại giao. Để thỏa lòng mong ước của Nhân dân được chiêm bái xá lợi Đức Phật, Ban tổ chức lễ cung rước đã mở cửa xuyên đêm ngày 28/5 để đón nhân dân, du khách về chiêm bái Xá lợi Đức Phật. Hoạt động chiêm bái Xá lợi Đức Phật tại chùa Chuông kết thúc vào 23h đêm ngày 29/5/2025, tổ chức cung tiễn Xá lợi Đức Phật vào 12h ngày 30/5/2025. Sự kiện cung nghinh và tôn trí Xá lợi Đức Phật tại chùa Chuông đã thu hút trên 500 nghìn lượt người dân, du khách đến chiêm bái. Thư viện tỉnh tuyên truyền, giới thiệu sách, báo, tài liệu theo chủ đề chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước như: Kỷ niệm 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước; 71 năm chiến thắng Điện Điên Phủ; tuyên truyền, giới thiệu sách hay, sách mới trên website và Facebook của Thư viện tỉnh. Tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4 tại Thư viện tỉnh. Nghệ thuật biểu diễn: Nhà hát Chèo đã biểu diễn vở chèo “Sáng ngời y đức” tại Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam, chào mừng 20 năm thành lập và 55 năm truyền thống Học viện Y - Dược học cổ truyền Việt Nam; biểu diễn văn nghệ chào mừng Đại hội Đảng bộ Ban Tuyên giáo - Dân vận Tỉnh ủy Hưng Yên; dàn dựng, tập luyện vở mới “Sắc đào thắm đỏ” cho Đoàn Nghệ thuật I. Điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh Tổ chức 77 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 67 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân. b) Hoạt động thể dục, thể thao Thể dục, thể thao quần chúng: Phong trào tập luyện thể dục thể thao từ tỉnh đến cơ sở tăng cao. Toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cuộc Vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với việc thực hiện phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và “Chương trình xây dựng nông thôn mới” góp phần tích cực trong việc nâng cao sức khỏe, thể lực và cải thiện đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân. Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công 2 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh là giải Cờ vua, cờ tướng và Bóng chuyền hơi nam, nữ. Thể thao thành tích cao: Đơn vị chuyên môn tập trung cao cho hoạt động huấn luyện vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao; thường xuyên đánh giá, thải loại, tuyển mới bảo đảm lực lượng vận động viên; chuẩn bị lực lượng vận động viên sẵn sàng tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia năm 2025. Trong tháng Năm, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham gia thi đấu 03 giải quốc gia (Boxing, Bóng chuyền nữ, Võ Cổ truyền), đạt 9 huy chương các loại, trong đó: 1 HCV, 3 HCB, 5 HCĐ. 2. Hoạt động y tế Trong tháng qua, tỉnh Hưng Yên tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Luy kế từ đầu năm đến ngày 29/5/2025, toàn tỉnh đã ghi nhận 711 ca mắc/nghi mắc bệnh sởi có địa chỉ tại Hưng Yên (trong đó có 394 trường hợp được phát hiện, chẩn đoán xác định dương tính tại các bệnh viện tuyến trung ương); 148 ca mắc bệnh tay chân miệng; 09 ca bệnh sốt xuất huyết Dengue; 55 ca bệnh mắc Covid-19; 04 ca mắc bệnh ho gà; 01 ca mắc bệnh viêm màng não do vi rút. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa ghi nhận trường hợp tử vong do mắc các bệnh truyền nhiễm trên. Công tác kiểm tra về vệ sinh an toàn thực phẩm được triển khai tại các chợ đầu mối, chợ truyền thống và các siêu thị nhằm tăng cường kiểm soát, xử lý việc sản xuất, kinh doanh thực phẩm giả, kém chất lượng, phòng chống ngộ độc thực phẩm. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh chưa ghi nhận xảy ra vụ ngộ độc thực phẩm nào. 3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Từ ngày 26/4/2025 đến ngày 25/5/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường (trong đó có 8 vụ vi phạm an toàn thực phẩm và 3 vụ vi phạm môi trường), đã xử lý 2 vụ với số tiền xử phạt 27 triệu đồng, còn 9 vụ đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ. Hiện Công an tỉnh đang thực hiện mở đợt cao điểm tổng rà soát, đấu tranh xử lý tội phạm, vi phạm pháp luật về môi trường nên số vụ vi phạm môi trường được phát hiện tăng cao. So với cùng thời điểm năm 2024, số vụ vi phạm đã phát hiện tăng 6 vụ, tương đương tăng 120,0%. Lũy kế 5 tháng đầu năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/5/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 55 vụ vi phạm môi trường, tăng 175,0% so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 31 vụ, tăng 138,46%; số tiền xử phạt 226 triệu đồng, tăng 32,94%. Nguyên nhân xử phạt chủ yếu về vi phạm an toàn thực phẩm; vi phạm quản lý chất thải nguy hại; xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép, vận chuyển cát gây ô nhiễm môi trường;... Từ ngày 15/4/2025 đến ngày 14/5/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 05 vụ cháy tại huyện Văn Lâm (03 vụ), huyện Yên Mỹ (01 vụ) và huyện Khoái Châu (01 vụ); không có người bị thương và người chết do cháy. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/5/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ cháy, làm 02 người bị thương, không có người chết. 4. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/4/2025 đến 14/5/2025, toàn tỉnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 11 người, làm bị thương 16 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 7 vụ, giảm 23,33%; số người chết giảm 1 người, giảm 8,33%; số người bị thương giảm 12 người, giảm 42,86%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 18 vụ, giảm 43,90%; số người chết ổn định so với cùng kỳ năm 2024; số người bị thương giảm 28 người, giảm 63,64%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/5/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 118 vụ tai nạn giao thông, làm chết 63 người, làm bị thương 85 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 169 vụ, giảm 58,60%; số người chết giảm 25 người, giảm 28,41%; số người bị thương giảm 192 người, giảm 69,31%./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2025
- 10/06/2025 15:32
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ1. Sản xuất nông nghiệp và thuỷ sảnNhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp tháng Tư của các địa phương là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây lúa, rau màu vụ xuân, chủ động phòng trừ sâu bệnh hại trên cây ăn quả, đồng thời bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm trước những diễn biến của thời tiết và dịch bệnh trong thời điểm giao mùa.a) Trồng trọtCây hằng nămSản xuất vụ xuân: Theo tổng hợp báo cáo của các huyện, thị xã, thành phố, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ xuân toàn tỉnh sơ bộ đạt 29.785 ha, giảm 3,03% (giảm 932 ha) so với vụ xuân năm trước. Trong đó: diện tích gieo trồng lúa 23.778 ha, giảm 3,47% (giảm 855 ha); ngô 925 ha, giảm 3,40% (giảm 33 ha); cây lấy củ có chất bột 77 ha, giảm 14,60% (giảm 13 ha); cây có hạt chứa dầu 540 ha, tăng 10,06% (tăng 49 ha); rau các loại 3.337 ha, giảm 2,65% (giảm 90 ha); đậu các loại 178 ha, giảm 0,20% (giảm 0,35 ha); hoa các loại 342 ha, tăng 1,24% (tăng 4 ha); cây hằng năm khác 608 ha, tăng 0,69% (tăng 5 ha).Diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ xuân năm nay giảm ở hầu hết các địa phương trong tỉnh. Các huyện có biến động giảm diện tích lớn như: Ân Thi (giảm 316 ha); Kim Động (giảm 202 ha); Phù Cừ (giảm 116 ha); Văn Lâm (giảm 107 ha). Diện tích vụ xuân tiếp tục giảm chủ yếu ở diện tích trồng lúa. Nguyên nhân chính do thực hiện chuyển đổi đất nông nghiệp sang các mục đích phi nông nghiệp, phần lớn là mở rộng các khu công nghiệp. Đối với cây lúa, vụ xuân năm nay, tỉnh tiếp tục gieo cấy nhiều diện tích lúa chất lượng cao như: Bắc thơm số 7 (4.688 ha); Nếp thơm Hưng Yên (2.578 ha); Đài thơm 8 (1.320 ha);... Cùng với đó, tỉnh tăng cường mở rộng diện tích để gieo cấy các giống lúa lai, lúa năng suất cao chiếm khoảng 21-25% diện tích, tiếp tục thực hiện mô hình cánh đồng mẫu lớn tại một số địa phương.Từ khi kết thúc gieo cấy đến nay, nhìn chung điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng, phát triển. Hiện nay, trên đồng ruộng đang xuất hiện sâu bệnh gây hại cho lúa là bệnh đạo ôn lá và bệnh khô vằn, phát triển nhanh chủ yếu trên các giống nhiễm như nếp các loại, Bắc thơm số 7,... đặc biệt ở những ruộng cấy dầy, bón phân không cân đối, bón thừa đạm. Theo báo cáo của ngành chức năng, đến ngày 25/4/2025, diện tích lúa bị nhiễm bệnh đạo ôn là 116 ha, diện tích phòng trừ 303 ha; diện tích lúa bị nhiễm bệnh khô vằn là 357 ha, diện tích phòng trừ 412 ha. Dự báo trong thời gian tới, sâu bệnh sẽ tiếp tục gây hại tăng nhanh về diện tích và mức độ hại trên các giống lúa nhiễm. Các nhà nông cần kịp thời phòng trừ sâu bệnh hại lúa xuân từ nay đến cuối vụ, nhất là cần tiến hành chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho lúa giai đoạn lúa làm đòng đến trỗ.Cũng đến ngày 25/4/2025, diện tích thu hoạch một số loại rau màu vụ xuân như sau: ngô 102 ha; dưa các loại 111 ha; bầu bí các loại 141 ha; lạc, đậu tương 10 ha; dược liệu 3 ha; hoa cây cảnh 14 ha; rau các loại 1.602 ha.Cây lâu nămTình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn duy trì ổn định. Hiện nay, toàn tỉnh đang tập trung chăm sóc các loại cây ăn quả có múi đã thu hoạch, đồng thời khẩn trương thu hoạch các loại cây ăn quả còn lại. Thời điểm này, cây nhãn đang nở hoa, đậu quả non; cây vải đang phát triển quả non. Đối với cây chuối và cây có múi, hiện đang ở giai đoạn đâm chồi, nảy lộc, ra hoa và đậu quả non, một số diện tích chuối đang cho thu hoạch. Các nhà vườn cần tiến hành chăm sóc theo quy trình kỹ thuật của từng loại cây sau khi kết thúc quá trình đậu quả, tăng cường sử dụng các loại phân bón hữu cơ, hữu cơ vi sinh, giảm lượng phân bón hóa học, kết hợp với phòng trừ sâu bệnh để tăng chất lượng quả và hiệu quả sản xuất.b) Chăn nuôiHiện nay đang là thời điểm giao mùa, thời tiết diễn biến thất thường, đây là điều kiện thuận lợi để các loại dịch bệnh trên đàn vật nuôi phát sinh và lây lan. Trước tình hình đó, ngành chức năng và các địa phương đã tích cực, khẩn trương đẩy nhanh tiến độ tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm vụ xuân - hè nhằm bảo vệ đàn vật nuôi, góp phần phát triển hoạt động chăn nuôi hiệu quả và bền vững. Từ đầu năm đến nay, đàn gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định, chưa phát hiện ổ dịch nguy hiểm. Tuy nhiên, một số bệnh thông thường trên đàn gia súc, gia cầm xảy ra ở một số địa phương như: Tiêu chảy, sưng phù đầu, phó thương hàn, cầu trùng, tụ huyết trùng. Tính đến ngày 10/4, toàn tỉnh đã tiêm vắc xin phòng 2 bệnh đỏ cho gần 228 nghìn con lợn, đạt 97% so với số lượng vắc xin được cấp phát, hoàn thành tiêm vắc - xin phòng bệnh tụ huyết trùng cho trên 26,5 nghìn con trâu, bò,...Ước tính tại thời điểm 30/4/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 4.654 con, giảm 1,23% so với cùng thời điểm năm trước; đàn bò 30.271 con, tăng 0,82%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ)458.223 con, tăng 3,41%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 9.471 nghìn con, tăng 4,23% (trong đó: đàn gà 6.572 nghìn con, tăng 5,42%). c) Sản xuất thủy sảnTrong tháng qua, tình hình sản xuất thuỷ sản của tỉnh vẫn tiếp tục ổn định và từng bước đa dạng giống nuôi trồng. Phương thức nuôi chủ yếu là nuôi thâm canh và bán thâm canh. Sản phẩm nuôi trồng chủ yếu vẫn là những giống cá trắm, chày, chép hoặc rô phi và một số giống cá khác như: cá mè, cá trôi,... cho năng suất cao. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng Tư ước tính đạt 5.167 tấn, tăng 2,40%, tương ứng tăng 121 tấn so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó: cá 5.082 tấn, tăng 2,42% (tăng 120 tấn); tôm 46,5 tấn, tăng 3,33% (tăng 2 tấn); thuỷ sản khác39 tấn, giảm 0,77% (giảm 0,3 tấn).Hoạt động khai thác thuỷ sản trong tỉnh vẫn được duy trì ở quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình, những thuyền đánh cá trên sông phần nhiều là thuyền nhỏ không động cơ, một số người khai thác thuỷ sản không chuyên nghiệp bằng những dụng cụ đơn giản như lưới, vó tranh thủ theo mùa vụ nên sản lượng khai thác được không nhiều. Do đặc điểm của địa phương không có biển, tuy có những sông lớn là sông Hồng, sông Luộc nhưng nguồn lợi thuỷ sản không nhiều nên dự báo trong dài hạn, việc khai thác thuỷ sản vẫn được duy trì tương đối ổn định với sản lượng không cao.2. Sản xuất công nghiệpSo với tháng trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư giảm 1,75%. