Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 11 và 11 tháng năm 2025
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
Tháng Mười Một, các địa phương trong tỉnh khẩn trương thu hoạch xong diện tích lúa mùa còn lại; tổ chức gieo trồng, chăm sóc cây rau màu vụ đông; đồng thời tăng cường công tác phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng lâu năm và bảo đảm an toàn cho đàn gia súc, gia cầm. Kết quả cụ thể như sau:
a) Trồng trọt
Cây hằng năm
Vụ mùa: Đến nay, toàn tỉnh đã kết thúc thu hoạch lúa mùa. Theo đánh giá từ các địa phương, năng suất gieo trồng lúa mùa ước đạt 59,21 tạ/ha, tăng 34,55% (tăng15,20 tạ/ha); sản lượng lúa ước đạt 572.710 tấn, tăng 31,99% (tăng 138.809 tấn) so với vụ mùa năm 2024. Ước tính năng suất gieo trồng và sản lượng gieo trồng một số cây hằng năm vụ mùa như sau: năng suất ngô 58,17 tạ/ha, tăng 30,31% (tăng 13,53 tạ/ha), sản lượng ngô 17.337 tấn, tăng 25,75% (tăng 3.551 tấn); năng suất đậu tương 21,94 tạ/ha, tăng 3,95% (tăng 0,83 tạ/ha), sản lượng đậu tương 1.149 tấn, tăng 0,18% (tăng 2 tấn); năng suất rau các loại 257,38 tạ/ha, tăng 20,32% (tăng 43,47 tạ/ha), sản lượng rau các loại 316.070 tấn, tăng 21,70% (tăng 56.367 tấn). Nguyên nhân chủ yếu khiến năng suất và sản lượng gieo trồng một số cây hằng năm vụ mùa năm nay tăng mạnh so với năm ngoái là do tháng Chín năm 2024, bão số 3 (bão Yagi) có cường độ rất mạnh đổ bộ vào nước ta. Bão và mưa, lũ sau bão đã gây ra đợt mưa lớn tại khắp các tỉnh Bắc Bộ, làm ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp và thủy sản.
Sản xuất cây vụ đông năm 2026: Đến ngày 20/11/2025, toàn tỉnh đã gieo trồng khoảng 39.800 ha các loại cây vụ đông (đạt khoảng 92,3% diện tích). Trong đó: cây ngô 7.495 ha, tăng 0,52% so với cùng kỳ năm trước; khoai lang 1.852 ha, tăng 2,03%; đậu tương 199 ha, tăng 4,47%; lạc 170 ha, tăng 3,72%; rau các loại 18.237 ha, tăng 1,79%; đậu các loại 1.100 ha, tăng 1,81%. Nông dân các địa phương đã đẩy nhanh tiến độ sản xuất; mở rộng diện tích gieo trồng bằng các loại cây ngắn ngày và nhóm cây ưa lạnh như khoai tây, su hào, bắp cải, đồng thời tăng cường công tác chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh đối với diện tích cây vụ đông đã xuống giống. Đối với những diện tích rau màu đến kỳ thu hoạch, nhà nông cần thu hái kịp thời nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.
Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh ổn định, các nhà vườn chú trọng phát triển cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Ước tính năm 2025, tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm toàn tỉnh đạt 24.427 ha, tăng 0,24%, tương ứng tăng 58 ha so với năm 2024. Trong đó: cây ăn quả 20.888 ha, tăng 0,25% (tăng 52 ha); cây lấy quả chứa dầu 59 ha, tăng 0,25% (tăng 0,15 ha); cây chè diện tích ổn định, đạt 138 ha; cây gia vị và dược liệu lâu năm 1.172 ha, giảm 2,13% (giảm 26 ha); cây lâu năm khác 2.170 ha, tăng 1,46% (tăng 31 ha).