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 1,27%; sản xuất và phân phối điện tăng 1,35%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 12,71%. Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước là: thức ăn cho gia súc giảm 0,23%; rượu Vodka và rượu Cô nhắc giảm 10,27%; nước khoáng không có ga giảm 4,97%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 1,40%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 14,73%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 9,34%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 2,41%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) giảm 14,60%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W giảm 0,65%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 28,64%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 2,76%; thức ăn cho gia cầm tăng 3,10%; quần áo các loại tăng 5,84%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 6,33%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 1,89%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 4,25%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 18,01%; sản phẩm bằng plastic tăng 0,91%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 16,49%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 3,88%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 2,0%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 39,21%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 14,17%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 17,40%;... So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư tăng 9,86%, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,08%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,37%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 31,53%. Một số sản phẩm công nghiệp trong tháng Tư năm 2025 có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2024 như: thức ăn cho gia súc tăng 8,15%; thức ăn cho gia cầm tăng 27,13%; quần áo các loại tăng 14,82%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 76,83%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 28,18%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 23,04%; sản phẩm bằng plastic tăng 25,12%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 35,45%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 135,62%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 8,88%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 55,57%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 68,42%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 34,72%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 33,11%;... Bên cạnh đó, các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 5,74%; nước khoáng không có ga giảm 7,0%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 17,61%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 17,80%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 17,33%; mạch điện tử tích hợp giảm 20,52%; mạch in khác giảm 7,44%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 7,50%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W giảm 5,45%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 29,44%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 3,14%;... Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,36%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,61%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 41,39%.Một số ngành cấp 2 có chỉ số sản xuất công nghiệp tăng mạnh như: sản xuất trang phục tăng 22,17%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 52,99%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 60,62%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 23,07%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 23,25%; sản xuất kim loại tăng 11,66%; sản xuất xe có động cơ tăng 34,55%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 47,91%;...Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu trong bốn tháng đầu năm có khối lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia súc tăng 2,40%; thức ăn cho gia cầm tăng 6,68%; nước khoáng không có ga tăng 5,73%; quần áo các loại tăng 13,42%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 54,20%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 63,57%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 20,95%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 15,98%; sản phẩm bằng plastic tăng 21,80%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 139,46%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 12,12%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 66,55%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 85,19%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 12,19%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 17,05%;... Bên cạnh đó, các sản phẩm chủ yếu trong bốn tháng đầu năm có sản lượng sản xuất giảm như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 21,10%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 2,87%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 21,26%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 3,82%; mạch điện tử tích hợp giảm 23,51%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W giảm 10,21%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 33,94%;...3. Hoạt động đầu tưa) Vốn đầu tư ngân sách địa phươngƯớc tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Tư đạt 1.537 tỷ đồng, tăng 31,56% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 921 tỷ đồng, tăng 56,88%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 414 tỷ đồng, tăng 37,11%, vốn ngân sách nhà nước cấp xã 201 tỷ đồng, giảm 27,81%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, tổng vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 5.866 tỷ đồng, tăng 60,20% so với cùng kỳ năm trước và đạt 20,37% kế hoạch năm. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.403 tỷ đồng, tăng 88,47%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 1.514 tỷ đồng, tăng 69,74%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 949 tỷ đồng, giảm 1,56%.b) Hoạt động đầu tư nước ngoàiTính đến ngày 24/4/2025, toàn tỉnh có 635 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 8.706.582 nghìn USD, trong đó từ đầu năm đến ngày 24/4/2025, có 22 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 135.706 nghìn USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 180 dự án, vốn đăng ký là 3.938.731 nghìn USD, chiếm 45,24% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Hàn Quốc có 162 dự án, vốn đăng ký 1.460.303 nghìn USD, chiếm 16,77% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Trung Quốc có 183 dự án, vốn đăng ký 1.421.505 nghìn USD, chiếm 16,33% tổng số vốn đăng ký.c) Phát triển doanh nghiệpTính từ ngày 22/3/2025 đến ngày 21/4/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 271 doanh nghiệp, vốn đầu tư đăng ký 1.934 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 63 doanh nghiệp, vốn đăng ký 764 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 85 doanh nghiệp, vốn đăng ký 347 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 26 doanh nghiệp, vốn đăng ký 420 tỷ đồng; vận tải kho bãi 16 doanh nghiệp, vốn đăng ký 50 tỷ đồng; giáo dục và đào tạo 20 doanh nghiệp, vốn đăng ký 15 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/4/2025, toàn tỉnh có 861 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 13.621 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 304 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 1.319 tỷ đồng (chiếm 9,68% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 195 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 3.134 tỷ đồng (chiếm 23,01%); giáo dục và đào tạo 88 doanh nghiệp, vốn đăng ký 96 tỷ đồng (chiếm 0,70%); xây dựng 56 doanh nghiệp, vốn đăng ký1.079 tỷ đồng (chiếm 7,92%); hoạt động vận tải, kho bãi 43 doanh nghiệp, vốn đăng ký 193 tỷ đồng (chiếm 1,42%); kinh doanh bất động sản 53 doanh nghiệp, vốn đăng ký 7.290 tỷ đồng (chiếm 53,52%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 37 doanh nghiệp, vốn đăng ký 124 tỷ đồng (chiếm 0,91%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 28 doanh nghiệp, vốn đăng ký 111 tỷ đồng (chiếm 0,82%);...Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Tư (tính từ ngày 22/3/2025 đến ngày 21/4/2025) là 29 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/4/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 157 doanh nghiệp.Cũng từ ngày 22/3/2025 đến ngày 21/4/2025, số doanh nghiệp giải thể là 11 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 58 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/4/2025, toàn tỉnh có 80 doanh nghiệp giải thể và 572 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 18 doanh nghiệp giải thể và 139 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 22,50% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,30% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 31 doanh nghiệp giải thể và 208 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 38,75% và 36,36%; kinh doanh bất động sản có 3 doanh nghiệp giải thể và 21 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 3,75% và 3,67%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 4 doanh nghiệp giải thể và 18 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,0% và 3,15%;...4. Thương mại, dịch vụTổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tư ước đạt 9.899 tỷ đồng, giảm 8,75% so với tháng trước và tăng 9,38% so với cùng kỳ năm trước. Bốn tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 39.815 tỷ đồng, tăng 16,85% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể như sau:Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Tư ước đạt 3.105 tỷ đồng, tăng 2,68% so với tháng trước và tăng 9,88% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng so với tháng trước chủ yếu do tháng Tư có nhiều ngày lễ hội nên nhu cầu đi lại và tiêu dùng của người dân tăng khá cao: ngày Tết Thanh minh (ngày 04/4 dương lịch); ngày Giỗ tổ Hùng Vương (ngày 07/4 dương lịch), đặc biệt là kỳ nghỉ lễ dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) và Ngày Quốc tế Lao động 1/5. Mức tăng so với tháng trước của một số nhóm hàng trong doanh thu bán lẻ như sau: nhóm hàng lương thực, thực phẩm có doanh thu chiếm tỷ trọng 34,26% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 1,48%; nhóm hàng may mặc chiếm 4,75% doanh thu bán lẻ, tăng 0,88%; nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình chiếm 14,94% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 3,75%; nhóm hàng vật phẩm văn hóa giáo dục chiếm 0,66% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 5,20%; nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng chiếm 11,70% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 8,23%; nhóm hàng ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) chiếm 1,73% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 0,08%; nhóm xăng, dầu các loại chiếm 11,47% doanh thu bán lẻ hàng hóa, tăng 0,16%;...Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hoá ước đạt12.206 tỷ đồng, tăng 12,71% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ bốn tháng của một số nhóm hàng chính như sau: doanh thu bán lẻ lương thực, thực phẩm tăng 14,78%; may mặc tăng 1,93%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 18,22%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 9,76%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 34,74%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 46,93%; xăng, dầu các loại giảm 6,42%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 24,80%; hàng hoá khác tăng 15,53%;...Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Tư ước đạt 296 tỷ đồng, tăng 3,90% so với tháng trước và tăng 21,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 13 tỷ đồng, tăng 21,12% so với tháng trước và tăng 25,89% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch ăn uống 284 tỷ đồng, tăng 3,24% so với tháng trước và tăng 20,80% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ do các chi phí sản xuất như giá lương thực, giá điện, giá gas, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng.Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.178 tỷ đồng, tăng 23,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ lưu trú 44 tỷ đồng, tăng 18,34%; dịch vụ ăn uống 1.134 tỷ đồng, tăng 23,40%. Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Tư ước đạt 6 tỷ đồng, tăng 64,14% so với tháng trước và giảm 9,76% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hàng ước đạt 15 tỷ đồng, giảm 25,42% so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Tư ước đạt 6.491 tỷ đồng, giảm 13,85% so với tháng trước và tăng 8,69% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 26.416 tỷ đồng, tăng 18,62% so với cùng kỳ năm trước. Chi tiết các ngành như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản 24.358 tỷ đồng, tăng 19,32%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 736 tỷ đồng, tăng 6,65%; dịch vụ giáo dục và đào tạo 509 tỷ đồng, tăng 7,45%; dịch vụ y tế 253 tỷ đồng, tăng 23,66%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 84 tỷ đồng, tăng 45,75%; dịch vụ khác 476 tỷ đồng, tăng 10,97%. 5. Chỉ số giáa) Chỉ số giá tiêu dùngSo với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tư giảm 0,17%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 07 nhóm có chỉ số giảm, 03 nhóm có chỉ số tăng và 01 nhóm có chỉ số giá ổn định. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,03%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,48%; nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,04%; giao thông giảm 1,27%; bưu chính viễn thông giảm 0,01%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,03%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: đồ uống và thuốc lá tăng 0,27%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,21%. Riêng nhóm giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước.So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư tăng 1,48%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 07 nhóm có chỉ số tăng, 04 nhóm có chỉ số giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,88%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,14%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,45%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,29%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,21%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,50%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,14%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 1,67%; bưu chính, viễn thông giảm 1,12%; giáo dục giảm 0,09%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,02%.So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư tăng 3,57%. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 8 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,73% (lương thực tăng 0,42%; thực phẩm tăng 4,66%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,73%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,78%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,05%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,28%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,29%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,68%; bưu chính viễn thông tăng 0,16%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,50%; dịch vụ giao thông giảm 7,47%; giáo dục giảm 1,69%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,82%.Bình quân chung bốn tháng đầu năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, có 08 nhóm tăng giá, 02 nhóm giảm giá và 01 nhóm có chỉ số giá ổn định. Cụ thể, hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,54%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,58%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,98%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,62%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,58%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,38%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,25%; giao thông giảm 4,58%; dịch vụ giáo dục giảm 1,54%. Duy nhất nhóm bưu chính, viễn thông có chỉ số giá ổn định so với cùng kỳ năm trước.b) Chỉ số giá vàng và đô la MỹThị trường vàng tỉnh Hưng Yên tháng 4/2025 tăng 10,78% so với tháng trước. Nỗi lo các mức thuế quan của Tổng thống Mỹ Donald Trump cùng với cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung ngày càng leo thang có thể gây ảnh hưởng đến sự tăng trưởng nền kinh tế toàn cầu tiếp tục là yếu tố góp phần thúc đẩy nhu cầu đối với kim loại quý trú ẩn truyền thống. Hiện giá vàng đang ở mức giá đỉnh cao nhất trong mấy năm trở lại đây. Tháng Tư, chỉ số giá vàng tăng 10,78% so với tháng trước, bình quân giá vàng xấp xỉ 10.317.000 VNĐ/1 chỉ.Trên địa bàn tỉnh, giá đồng đô la Mỹ có xu hướng tăng cao hơn so tháng trước do nhu cầu mua đầu tư tích trữ của các nhà đầu tư tăng. Tháng Tư, chỉ số giá đồng đô la Mỹ tăng 0,84% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 25.920 VNĐ.5. Hoạt động vận tảiDoanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tư ước đạt 639 tỷ đồng, tăng 7,78% so với tháng trước và tăng 16,69% so với cùng kỳ năm trước. Bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 2.475 tỷ đồng, tăng 12,45% so với cùng kỳ năm trước.a) Hoạt động vận tải hành kháchVận tải hành khách tháng Tư ước đạt 1.482 nghìn lượt người vận chuyển và 87.755 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 6,54% về lượt người vận chuyển và tăng 1,44% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 83 tỷ đồng, tăng 5,22% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 5.630 nghìn lượt người vận chuyển và 348.298 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 5,14% về lượt người vận chuyển và tăng 2,56% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 329 tỷ đồng, tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước.b) Hoạt động vận tải hàng hoáVận tải hàng hoá tháng Tư ước đạt 1.594 nghìn tấn vận chuyển và 203.854 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 15,17% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 14,42% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 466 tỷ đồng, tăng 19,34% so với cùng kỳ năm trước.Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 6.114 nghìn tấn vận chuyển và 828.871 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 9,27% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 17,96% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.795 tỷ đồng, tăng 14,05% so với cùng kỳ năm trước.c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phátDoanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tư ước đạt 71 tỷ đồng, tăng 10,89% so với tháng trước và tăng 20,86% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 272 tỷ đồng, tăng 14,25% so với cùng kỳ năm trước.Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Tư ước đạt 20 tỷ đồng, giảm 1,87% so với tháng trước và giảm 1,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 79 tỷ đồng, tăng 5,18% so với cùng kỳ năm trước.6. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểma) Thu ngân sách nhà nướcThu ngân sách nhà nước tháng Tư ước đạt 2.618 tỷ đồng, giảm 17,19% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 2.153 tỷ đồng, giảm 23,86%; thuế xuất nhập khẩu 465 tỷ đồng, tăng 39,13%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 14.727 tỷ đồng, tăng 10,47% so với cùng kỳ năm trước và đạt 32,78% so với kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 13.095 tỷ đồng, tăng 9,30%; thuế xuất nhập khẩu 1.632 tỷ đồng, tăng 20,80%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 75 tỷ đồng, giảm 8,41%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.424 tỷ đồng, tăng 4,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 6.048 tỷ đồng, tăng 16,46%; thu lệ phí trước bạ 278 tỷ đồng, tăng 45,67%; thuế thu nhập cá nhân 900 tỷ đồng, tăng 25,15%; các khoản thu về đất 4.136 tỷ đồng, tăng 3,81%.b) Chi ngân sách nhà nước địa phươngChi ngân sách nhà nước địa phương tháng Tư ước đạt 2.194 tỷ đồng, tăng 83,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 1.154 tỷ đồng, tăng 89,73%; chi thường xuyên 1.040 tỷ đồng, tăng 77,70%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 26 tỷ đồng, tăng 10,24%; chi giáo dục, đào tạo 395 tỷ đồng, tăng 68,38%; chi sự nghiệp y tế 195 tỷ đồng, tăng 369,05%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 21 tỷ đồng, tăng 71,89%; chi đảm bảo xã hội 48 tỷ đồng, tăng 19,06%; chi quản lý hành chính 206 tỷ đồng, tăng 52,88%;...Tính chung bốn tháng đầu năm 2025, chi ngân sách nhà nước ước đạt12.276 tỷ đồng, tăng 25,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 9.010 tỷ đồng, tăng 21,40%; chi thường xuyên 3.266 tỷ đồng, tăng 36,94%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 140 tỷ đồng, tăng 16,27%; chi giáo dục, đào tạo 1.263 tỷ đồng, tăng 41,96%; chi sự nghiệp y tế 398 tỷ đồng, tăng 37,80%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 63 tỷ đồng, tăng 60,64%; chi đảm bảo xã hội 226 tỷ đồng, giảm 0,67%; chi quản lý hành chính 848 tỷ đồng, tăng 47,22%.c) Hoạt động ngân hàngƯớc tính đến 30/4/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt153.417 tỷ đồng, tăng 5,21% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 152.631 tỷ đồng, tăng 5,17% và chiếm 99,49% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 786 tỷ đồng, tăng 14,15% và chiếm 0,51%.Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/4/2025 đạt 120.825 tỷ đồng, tăng 4,24% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 88.218 tỷ đồng, tăng 4,52%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 32.607 tỷ đồng, tăng 3,48%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 117.120 tỷ đồng, tăng 4,41%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 3.706 tỷ đồng, giảm 0,92%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 83.000 tỷ đồng, tăng 3,04% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 51.500 tỷ đồng, tăng 2,72%; xuất khẩu 2.000 tỷ đồng, giảm 2,82%; doanh nghiệp nhỏ và vừa24.500 tỷ đồng, tăng 4,71%; công nghiệp hỗ trợ 5.000 tỷ đồng, tăng 0,83% so với thời điểm 31/12/2024.Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu là 1.256 tỷ đồng (chiếm 1,04% dư nợ tín dụng), tăng 2,43% so với thời điểm 31/12/2024.II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hộiNhân dịp kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025) và 80 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Chủ tịch nước đã có Quyết định số 689/QĐ-CTN ngày 23/4/2025 về việc tặng quà cho người có công với cách mạng. Mức quà tặng (bằng tiền): 01 mức quà là 500.000 đồng/01 người/02 dịp. Thời điểm thực hiện chi: thực hiện chi 01 lần vào dịp ngày 30/4/2025. Đối tượng tặng quà bao gồm:(1) Người có công với cách mạng: Người hoạt động cách mạng trước ngày 01 tháng 01 năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Người hoạt động cách mạng từ ngày 01 tháng 01 năm 1945 đến ngày khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Bà mẹ Việt Nam Anh hùng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, Anh hùng Lao động trong thời kỳ kháng chiến đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Thương binh, người hưởng chính sách như thương binh, thương binh loại B, bệnh binh đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Người có công giúp đỡ cách mạng đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. Người hoạt động cách mạng, kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế bị địch bắt tù, đày đang hưởng trợ cấp ưu đãi hàng tháng. (2) Thân nhân của người có công với cách mạng: Thân nhân liệt sĩ đang hưởng trợ cấp tuất nuôi dưỡng hàng tháng; thân nhân của hai liệt sĩ trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hàng tháng. Đại diện thân nhân liệt sĩ. Người thờ cúng liệt sĩ (trường hợp liệt sĩ không còn thân nhân).Hiện tỉnh Hưng Yên đang triển khai thực hiện việc tặng quà người có công với cách mạng theo Công văn số 1727/BNV-CNCC ngày 24/4/2025 của Bộ Nội vụ hướng dẫn tặng quà của Chủ tịch nước nhân kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và 80 năm Ngày Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Hoạt động văn hóa, thể thao và du lịcha) Hoạt động văn hóaBảo tàng tỉnh: Từ ngày 04/4/2025 đến 06/4/2025, tại Bảo tàng tỉnh Hưng Yên đã diễn ra Liên hoan ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ II năm 2025. Liên hoan quy tụ 120 gian hàng của các đơn vị tham gia trưng bày, quảng diễn từ các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh và 12 tỉnh trong khu vực đồng bằng sông Hồng và lân cận. Liên hoan không chỉ là nơi giới thiệu những món ăn đặc sắc của tỉnh Hưng Yên mà còn mang đến một hành trình trải nghiệm ẩm thực tại các gian hàng ẩm thực của các vùng, miền với các màn trình diễn những món ăn công phu từ các đơn vị tham gia.Ngày 25/4/2025, tại Bảo tàng tỉnh Hưng Yên đã diễn ra khai mạc Triển lãm trưng bày, giới thiệu thành tựu 50 năm nền văn học, nghệ thuật Việt Nam và hoạt động văn học, nghệ thuật tỉnh Hưng Yên sau ngày đất nước thống nhất (30/4/1975 - 30/4/2025); đồng thời tổ chức Lễ trao giải Cuộc thi sáng tác văn học, nghệ thuật tỉnh Hưng Yên năm 2024. Triển lãm diễn ra từ ngày 25/4 đến ngày 5/5/2025, trưng bày hàng trăm tác phẩm, hiện vật, tư liệu quý, tái hiện sinh động hành trình phát triển của văn học, nghệ thuật Việt Nam nói chung và tỉnh Hưng Yên nói riêng.Từ ngày 25/4/2025 đến ngày 25/5/2025, tại Bảo tàng tỉnh Hưng Yên trưng bày chuyên đề “Hưng Yên trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975)”. Với hơn hai trăm hiện vật, hình ảnh, tài liệu, tái hiện một không gian ký ức chân thực và xúc động gồm 2 chủ đề: (1) Chủ đề 1: Hậu phương trong kháng chiến. (2) Chủ đề 2: Tất cả cho tiền tuyến. Trưng bày chuyên đề không chỉ giúp người xem sống lại những khoảnh khắc thiêng liêng của dân tộc trong hành trình đi đến thống nhất, mà còn khơi dậy niềm tự hào dân tộc và hun đúc khát vọng hòa bình trong tâm hồn thế hệ hôm nay.Văn hóa quần chúng và tuyên truyền cổ động: Tổ chức thành công lớp tập huấn biên tập, dàn dựng chương trình Ca - Múa - Nhạc năm 2025; tổ chức 01 Chương trình “Ca - Múa - Nhạc”; thiết kế maket, in bạt, treo pano, tranh cổ động tuyên truyền chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước; tổ chức 06 buổi xe ô tô lưu động tuyên truyền.Thư viện tỉnh tuyên truyền, giới thiệu sách, báo, tài liệu theo chủ đề chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước như: Kỷ niệm 94 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/3/2025); Kỷ niệm50 năm ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2025); tuyên truyền, giới thiệu sách hay, sách mới trên website và Facebook của Thư viện tỉnh.Ngày 22 tháng 4 năm 2025, tại Thư viện tỉnh đã diễn ra khai mạc Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam lần thứ IV năm 2025. Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam năm 2025 được tổ chức với chủ đề “Đọc sách - làm giàu tri thức, nuôi dưỡng khát vọng thúc đẩy, đổi mới, sáng tạo”. Các hoạt động chào mừng, hưởng ứng được tổ chức với nhiều nội dung phong phú, sinh động, thiết thực, hiệu quả: Tuyên truyền về vị trí, vai trò của sách, thư viện trong đời sống xã hội; tổ chức cấp thẻ miễn lệ phí cho bạn đọc; trưng bày giới thiệu sách, xếp mô hình sách nghệ thuật; trao tặng sách cho một số thư viện, tủ sách cơ sở, thư viện trường học tiêu biểu trên địa bàn tỉnh và bạn đọc của Thư viện tỉnh. Đặc biệt, Cuộc thi vẽ tranh theo sách năm 2025 với chủ đề: “Ước mơ của em” đã thu hút trên 100 em học sinh của 70 trường học trên địa bàn tỉnh tham gia.Nghệ thuật biểu diễn: Nhà hát Chèo đã tổ chức 05 buổi biểu diễn nghệ thuật trong và ngoài tỉnh phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của nhân dân; dàn dựng chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; dàn dựng vở mới “Sắc đào thắm đỏ”; cử nghệ sĩ (diễn viên, nhạc công) tham gia Đoàn công tác của Bộ Y tế đến quần đảo Trường Sa.Điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh Tổ chức 70 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 60 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân.b) Hoạt động thể dục, thể thaoThể dục, thể thao quần chúng: tỉnh đã tổ chức thành công 02 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh (Quần vợt, Bóng đá). Ban hành Điều lệ giải bóng chuyền hơi nam, nữ vô địch các nhóm tuổi năm 2025.Thể thao thành tích cao: Đơn vị chuyên môn tập trung cao cho hoạt động huấn luyện vận động viên tại Trung tâm Huấn luyện và Thi đấu thể thao; thường xuyên đánh giá, thải loại, tuyển mới đảm bảo lực lượng vận động viên; chuẩn bị lực lượng vận động viên sẵn sàng tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia năm 2025. Trong tháng Tư, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham gia thi đấu 05 giải quốc gia (Muay, Đua thuyền Rowing, Wushu, Cử tạ, Pencak Silat), đạt 23 huy chương các loại, trong đó: 04 HCV, 04 HCB, 15 HCĐ.3. Hoạt động y tếBệnh sởi: Lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 24/4/2025, toàn tỉnh đã ghi nhận tổng số 498 ca mắc/nghi mắc có địa chỉ tại Hưng Yên (trong đó có 273 trường hợp được phát hiện, chẩn đoán xác định dương tính tại các BV tuyến Trung ương). Nhìn chung, số ca mắc đơn lẻ, rải rác tại một số địa phương, trong đó nhiều nhất tại TP. Hưng Yên, hiện còn 16 ca đang điều trị tại BV đa khoa tỉnh, 19 ca tại BV Sản Nhi, và 02 ca tại BVĐK Phố Nối, sức khỏe ổn định, không có ca nặng, tử vong.Sốt xuất huyết Dengue: lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 24/4/2025, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 07 ca mắc (Kim Động 01, Ân Thi 01, Yên Mỹ 03, Văn Lâm 02), không ghi nhận trường hợp tử vong trên địa bàn tỉnh. Các ca bệnh đã được điều tra giám sát và phân công cán bộ theo dõi khu vực nhà bệnh nhân bán kính trong vòng 200m, trong thời gian 14 ngày tính từ thời điểm phát hiện ca bệnh. Bệnh tay chân miệng: tại Hưng Yên, lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 24/4/2025, toàn tỉnh đã ghi nhận tổng số 75 ca (tăng 21 ca so với cùng kỳ năm 2024), được sàng lọc tại bệnh viện khi đến khám và điều trị, không có trường hợp tử vong.Sốt xuất huyết Dengue: lũy kế từ đầu năm 2024 đến ngày 19/4/2024, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 05 ca (Ân Thi 01, Văn Giang 01, Khoái Châu 01, Mỹ Hào 01 ca, Văn Giang 01 ca), không có trường hợp tử vong. Không ghi nhận ổ dịch SXH trên địa bàn tỉnh, các bệnh nhân mắc bệnh đều đã được điều tra, giám sát.Dịch Covid-19: lũy kế từ đầu năm đến ngày 24/4/2025, toàn tỉnh ghi nhận 02 ca mắc, chưa có ca tử vong.Bệnh Ho gà: lũy kế từ đầu năm đến nay ghi nhận 04 ca, chưa có ca tử vong.Bệnh bạch hầu: từ đầu năm đến nay, tỉnh chưa ghi nhận ca mắc.Bệnh cúm mùa: Toàn tỉnh chưa ghi nhận ca bệnh nhiễm cúm A H5N1 và H7N9, số ca mắc cúm mùa từ đầu năm 2025 đến nay là 2.502 ca theo hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm.4. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổTừ ngày 26/3/2025 đến ngày 25/4/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 07 vụ vi phạm môi trường, các vụ vi phạm hiện chưa được xử lý, đang trong quá trình hoàn thiện hồ sơ. Nguyên nhân vi phạm chủ yếu là do xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường. So với cùng thời điểm năm 2024, số vụ vi phạm đã phát hiện tăng 4 vụ, tương đương tăng 133,33%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/4/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 44 vụ vi phạm môi trường, tăng 193,33% so với cùng kỳ năm trước; đã xử lý 29 vụ, tăng 141,67%; số tiền xử phạt 199 triệu đồng, tăng 24,38%. Nguyên nhân xử phạt chủ yếu về vi phạm quản lý chất thải nguy hại, xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép, an toàn vệ sinh thực phẩm, vận chuyển cát gây ô nhiễm môi trường....Từ ngày 15/3/2025 đến ngày 14/4/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 02 vụ cháy tại huyện Văn Giang (01 vụ) và huyện Yên Mỹ (01 vụ), làm bị thương 02 người, không có người chết. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/4/2025, trên địa bàn tỉnh đã xảy ra 7 vụ cháy, làm 02 người bị thương, không có người chết.5. An toàn giao thôngTheo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/3/2025 đến 14/4/2025, toàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 12 người, làm bị thương 28 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 13 vụ, tăng 76,47%; số người chết tăng 01 người, tăng 9,09%; số người bị thương tăng 16 người, tăng 133,33%. So với cùng tháng Tư năm 2024, số vụ tai nạn giảm 25 vụ, giảm 45,45%; số người chết giảm 2 người, giảm 14,29%; số người bị thương giảm 28 người, giảm 50,0%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/4/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 95 vụ tai nạn giao thông, làm chết 52 người, làm bị thương 69 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 151 vụ, giảm 61,38%; số người chết giảm 25 người, giảm 32,47%; số người bị thương giảm 164 người, giảm 70,39%./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng ba và quý I năm 2025
- 04/04/2025 15:50
BÁO CÁOTÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HƯNG YÊNTHÁNG BA VÀ QUÝ I NĂM 2025 Quý I năm 2025, tình hình thế giới diễn biến phức tạp. Thế giới tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức; tình trạng bất ổn an ninh, xung đột vũ trang, chiến tranh tại một số quốc gia, khu vực kéo dài; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, cạnh tranh kinh tế, thương mại, công nghệ ngày càng gay gắt; suy thoái, lạm phát, bất ổn kinh tế, tài chính hiện hữu. Đặc biệt, chính sách kinh tế mới của chính quyền Tổng thống Mỹ - D.Trump làm gia tăng chủ nghĩa dân tộc, có thể tác động lớn đến quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, dòng chảy thương mại, đầu tư và tăng trưởng kinh tế, thậm chí có thể dẫn đến cuộc chiến thương mại, chuyển hướng dòng đầu tư quốc tế. Từ đó, gây thách thức cho các thị trường mới nổi và nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Trong nước, nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, sức ép khơi thông nguồn vốn tín dụng, giá nguyên nhiên vật liệu tăng; chi phí vận tải tăng, nhất là vận tải biển; sản xuất kinh doanh tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, các thị trường xuất nhập khẩu lớn, truyền thống của Việt Nam bị thu hẹp hoặc có sự cạnh tranh gay gắt hơn, độ mở của nền kinh tế nước ta khá lớn,... đã ảnh hưởng không nhỏ đến phát triển kinh tế trong nước. Đối với tỉnh Hưng Yên, lãnh đạo Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã quán triệt kịp thời và tổ chức triển khai có hiệu quả các văn bản của cấp trên. Đồng thời, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện những nhiệm vụ và giải pháp cụ thể trong Nghị quyết về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, trọng tâm là thúc đẩy chuyển đổi số mạnh mẽ; liên tục cải thiện thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh và năng lực cạnh tranh; tăng cường vai trò dẫn dắt của đầu tư công; thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị. Ðồng thời, tạo lập hệ sinh thái phát triển công nghiệp sạch, công nghệ cao với chính sách thu hút đầu tư mới có chọn lọc, coi trọng quy mô, trình độ công nghệ hiện đại, bảo vệ môi trường. Tỉnh đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, hình thành các đô thị lớn, thông minh, đô thị sinh thái gắn với