Ước tính năng suất một số loại cây lâu năm chủ yếu năm 2025 như sau: chuối 327,15 tạ/ha, tăng 2,30% (tăng 7,34 tạ/ha) so với năm trước; ổi 223,50 tạ/ha, tăng 0,90% (tăng 1,99 tạ/ha); cam 193,52 tạ/ha, tăng 8,79% (tăng 15,64 tạ/ha); bưởi 179,86 tạ/ha, tăng 8,62% (tăng14,28 tạ/ha); táo 164,73 tạ/ha, tăng 4,31% (tăng 6,81 tạ/ha); nhãn 102,42 tạ/ha, tăng 15,58% (tăng 13,80 tạ/ha); vải 146,99 tạ/ha, tăng 6,62% (tăng 9,13 tạ/ha).
Ước tính sản lượng một số loại cây lâu năm chủ yếu năm 2025 như sau: chuối 148.353 tấn, tăng 14,68% (tăng 18.985 tấn) so với năm trước; ổi 20.655 tấn, tăng 5,96% (tăng 1.161 tấn); cam 33.875 tấn, tăng 9,11% (tăng 2.827 tấn); táo 7.145 tấn, tăng 4,63% (tăng 316 tấn); nhãn 56.010 tấn, tăng 20,19% (tăng 9.408 tấn); vải 24.475 tấn, tăng 9,70% (tăng 2.164 tấn). Năng suất, sản lượng các cây lâu năm chủ yếu năm 2025 tăng cao so với năm 2024 là do năm 2024, cơn bão số 3 (bão Yagi) và mưa, lũ sau bão đã gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất nông nghiệp.
b) Chăn nuôi
Trong tháng Mười Một, bệnh dịch tả lợn châu Phi vẫn phát sinh tại các xã cũ và 01 xã mới (xã Hồng Minh). Lũy kế đến ngày 14/11/2025, dịch đã xảy ra tại 439 hộ trên địa bàn 136 thôn của 35 xã. Tổng số lợn đã tiêu huỷ trên địa bàn tỉnh lũy kế đến ngày 14/11/2025 là 12.594 con (735 con lợn nái và 11.859 con lợn thịt); khối lượng lợn tiêu hủy 756.572 kg (khối lượng lợn nái 153.334 kg và khối lượng lợn thịt 603.239 kg). Cùng thời gian này, tỉnh đã triển khai tiêm phòng vắc xin vụ thu đông năm 2025 cho đàn gia súc, gia cầm theo kế hoạch. Công tác giám sát dịch bệnh được tăng cường. Các địa phương chủ động chuẩn bị đầy đủ vật tư, hóa chất và nhân lực, sẵn sàng ứng phó với mọi tình huống dịch bệnh có thể phát sinh.
Ước tính tại thời điểm 30/11/2025, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.971 con, tăng 0,61%; đàn bò 83.514 con, tăng 0,47%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.045.754 con, tăng 1,17%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.846 nghìn con, tăng 1,71% (trong đó: đàn gà 16.963 nghìn con, tăng 1,98%) so với cùng thời điểm năm trước.
c) Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng Mười Một tập trung vào công tác chăm sóc, bảo vệ rừng và chuẩn bị trồng bổ sung rừng ngập mặn ven biển. Các xã ven biển có rừng tiếp tục quản lý bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có. Trong tháng, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 204 m3, tăng 1,49%; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 52 nghìn cây, tăng 3,61% so với cùng kỳ năm 2024. Lũy kế mười một tháng năm 2025, tỉnh đã trồng mới 7 ha rừng thuộc khu vực Thái Thụy cũ; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.194 m³, giảm 0,12%; số lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.508 nghìn cây, tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước.
d) Sản xuất thủy sản
Tháng Mười Một, tình hình sản xuất thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định, hướng tới phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và an toàn thực phẩm.
Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Mười Một ước đạt 7.673 tấn, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.760 tấn, tăng 3,02%; tôm 293 tấn, tăng 2,81%; thủy sản khác 1.620 tấn, tăng 2,99%. Lũy kế mười một tháng, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 93.808 tấn, tăng 3,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 62.458 tấn, tăng 3,57%; tôm đạt 2.020 tấn, tăng 3,11%; thủy sản khác 29.330 tấn, tăng 4,22%.