phát triển thương mại, dịch vụ hiện đại; tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhà đầu tư tiếp cận bình đẳng thông tin, cơ hội kinh doanh, đầu tư. Từ đó, nhiều doanh nghiệp đã mở rộng sản xuất, nhiều sản phẩm sản xuất tăng trưởng so với cùng kỳ và kỳ trước, doanh nghiệp ký nhận được đơn hàng mới. I. TÌNH HÌNH KINH TẾ 1. Tăng trưởng kinh tế Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý I năm 2025 ước tăng 8,96% so với cùng kỳ năm 2024 (cao hơn so với mức tăng 6,07% của quý I năm 2024), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,06% (đóng góp 0,18 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); công nghiệp và xây dựng tăng 9,57% (đóng góp 5,82 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); khu vực thương mại, dịch vụ tăng 9,97% (đóng góp 2,39 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,71% (đóng góp 0,58 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh). Như vậy, tăng trưởng kinh tế quý I của tỉnh đã vượt so với kịch bản tăng trưởng kinh tế 2 con số mà tỉnh đề ra (theo kịch bản tăng trưởng 2 con số quý I tăng 8,52%). So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì tốc độ tăng trưởng GRDP quý I năm 2025 của tỉnh Hưng Yên xếp thứ 9/11 tỉnh, thành phố; so với cả nước thì xếp thứ 17/63 tỉnh, thành phố. Tốc độ tăng trưởng GRDP quý I năm 2025 của một số tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Hà Nam tăng 10,54%; Hải Phòng tăng 11,07%; Hải Dương tăng 10,87%; Quảng Ninh tăng 10,91%; Nam Định tăng 11,86%; Thái Bình tăng 9,04%; Vĩnh Phúc tăng 8,75%; Bắc Ninh tăng 9,05%;... Sản xuất nông nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, không có dịch bệnh xảy ra đối với cây trồng và vật nuôi. Năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều đạt khá. Diện tích gieo trồng cây vụ đông tiếp tục có xu hướng giảm nhưng thấp hơn so với những năm trước đây, chỉ giảm 0,67% (diện tích gieo trồng vụ đông năm 2024 giảm 0,83%; vụ đông năm 2023 giảm 6,39%). Cùng với đó, sản lượng các loại thịt hơi xuất chuồng đạt khá nên tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản quý I năm 2025 của tỉnh ước tăng 2,06%, trong đó đóng góp chủ yếu từ ngành chăn nuôi. Sản xuất công nghiệp và xây dựng trong quý I có nhiều thuận lợi hơn so với cùng kỳ năm trước, ước tăng 9,57% (quý I năm 2024 chỉ tăng 7,86%). Các doanh nghiệp công nghiệp tiếp tục duy trì tăng trưởng khá, một số ngành là thế mạnh của tỉnh có mức tăng trưởng tốt và đóng góp lớn vào tăng trưởng chung của tỉnh như: sản xuất trang phục (tăng 10,18%); sản xuất xe ô tô và xe có động cơ khác (tăng 29,75%) - đây là ngành đóng góp lớn nhất vào tăng trưởng của khu vực công nghiệp trong quý I năm 2025; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan (tăng 25,25%); sản xuất máy móc, thiết bị (điều hòa, tủ lạnh, máy giặt,…) tăng 28,24%; sản xuất phương tiện vận tải khác (tăng 17,01%); sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 13,53%;…Tuy nhiên, một số ngành chiếm tỷ trọng lớn do khó khăn về đầu ra nên có tăng trưởng không cao hoặc giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất chế biến thực phẩm (giảm 5,50%); sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (tăng 6,11%); sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học (tăng 6,59%); sản xuất thiết bị điện (giảm 0,66%);… Hoạt động xây dựng tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá (tăng 12,55%), chủ yếu nhờ hoạt động xây dựng các công trình kỹ thuật dân dụng sử dụng vốn ngân sách nhà nước như các công trình trọng điểm xây dựng đường giao thông đã có tiến độ thi công và giá trị thực hiện lớn trong quý. Khu vực dịch vụ có tăng trưởng khá (tăng 9,97%), cao hơn nhiều so với quý I năm 2024 (quý I năm 2024, tăng trưởng khu vực dịch vụ đạt 1,91%). Nguyên nhân là do dịp Tết Nguyên đán năm nay thời tiết tương đối thuận lợi cho việc du xuân nên nhu cầu đi lại, ăn uống của người dân tăng cao đã khiến doanh thu các ngành dịch vụ đạt khá. Cùng với đó, thị trường bất động sản sôi động trở lại, một số đơn vị kinh doanh ghi nhận tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực dịch vụ có mức tăng trưởng tốt, đóng góp lớn vào tăng trưởng khu vực dịch vụ như: bán buôn, bán lẻ tăng 8,68% so với cùng kỳ năm trước; ngành tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,06%; hoạt động kinh doanh bất động sản tăng 12,42%; giáo dục và đào tạo tăng 15,81%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 18,10%;... 2. Sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản a) Trồng trọt Cây hằng năm Sản xuất vụ đông: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông năm 2025 toàn tỉnh đạt 6.750 ha, giảm 0,67%, tương ứng giảm 46 ha so với cùng kỳ năm 2024. Diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch một số loại cây hằng năm vụ đông năm nay như sau: ngô 1.307 ha, tăng 0,99% (tăng 13 ha), sản lượng ngô 7.637 tấn, tăng 2,64% (tăng 197 tấn); khoai lang 148 ha, tăng 12,06% (tăng 16 ha), sản lượng 2.202 tấn, tăng 13,98% (tăng 270 tấn); đậu tương 147 ha, giảm 52 ha (giảm 26,17%), sản lượng 243 tấn, giảm 27,81% (giảm 94 ha); lạc 38 ha, giảm 2,13% (giảm 1 ha), sản lượng 118 tấn, giảm 3,55% (giảm 4 ha); rau các loại 4.091 ha, tăng 0,58% (tăng 24 ha), sản lượng 97.501 tấn, giảm 0,11% (giảm 106 tấn); đậu/đỗ các loại 70 ha, tăng 11,0% (tăng 7 ha), sản lượng 132 tấn, tăng 9,80% (tăng 12 ha);... Sản xuất vụ xuân: Theo kế hoạch, diện tích gieo trồng lúa vụ đông xuân năm nay của toàn tỉnh là 23.600 ha. Đến ngày 25/3/2025, toàn tỉnh đã hoàn thành gieo cấy lúa xuân. Diện tích gieo cấy lúa xuân ước đạt 23.766 ha, giảm 866 ha, tương ứng giảm 3,52% so với cùng kỳ năm 2024. Diện tích chăm sóc lúa lần 2 đạt 23.655 ha. Ngoài việc hoàn thành diện tích gieo cấy và chăm sóc lúa, nông dân các địa phương đã khẩn trương gieo trồng các loại rau màu vụ xuân. Đến ngày 25/3/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 5.111 ha rau màu vụ xuân, trong đó: ngô 895 ha; bầu, bí các loại 64 ha; dưa các loại 157 ha; lạc, đậu tương 359 ha; dược liệu 884 ha; hoa cây cảnh 757 ha; rau các loại 1.995 ha. Diện tích thu hoạch rau màu vụ xuân đạt 431 ha. Cây lâu năm Tình hình sản xuất cây lâu năm của Hưng Yên vẫn duy trì ổn định. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm ước đạt 15.834 ha, giảm 0,43%, tương ứng giảm 68 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong tổng số diện tích cây lâu năm của tỉnh thì diện tích cây ăn quả chiếm chủ yếu - chiếm khoảng 93,06%. Ước tính trong quý I năm 2025, toàn tỉnh thu hoạch được: chuối 16.100 tấn, giảm 6,40% so với cùng kỳ năm trước; cam 21.245 tấn, tăng 1,70%; táo 4.530 tấn, tăng 4,86%; ổi 2.234 tấn, tăng 4,15%;... Thời điểm này, trên các loại cây ăn quả như nhãn, vải và nhóm cây có múi đang ở thời kỳ phân hóa hoa, ra hoa, đậu quả non. Dự báo thời tiết trong thời gian tới sẽ có nhiều ngày âm u, mưa phùn, độ ẩm không khí cao, thuận lợi cho một số loài sâu bệnh phát sinh và gây hại. Để hạn chế ảnh hưởng của thời tiết và sâu bệnh đến quá trình ra hoa, đậu quả của các loại cây ăn quả, các nhà vườn cần đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ ra hoa, đậu quả, đồng thời theo dõi sát sao và phòng trừ sâu bệnh kịp thời theo khuyến cáo của ngành chuyên môn. Đối với cây vải, hiện nhiều diện tích đã đậu quả non. Việc chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trong giai đoạn hiện nay là một trong những yếu tố quyết định đến sản lượng, chất lượng vải của cả vụ. b) Chăn nuôi Quý I năm 2025, nhiệm vụ trọng tâm đối với hoạt động chăn nuôi là phòng trừ dịch bệnh, bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm phục vụ Nhân dân trong dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ 2025 và mùa lễ hội đầu năm; bổ sung kịp thời lượng giống chăn nuôi để thay thế đàn gia súc, gia cầm đã giết mổ trong dịp Tết. Ước tính tại thời điểm 31/3/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: trâu 4.735 con, giảm 1,62% so với cùng kỳ năm 2024; bò 30.271 con, tăng 1,65%; lợn 457.190 con, tăng 2,41%; gia cầm 9.002 nghìn con, tăng 2,55% (trong đó: gà 6.481 nghìn con, tăng 3,09%). Ước tính quý I năm 2025, sản lượng thịt hơi xuất chuồng như sau: thịt trâu 123 tấn, tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò 1.224 tấn, tăng 5,06%; thịt lợn 26.440 tấn, tăng 6,86%; thịt gia cầm (gà, vịt, ngan) 11.472 tấn, tăng 3,80% (trong đó: thịt gà 8.835 tấn, tăng 4,16%). c) Sản xuất thuỷ sản Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước tính đạt 4.879,06 ha (Diện tích chưa bao gồm nuôi lồng bè, bể bồn và ươm giống), giảm 4,59%, tương ứng giảm 237,8 ha so với cùng kỳ năm trước. Ước tính sản lượng thủy sản nuôi trồng quý I năm 2025 đạt 14.071 tấn, tăng 2,66%, tương đương tăng 364 tấn so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá các loại đạt 13.849 tấn, tăng 2,68%; tôm 63 tấn, tăng 3,61%; thủy sản khác 159 tấn, giảm 0,06%. Sản phẩm nuôi trồng chủ yếu vẫn là những giống cá trắm, chày, chép hoặc rô phi và một số giống cá khác cho năng suất cao như: cá mè, cá trôi,... Sản xuất giống thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định. Tổng sản lượng giống cung cấp toàn tỉnh trong quý I năm 2025 ước đạt 2.107 triệu con; tăng 5,06% so với năm 2024. Sản lượng giống cung cấp chủ yếu là cá bột và cá trắm giống, chiếm tới 98% sản lượng giống thủy sản. Hoạt động khai thác thuỷ sản trong tỉnh vẫn được duy trì ở quy mô nhỏ lẻ hộ gia đình. Những thuyền đánh cá trên sông phần nhiều là thuyền nhỏ không động cơ, một số người khai thác thuỷ sản không chuyên nghiệp bằng những dụng cụ đơn giản theo mùa vụ nên sản lượng khai thác được không nhiều. Ước tính sản lượng thuỷ sản khai thác quý I năm 2025 đạt 118 tấn, giảm 2,55%, tương đương giảm 3 tấn so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, cá 107 tấn, giảm 2,56%; tôm 9 tấn, giảm 2,17%; thủy sản khác 2,6 tấn giảm 3,70%. 3. Sản xuất công nghiệp So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Ba giảm 1,26%. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,72%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,62%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 16,76%. Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: rượu Vodka và rượu Cô nhắc giảm 64,42%; quần áo các loại giảm 3,32%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 1,0%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 9,15%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm giảm 11,56%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 17,05%; ... Bên cạnh đó, các sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 3,16%; thức ăn cho gia súc tăng 1,65%; thức ăn cho gia cầm tăng 0,88%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 3,85%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 4,90%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước tăng 26,16%; sản phẩm bằng plastic tăng 4,52%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 29,51%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 4,58%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 23,40%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 77,79%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 11,65%: mạch điện tử tích hợp tăng 18,95%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 13,44%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 13,20%;... So với cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba tăng 9,55%. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,74%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,65%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,43%. Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia súc tăng 1,48%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 49,07%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 64,10%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 12,27%; thùng, hộp bằng giấy nhăn và bìa nhăn tăng 14,23%; sản phẩm bằng plastic tăng 9,67%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 108,17%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 50,81%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 121,35%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 68,35%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 13,68%;... Bên cạnh đó, các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 11,91%; thức ăn cho gia cầm giảm 0,64%; rượu Vodka và rượu Cô nhắc giảm 68,87%; quần áo các loại giảm 0,39%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước giảm 48,01%; mạch điện tử tích hợp giảm 20,76%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 17,38%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 12,86%;... Tính chung quý I/2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,69%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,74%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 32,37%. Một số ngành kinh tế cấp 2 của ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có chỉ số sản xuất tăng là: sản xuất trang phục tăng 9,55%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 42,01%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 15,13%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 59,59%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 9,57%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 15,50%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 14,80%; sản xuất kim loại tăng 11,42%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 7,49%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 4,67%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 44,81%; sản xuất xe có động cơ tăng 45,76%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 23,42%;... Bên cạnh đó, cũng một số ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số sản xuất giảm so với cùng kỳ như: sản xuất chế biến thực phẩm giảm 6,03%; sản xuất đồ uống giảm 1,11%; dệt giảm 16,96%; sản xuất thiết bị điện giảm 2,31%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị giảm 29,99%;... Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất thức ăn cho gia súc tăng 1,29%; sản xuất thức ăn cho gia cầm tăng 0,74%; nước khoáng không có ga tăng 10,15%; quần áo các loại tăng 5,89%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 43,29%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 65,04%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 16,19%; thùng, hộp bằng giấy nhăn và bìa nhăn tăng 12,72%; sản phẩm bằng plastic tăng 11,71%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 118,42%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 9,50%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 12,88%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 79,90%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 101,67%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 5,87%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 32,72%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 26,91%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 38,68%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 10,48%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: sơn và véc ni tan trong môi trường nước giảm 24,47%; mạch điện tử tích hợp giảm 28,51%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37.5 W tăng 11,71%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 31,58%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 8,96%;... 4. Hoạt động đầu tư, phát triển doanh nghiệp a) Hoạt động đầu tư Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I/2025 ước đạt 17.202 tỷ đồng, tăng 3.039 tỷ đồng, tương ứng tăng 21,46% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu thực hiện toàn xã hội phân theo nguồn vốn như sau: vốn đầu tư nhà nước 4.440 tỷ đồng, tăng 48,52%; vốn đầu tư của dân cư và tư nhân 10.219 tỷ đồng, tăng 16,29%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 2.543 tỷ đồng, tăng 6,59%. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý I năm 2025 phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 12.640 tỷ đồng, tăng 16,48%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua XDCB 2.898 tỷ đồng, tăng 15,85%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 1.401 tỷ đồng, tăng 92,07%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 261 tỷ đồng, tăng 344,62%; vốn đầu tư khác 1 tỷ đồng, giảm 93,80%. Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Ba năm 2025 ước đạt 1.546 tỷ đồng, tăng 90,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 863 tỷ đồng, tăng 138,91%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 377 tỷ đồng, tăng 102,34%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 306 tỷ đồng, tăng 15,85%. Quý I năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 4.431 tỷ đồng, tăng 77,72% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.474 tỷ đồng, tăng 103,11%; vốn ngân sách nhà nước cấp huyện 1.097 tỷ đồng, tăng 85,92%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 860 tỷ đồng, tăng 25,53%. Hoạt động đầu tư nước ngoài: Tính đến ngày 25/3/2025, toàn tỉnh có 632 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký đạt 8.673,03 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 25/3/2025, có 19 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 114,51 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 180 dự án, vốn đăng ký là 3.938,73 triệu USD, chiếm 45,41% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Hàn Quốc có 162 dự án, vốn đăng ký 1.457,70 triệu USD, chiếm 16,81% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Trung Quốc có 183 dự án, vốn đăng ký 1.418,35 triệu USD, chiếm 16,35% tổng số vốn đăng ký. b) Phát triển doanh nghiệp Tính từ ngày 22/02/2025 đến ngày 21/3/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 271 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 8.249 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 62 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.040 tỷ đồng; xây dựng 16 doanh nghiệp, vốn đăng ký 851 tỷ đồng; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 93 doanh nghiệp, vốn đăng ký 390 tỷ đồng; vận tải kho bãi 12 doanh nghiệp, vốn đăng ký 63 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 18 doanh nghiệp, vốn đăng ký 5.785 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 8 doanh nghiệp, vốn đăng ký 18 tỷ đồng;... Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/3/2025, toàn tỉnh có 597 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 11.732 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 219 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 972 tỷ đồng (chiếm 8,29% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 132 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 2.370 tỷ đồng (chiếm 20,20%); giáo dục và đào tạo 68 doanh nghiệp, vốn đăng ký 80 tỷ đồng (chiếm 0,69%); xây dựng 40 doanh nghiệp, vốn đăng ký 948 tỷ đồng (chiếm 8,08%); hoạt động vận tải, kho bãi 27 doanh nghiệp, vốn đăng ký 143 tỷ đồng (chiếm 1,22%); kinh doanh bất động sản 27 doanh nghiệp, vốn đăng ký 6.870 tỷ đồng (chiếm 58,56%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 21 doanh nghiệp, vốn đăng ký 77 tỷ đồng (chiếm 0,66%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 20 doanh nghiệp, vốn đăng ký 79 tỷ đồng (chiếm 0,67%);... Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Ba (tính từ ngày 22/02/2025 đến ngày 21/3/2025) là 13 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/3/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 127 doanh nghiệp. Cũng từ ngày 22/02/2025 đến ngày 21/3/2025, số doanh nghiệp giải thể là 29 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 34 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/3/2025, toàn tỉnh có 69 doanh nghiệp giải thể và 514 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 17 doanh nghiệp giải thể và 126 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 24,64% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,51% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 25 doanh nghiệp giải thể và 186 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,23% và 36,19%; kinh doanh bất động sản có 3 doanh nghiệp giải thể và 20 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,35% và 3,89%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 4 doanh nghiệp giải thể và 18 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 5,80% và 3,50%;... 5. Thương mại, dịch vụ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Ba ước đạt 10.882 tỷ đồng, tăng 9,12% so với tháng trước và tăng 26,05% so cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 29.951 tỷ đồng, tăng 18,14% so với cùng kỳ năm 2024. Cụ thể như sau: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Ba ước đạt 3.028 tỷ đồng, tăng 1,74% so với tháng trước và tăng 13,30% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bán lẻ hàng hóa tăng so với tháng trước chủ yếu là do các ngành sau: lương thực, thực phẩm có doanh thu tăng 1,37%; hàng may mặc tăng 12,17%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 1,18%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 25,26%; xăng, dầu các loại tăng 1,58%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 4,15%; hàng hóa khác tăng 2,84%;... Bên cạnh một số nhóm hàng có doanh thu tăng, trong tháng cũng có một số mặt hàng có doanh thu giảm so với tháng trước như: vật phẩm, văn hoá, giáo dục giảm 1,70%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 0,85%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con giảm 2,46%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) giảm 1,14%. Quý I năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 9.104 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước. Tốc độ tăng, giảm doanh thu một số nhóm ngành hàng, dịch vụ chủ yếu như sau: lương thực, thực phẩm tăng 14,95%; may mặc giảm 6,26%; đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình tăng 20,16%; vật phẩm, văn hoá, giáo dục tăng 18,71%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 10,27%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 8,51%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 68,59%; xăng, dầu các loại tăng 1,07%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 29,17%; hàng hoá khác tăng 15,43%;... Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Ba ước đạt 284 tỷ đồng, tăng 1,23% so với tháng trước và tăng 20,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 10 tỷ đồng, tăng 3,04% so với tháng trước và tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch ăn uống 274 tỷ đồng, tăng 1,16% so với tháng trước và tăng 20,51% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 881 tỷ đồng, tăng 23,85% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 32 tỷ đồng, tăng 15,14%; doanh thu dịch vụ ăn uống 849 tỷ đồng, tăng 24,20%. Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Ba ước đạt 3 tỷ đồng, tăng 4,73% so với tháng trước và giảm 45,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch lữ hành ước đạt 9 tỷ đồng, giảm 36,57% so với quý I năm 2024. Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Ba ước đạt 7.566 tỷ đồng tăng 12,72% so với tháng trước và tăng 32,32% so cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 7.065 tỷ đồng, tăng 13,57% so với tháng trước và tăng 36,35% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu ngành dịch vụ khác ước đạt 19.957 tỷ đồng, tăng 20,05% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ kinh doanh bất động sản có doanh thu ước đạt 18.431 tỷ đồng, tăng 23,70%; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 555 tỷ đồng, tăng 6,48%; giáo dục và đào tạo 381 tỷ đồng, tăng 6,08%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 160 tỷ đồng, tăng 7,77%; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 66 tỷ đồng, tăng 57,12%; doanh thu dịch vụ khác 364 tỷ đồng, tăng 11,33%. 6. Chỉ số giá tiêu dùng So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Ba tăng 0,16%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 08 nhóm có chỉ số giá tăng, 02 nhóm có chỉ số giá giảm và 01 nhóm có chỉ số giá ổn định. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,76%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,12%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,21%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,10%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; bưu chính viễn thông tăng 0,08%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,10%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 0,40%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,11%; giao thông giảm 1,69%. Riêng nhóm dịch vụ giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước. So với tháng 12/2024, chỉ số giá tiêu dùng Ba tăng 1,62%. Trong đó: hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 0,91%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,87%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,94%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,54%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,39%; dịch vụ giao thông giảm 0,79%; bưu chính, viễn thông giảm 0,11%; giáo dục giảm 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,01%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,93%. So với tháng cùng kỳ năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 3,61%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,37% (lương thực tăng 2,38%; thực phẩm tăng 3,83%; ăn uống ngoài gia đình tăng 1,60%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,52%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,71%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,99%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,15%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,57%; dịch vụ giao thông giảm 5,70%; dịch vụ bưu chính, viễn thông tăng 0,16%; giáo dục giảm 1,68%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,16%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,20%. Bình quân chung quý I/2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 08 nhóm tăng giá và 03 nhóm giảm giá. Cụ thể, hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 3,47%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,51%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 4,30%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,73%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,09%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,55%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,78%; hàng hoá và dịch vụ khác tăng 7,17%; giao thông giảm 3,72%; bưu chính, viễn thông giảm 0,06%; dịch vụ giáo dục giảm 1,49%. b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ Giá vàng tiếp tục tăng mạnh, ghi nhận nhiều mức tăng kỷ lục nhất từ trước tới nay. Thời gian qua, lãi suất liên tục giảm, đầu tư khó khăn, thị trường bất động sản vẫn còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Do đó, dòng tiền có xu hướng chảy sang kim loại quý là vàng. Tâm lý “mua vàng còn giữ được giá” khiến nhiều người ưu tiên tích trữ vàng hơn. Giá vàng tại thị trường Hưng Yên tháng 3/2025 tăng 4,26% so với tháng trước. Hiện giá vàng đang ở mức giá cao nhất trong mấy năm trở lại gần đây, bình quân tháng 3/2025, giá vàng xấp xỉ 9.313.000 VNĐ/1 chỉ. Trên thế giới, đồng đô la Mỹ đã tăng lên mức cao nhất trong nhiều tuần so với đồng Euro và Yên Nhật Bản (JPY) sau khi dữ liệu cho thấy hoạt động kinh doanh tại Mỹ đã phục hồi trong tháng 3/2025. Đồng USD đã tăng trước đó so với đồng Yên Nhật Bản do có thông tin cho rằng Tổng thống Mỹ Donald Trump sẽ linh hoạt với các mức thuế sắp tới. Giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng cao hơn so với tháng trước - tăng 0,93% do nhu cầu mua đầu tư tích trữ của các nhà đầu tư tăng. Tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 25.704 VNĐ. 7. Hoạt động vận tải Doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát tháng Ba ước đạt 619 tỷ đồng, tăng 1,50% so với tháng trước và tăng 14,47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I/2024, doanh thu vận tải, kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát ước đạt 1.861 tỷ đồng, tăng 12,59% so với cùng kỳ năm trước. a) Hoạt động vận tải hành khách Vận tải hành khách tháng Ba ước đạt 1.394 nghìn lượt người vận chuyển và 87.660 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 5,66% về lượt người vận chuyển và tăng 3,74% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 84 tỷ đồng, tăng 7,14%. Tính chung quý I năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 4.080 nghìn lượt người vận chuyển và 258.978 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 2,95% về lượt người vận chuyển và tăng 2,32% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 247 tỷ đồng, tăng 5,30%. b) Hoạt động vận tải hàng hoá Vận tải hàng hoá tháng Ba ước đạt 1.635 nghìn tấn vận chuyển và 202.173 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 20,89% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 16,38% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 451 tỷ đồng, tăng 16,66%. Tính chung quý I năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 4.721 nghìn tấn vận chuyển và 626.972 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 12,11% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 19,54% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.353 tỷ đồng, tăng 14,34%. c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Ba ước đạt 66 tỷ đồng, tăng 14,97% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 203 tỷ đồng, tăng 13,10% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Ba ước đạt 19 tỷ đồng, giảm 1,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 57 tỷ đồng, tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước. 8. Hoạt động tài chính, ngân hàng a) Thu ngân sách nhà nước Thu ngân sách nhà nước tháng Ba ước đạt 3.776 tỷ đồng, tăng 96,18% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa 3.362 tỷ đồng, tăng 111,43%; thuế xuất nhập khẩu 414 tỷ đồng, tăng 23,73%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 14 tỷ đồng, tăng 24,09%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 194 tỷ đồng, tăng 83,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.208 tỷ đồng, tăng 128,27%; thu thuế thu nhập cá nhân 221 tỷ đồng, tăng 33,19%; các khoản thu về đất 1.587 tỷ đồng, tăng 149,09%;... Quý I năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 12.109 tỷ đồng, tăng 19,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 10.942 tỷ đồng, tăng 19,54%; thuế xuất nhập khẩu 1.167 tỷ đồng, tăng 14,76%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 59 tỷ đồng, giảm 2,19%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.147 tỷ đồng, tăng 29,26%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 5.563 tỷ đồng, tăng 21,42%; thu lệ phí trước bạ 215 tỷ đồng, tăng 60,56%; thuế thu nhập cá nhân 754 tỷ đồng, tăng 51,05%; các khoản thu về đất 3.001 tỷ đồng, tăng 13,08%;... b) Chi ngân sách nhà nước Chi ngân sách nhà nước tháng Ba ước đạt 1.513 tỷ đồng, tăng 53,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 712 tỷ đồng, tăng 138,17%; chi thường xuyên 801 tỷ đồng, tăng 16,64%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 65 tỷ đồng, tăng 2,71%; chi giáo dục, đào tạo 300 tỷ đồng, tăng 34,92%; chi sự nghiệp y tế 123 tỷ đồng, giảm 29,45%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 20 tỷ đồng, tăng 99,87%; chi đảm bảo xã hội 33 tỷ đồng, giảm 48,86%; chi quản lý hành chính 201 tỷ đồng, tăng 69,20%;... Quý I năm 2025, chi ngân sách nhà nước ước đạt 10.082 tỷ đồng, tăng 17,06% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 7.856 tỷ đồng, tăng 15,31%; chi thường xuyên 2.226 tỷ đồng, tăng 23,69%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 114 tỷ đồng, tăng 17,77%; chi giáo dục, đào tạo 869 tỷ đồng, tăng 32,52%; chi sự nghiệp y tế 203 tỷ đồng, giảm 17,99%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 42 tỷ đồng, tăng 55,58%; chi đảm bảo xã hội 178 tỷ đồng, giảm 4,91%; chi quản lý hành chính 643 tỷ đồng, tăng 45,51%;... c) Hoạt động ngân hàng Ước tính đến 31/3/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 151.080 tỷ đồng, tăng 3,60% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 150.306 tỷ đồng, tăng 3,56% và chiếm 99,49% nguồn vốn huy động; phát hành giấy tờ có giá 774 tỷ đồng, tăng 12,50% và chiếm 0,51%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/3/2025 đạt 117.651 tỷ đồng, tăng 1,50% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 84.981 tỷ đồng, tăng 0,69%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 32.670 tỷ đồng, tăng 3,68%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 113.832 tỷ đồng, tăng 1,48%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 3.818 tỷ đồng, tăng 2,07%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 81.683 tỷ đồng, tăng 1,41% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 50.889 tỷ đồng, tăng 1,50%; xuất khẩu 2.088 tỷ đồng, tăng 1,47%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 23.748 tỷ đồng, tăng 1,50%; công nghiệp hỗ trợ 4.959 tỷ đồng, ổn định so với thời điểm 31/12/2024. Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu là 1.292 tỷ đồng (chiếm 1,10% dư nợ tín dụng), tăng 5,38% so với thời điểm 31/12/2024. II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI 1. Đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội a) Đời sống dân cư Nhìn chung, kinh tế - xã hội tỉnh trong quý I năm 2025 phát triển ổn định; tăng trưởng các ngành, lĩnh vực đều đạt tốc độ khá; công tác sắp xếp, hoàn thiện bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức được thực hiện tích cực. Vì vậy, đời sống nhân dân và an sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, giải quyết được nhiều việc làm cho người lao động, quốc phòng an ninh được giữ vững. b) An sinh xã hội Nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025, tỉnh đã tổ chức thăm, tặng quà 72.613 lượt người có công, gia đình liệt sĩ và 04 tập thể với tổng số tiền gần 43 tỷ đồng. Thực hiện tiếp nhận, xét duyệt 893 lượt hồ sơ giải quyết chế độ liên quan đến người có công và thân nhân người có công (trong đó: 713 lượt hồ sơ trực tuyến liên thông 3 cấp; 163 lượt hồ sơ tiếp nhận qua hệ thống một cửa điện tử của tỉnh; thẩm định, trình cơ quan có thẩm quyền xét duyệt 01 hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng; trình UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt chế độ bảo hiểm y tế cho 16 người). Tổ chức chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho gần 20.650 người/tháng, tổng kinh phí chi trả các đối tượng từ ngân sách trung ương thực hiện Pháp lệnh ưu đãi người có công trên 160 tỷ đồng. Tiếp tục phối hợp với cơ quan, đơn vị và địa phương có liên quan thực hiện Kế hoạch triển khai thu nhận mẫu ADN cho thân nhân của liệt sĩ chưa xác định được danh tính. 2. Lao động, việc làm Trong quý I/2025, tỉnh đã tiếp nhận, thẩm định 896 hồ sơ thủ tục hành chính đề nghị cấp giấy phép lao động cho người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Số người lao động được giải quyết việc làm trong quý I/2025 là 6.247 người, trong đó xuất khẩu lao động là 943 người, tập trung chủ yếu ở các quốc gia: Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan,... Quý I năm 2025, tỉnh đã tổ chức tư vấn về việc làm, chính sách lao động việc làm cho 8.042 người. Trong đó, người lao động 6.918 người; số người sử dụng lao động 1.124 người. Số người được giới thiệu việc làm là 678 người. 3. Hoạt động văn hóa, thể thao a) Hoạt động văn hóa Quý I năm 2025, toàn tỉnh đã thực hiện tốt các hoạt động để phát triển văn hóa, thể thao, du lịch, thông tin, báo chí, xuất bản tại địa phương theo đúng quy định của pháp luật. Nhiều hoạt động kỷ niệm các ngày lễ, ngày Tết diễn ra sôi nổi như: Kỷ niệm 95năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2025) và mừng Xuân Ất Tỵ năm 2025; kỷ niệm 115 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3 và 1985 năm Khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Thư viện tỉnh đã tổ chức trưng bày sách báo, tài liệu mừng Đảng, mừng Xuân Ất Tỵ 2025; trưng bày sách báo tại Hội Báo Xuân Ất Tỵ; trưng bày sách báo, xếp mô hình sách nghệ thuật tại Đại hội Cháu ngoan Bác Hồ tỉnh Hưng Yên lần thứ VI, năm 2025; tuyên truyền, giới thiệu sách báo, tài liệu kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; kỷ niệm 115 năm ngày Quốc tế Phụ nữ 08/3 và 1985 năm khởi nghĩa Hai Bà Trưng; tuyên truyền sách hay, sách mới trên website và facebook Thư viện tỉnh; biên soạn và phát hành thư mục bài trích báo, tạp chí có nội dung về kinh tế, văn hóa, giáo dục,... của tỉnh Hưng Yên, gồm 70 bài trích; sưu tầm tài liệu, biên soạn thư mục chuyên đề toàn văn về “Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh” và “Danh nhân Hoàng Hoa Thám”; phối hợp tổ chức Hội nghị nói chuyện chuyên đề với chủ đề: “Đọc sâu - Nhớ lâu”, thu hút trên 500 giáo viên và học sinh tham dự Nhà hát Chèo đã tổ chức 31 buổi biểu diễn chương trình nghệ thuật trong và ngoài tỉnh phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật khai mạc trưng bày tranh dân gian Việt Nam và Chợ Tết Việt; chương trình nghệ thuật chào mừng 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng Xuân Ất Tỵ 2025. Dàn dựng vở mới “Bến sông trăng” để tham dự Liên hoan nghệ thuật sân khấu về hình tượng người chiến sĩ Công an Nhân dân. Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 202 buổi chiếu phim (26 buổi lưu động, 176 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân. Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, hình ảnh quê hương Hưng Yên. b) Hoạt động thể dục, thể thao Thể dục, thể thao quần chúng: Toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Đơn vị chuyên môn thường xuyên phối hợp với các ngành, các cấp, các Liên đoàn thể thao để phát triển phong trào tập luyện thể dục thể thao nâng cao sức khỏe trong mọi tầng lớp Nhân dân; phong trào TDTT của tỉnh ngày càng phát triển theo hướng ổn định và đi vào chiều sâu, chất lượng. Xây dựng và ban hành kế hoạch thi đấu các giải thể thao quần chúng năm 2025; tổ chức thành công 02 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh (Bóng bàn, Cầu lông). Từ ngày 21-23/3/2025, tại sân Pickleball Phố Hiến - thành phố Hưng Yên đã diễn ra giải Pickleball cán bộ lãnh đạo, quản lý và vô địch các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025. Đây là lần đầu tiên tỉnh tổ chức Giải vô địch Pickleball cấp tỉnh. Tham dự giải có 37 đơn vị, câu lạc bộ với tổng số 250 vận động viên đến từ các sở, ban, ngành, huyện, thị xã, thành phố, câu lạc bộ. Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Trong quý I năm 2025, đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu 02 giải (Vô địch Karate Miền Bắc lần thứ V năm 2025, giải Muay Vô địch các CLB toàn quốc năm 2025), đạt 13 huy chương các loại, trong đó: 01 HCV, 03 HCB, 09 HCĐ. 4. Hoạt động y tế Bệnh tay chân miệng: lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 28/3/2025, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 33 ca (tăng 05 ca so với cùng kỳ năm 2024), được sàng lọc tại bệnh viện khi đến khám và điều trị, không có trường hợp tử vong. Bệnh Sởi: tình hình bệnh Sởi đang có chiều hướng gia tăng từ cuối năm 2024, lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 28/3/2025, tỉnh đã ghi nhận tổng số 188 ca mắc/nghi mắc có địa chỉ tại Hưng Yên (trong đó có 121 ca được phát hiện, chẩn đoán xác định dương tính tại các bệnh viện tuyến trung ương). Nhìn chung, số ca mắc đơn lẻ, rải rác tại một số địa phương, trong đó nhiều nhất tại thành phố Hưng Yên (hiện còn 8 ca đang điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh; 6 ca tại Bệnh viện Sản Nhi, và 2 ca tại Bệnh viện Đa khoa Phố Nối, người bệnh có sức khỏe ổn định), không có ca nặng, không có ca tử vong, không ghi nhận ổ dịch. Tình hình một số bệnh truyền nhiễm khác: - Covid-19: lũy kế từ đầu năm đến ngày 28/3/2025, toàn tỉnh ghi nhận 01 ca, chưa có ca tử vong. - Bệnh Ho gà: lũy kế từ đầu năm đến ngày 28/3/2025, toàn tỉnh ghi nhận 02 ca, chưa có ca tử vong. - Bệnh bạch hầu: Năm 2025 chưa ghi nhận ca mắc. - Bệnh cúm mùa: Toàn tỉnh chưa ghi nhận ca bệnh nhiễm cúm A H5N1 và H7N9, số ca mắc cúm mùa từ đầu năm 2025 đến ngày 28/3/2025 là 1.860 ca theo hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm. 5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ Từ ngày 26/02/2025 đến ngày 25/3/2025, trên địa bàn tỉnh đã phát hiện 2 vụ vi phạm môi trường, hiện chưa xử lý, đang củng cố hồ sơ. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 18 vụ (giảm 90,0%); số vụ xử lý vi phạm giảm 20 vụ; số tiền xử phạt giảm 119 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 1 vụ (tăng 100,0%); số vụ xử lý giảm 1 vụ; số tiền xử phạt giảm 20 triệu đồng. Lũy kế từ ngày 26/12/2024 đến ngày 25/3/2025, toàn tỉnh đã phát hiện 37 vụ vi phạm môi trường, xử lý 29 vụ với số tiền xử phạt 199 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 25 vụ (tăng 208,33%); số vụ đã xử lý 29 vụ, tăng 17 vụ (tăng 141,67%); số tiền xử phạt tăng 39 triệu đồng (tăng 24,38%). Nguyên nhân xử phạt chủ yếu về vi phạm quản lý chất thải nguy hại, xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép, an toàn vệ sinh thực phẩm,... Từ ngày 15/02/2025 đến ngày 14/3/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không xảy ra vụ cháy, nổ nào. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/3/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 5 vụ cháy, không có vụ nổ, số vụ cháy giảm 10 vụ, tương ứng giảm 66,67% so với cùng kỳ năm trước. 6. An toàn giao thông Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/02/2025 đến 14/3/2025, toàn tỉnh xảy ra 17 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 11 người, làm bị thương 12 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 4 vụ, giảm 19,05%; số người chết giảm 2 người, giảm 15,38%; số người bị thương giảm 5 người, giảm 29,41%. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 32 vụ, giảm 65,31%; số người chết giảm 5 người, giảm 31,25%; số người bị thương giảm 29 người, giảm 70,73%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/3/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 65 vụ tai nạn giao thông, làm chết 40 người, làm bị thương 41 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 126 vụ, giảm 65,97%; số người chết giảm 23 người, giảm 36,51%; số người bị thương giảm 136 người, giảm 76,84%./.
Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng Hai và hai tháng đầu năm 2025
- 10/03/2025 07:26
1. Nông nghiệp và thủy sản Thời gian qua, các địa phương trong tỉnh đã tập trung lấy nước đổ ải theo đúng kế hoạch, đồng thời lấy nước đến đâu tiến hành làm đất ngay đến đó, bảo đảm chất lượng đất cho gieo cấy lúa xuân. Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau: a) Nông nghiệp Cây hằng năm: Theo kết quả sơ bộ điều tra diện tích vụ đông năm 2024- 2025, tổng diện tích gieo trồng toàn tỉnh đạt 6.752 ha, giảm 0,64%, tương ứng giảm 42 ha so với vụ đông năm trước. Cụ thể: ngô 1.307 ha, tăng 0,99% (tăng 13 ha); khoai lang 148 ha, tăng 12,06% (tăng 16 ha); đậu tương 147 ha, giảm 26,17% (giảm 52 ha); rau các loại 4.093 ha, tăng 0,64% (tăng 27 ha); đậu, đỗ các loại 70 ha, tăng 11,0% (tăng 7 ha); hoa các loại 335 ha, giảm 5,23% (giảm 19 ha);... Thời tiết cuối năm 2024 cơ bản thuận lợi cho gieo trồng cây vụ đông. Tuy nhiên, nửa đầu tháng 9/2024, do ảnh hưởng của cơn bão số 3 (bão Yagi) và mưa, lũ sau bão đã gây ngập úng cục bộ một số diện tích trồng cây vụ đông sớm của tỉnh, đồng thời làm ảnh hưởng đến tiến độ trồng cây vụ đông, nhất là cây vụ đông ưa ấm. Đến ngày 20/02/2025, các địa phương trong tỉnh đã cơ bản kết thúc thu hoạch cây vụ đông, nhất là những diện tích ở chân ruộng 2 vụ lúa để nhường đất cho gieo cấy lúa vụ xuân. Vụ xuân năm nay, tỉnh có kế hoạch gieo trồng 23.600 ha lúa. Để thực hiện thắng lợi kế hoạch sản xuất vụ xuân, thời gian qua, các cấp, các ngành, các địa phương trong tỉnh đã tích cực chỉ đạo một số công việc trọng tâm như: cung cấp đủ lượng thóc giống, kể cả giống dự phòng cho nông dân; thực hiện tốt kế hoạch đổ ải 2 đợt (đợt 1 từ 12/01/2025 - 16/01/2025; đợt 2 từ 08/02/2025 - 14/02/2025). Theo báo cáo tiến độ sản xuất nông nghiệp, đến ngày 20/02/2025, toàn tỉnh đã gieo cấy được 15.152 ha lúa, đạt 64% kế hoạch. Trong đó, diện tích cấy tay đạt 6.600 ha, cấy máy đạt 1.629 ha, gieo thẳng đạt 6.923 ha. Cũng đến ngày 20/02/2025, diện tích làm đất lần 2 của tỉnh đạt 21.748 ha và 4.421 ha lúa được chăm sóc lần 1. Toàn tỉnh phấn đấu hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa xuân trước 05/3/2025. Bên cạnh việc gieo cấy lúa xuân, nông dân tại các địa phương còn đẩy mạnh việc gieo trồng rau màu vụ xuân. Đến ngày 20/2/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng được 1.962 ha rau màu vụ xuân. Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn tiếp tục phát triển. Thời điểm tháng Hai, cây nhãn, vải đang trong giai đoạn phân hóa mầm hoa, phát triển nụ, hiện nhà vườn đang tiến hành áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nhằm tăng tỷ lệ ra hoa, đậu quả. Đối với cây chuối và cây có múi, hiện nay cơ bản đã thu hoạch xong, các nhà vườn đang tập trung chăm sóc để cây phục hồi nhanh, đâm chồi, nảy lộc, ra hoa, đậu quả. Các địa phương cần tranh thủ thời tiết tạnh ráo, chủ động phun phòng trừ bệnh sương mai và sâu lưu trú qua đông trên các cây nhãn, vải và cây có múi để bảo vệ hoa và lộc non theo đúng hướng dẫn của các ngành chuyên môn. Ngày 05/2/2025, tại phường Nhân Hòa (thị xã Mỹ Hào), Tỉnh ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh long trọng tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Ất Tỵ năm 2025. Đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng và đoàn công tác của Trung ương đã đến dự. Toàn tỉnh hình thành 185 tuyến đường có cây xanh mới tại các khu đô thị, các khu công nghiệp, khu dân cư. Cùng với trồng cây Nhân dân, các khu vực chuyển đổi cơ cấu cây trồng cũng được trồng tập trung một loại cây ăn quả, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, nâng cao giá trị kinh tế trong sản xuất nông nghiệp. Chăn nuôi gia súc, gia cầm: Hiện nay, thời tiết đang trong giai đoạn chuyển mùa, nồm ẩm kéo dài gây bất lợi cho sức khỏe đàn gia súc, gia cầm nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh phát triển, lây lan. Các hộ chăn nuôi cần áp dụng nghiêm ngặt các biện pháp vệ sinh, sát trùng phương tiện ra vào khu vực chăn nuôi, tạo môi trường thoáng sạch; giữ ấm cho đàn gia súc, gia cầm; cung cấp đủ dinh dưỡng và thường xuyên theo dõi để kịp thời phát hiện bệnh. Ước tính tại thời điểm 28/02/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: trâu 4.743 con, giảm 4,39% so với cùng kỳ năm 2024; bò 30.445 con, tăng 0,67%; lợn 456.537 con, tăng 1,15%; gia cầm 9.162 nghìn con, tăng 1,29% (trong đó: gà 6.532 nghìn con, tăng 1,98%). b) Thủy sản Diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước tính đạt 4.879 ha (Diện tích chưa bao gồm nuôi lồng bè, bể bồn và ươm giống), giảm 4,59%, tương ứng giảm 238 ha. Sản phẩm nuôi trồng chủ yếu vẫn là những giống cá trắm, chày, chép hoặc rô phi và một số giống cá khác như: cá mè, cá trôi,... cho năng suất cao. Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng tháng Hai ước đạt 1.668 tấn, tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 1.614 tấn, tăng 3,33%; sản lượng tôm 2,2 tấn (Sản lượng tôm không bao gồm tôm thẻ chân trắng do chưa đến thời kỳ thu hoạch), tăng 4,76%; sản lượng thuỷ sản nuôi trồng khác ước đạt 52 tấn, tăng 4,0%. Ngành khai thác thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục có xu hướng giảm dần về sản lượng và số hộ khai thác do nguồn lợi thủy sản cạn kiệt dần, nguồn nước trên các sông nhỏ, ao, hồ bị ảnh hưởng ô nhiễm môi trường làm các loại thủy sản không sinh trưởng và phát triển được.