Nuôi trồng thủy sản: cơ quan chuyên môn đã tăng cường chỉ đạo, quản lý vùng nuôi tập trung và các điểm nuôi cá lồng trên hệ thống sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng nhằm bảo đảm an toàn môi trường và hiệu quả sản xuất. Các đối tượng thủy sản nuôi trong lồng bao gồm: cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, ngạnh, trắm đen,... Trong đó, nuôi chủ yếu là cá lăng, chép, trắm và diêu hồng. Nuôi hàu cửa sông đạt 2.110 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú. Sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh tháng Mười Một ước đạt 23.476 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 9.140 tấn, tăng 4,09%; tôm 803 tấn, tăng 3,21%; thủy sản khác 13.533 tấn, tăng 3,27%. Lũy kế mười một tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 223.732 tấn, tăng 2,89% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 91.832 tấn, tăng 2,99%; tôm 5.793 tấn, tăng 3,59%; thủy sản khác 126.107 tấn, tăng 2,78%.
2. Sản xuất công nghiệp
Thời gian qua, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến tích cực. Nhiều doanh nghiệp đầu tư mới và mở rộng quy mô sản xuất, sản xuất các sản phẩm chủ lực đạt mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ, nhiều đơn hàng mới được ký kết, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh.
So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười Một tăng 2,46%. Trong đó: khai khoáng tăng 1,11%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,15%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 17,68%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: điện sản xuất tăng 17,87%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 17,10%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 12,11%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 11,88%; thức ăn cho gia cầm tăng 6,79%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 6,25%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 4,12%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 3,27%; quần áo các loại tăng 2,14%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 1,12%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân giảm 7,46%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 5,0%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 31,16%; mạch điện tử tích hợp giảm 8,66%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng giảm 7,85%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 1,41%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười Một tăng 15,74%. Trong đó: khai khoáng tăng 11,22%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,76%; sản xuất và phân phối điện tăng 15,61%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,65%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: Nitơrat Amoni tăng 711,93%; mạch điện tử tích hợp tăng 74,40%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 33,55%; gỗ, ốp lát công nghiệp tăng 31,49%; quần áo các loại tăng 17,86%; điện sản xuất tăng 17,45%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 16,71%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 15,14%; thức ăn cho gia cầm tăng 13,11%; điện thương phẩm tăng 11,35%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 10,86%; mạch in khác tăng 10,66%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 10,40%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 23,05%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 20,42%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 23,85%; dây thép không gỉ tăng 46,36%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 46,37%; giày dép khác chưa được phân vào đâu giảm 39,53%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 24,72%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 16,68%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 11,81%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân giảm 32,63%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 39,01%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 21,15%; tôm đông lạnh giảm 9,72%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 8,73%;...
Tính chung mười một tháng năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 12,26% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Cụ thể: chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 16,07%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,66%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 7,26%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 13,50%. Trong đó, hầu hết các ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh đều có chỉ số sản xuất tăng cao như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 96,34%; in, sao chép bản ghi các loại tăng 31,79%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 20,48%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 19,69%; sản xuất thiết bị điện tăng 19,48%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 18,51%; sản xuất trang phục tăng 17,93%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 17,35%;... Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất đồ uống giảm 4,10%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị giảm 3,96%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 3,37%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 3,78%;...
Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực của tỉnh trong mười một tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 68,35%; giày dép khác chưa được phân vào đâu tăng 31,89%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 24,76%; quần áo các loại tăng 18,75%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 18,0%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 17,80%; khí tự nhiên dạng khí tăng 16,97%; Nitơrat Amoni tăng 15,17%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 8,35%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 25,50%; thép hợp kim cán phẳng, có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp điện phân tăng 31,57%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 50,98%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 35,77%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 17,22%; mạch điện tử tích hợp giảm 13,66%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 9,47%; tôm đông lạnh giảm 8,59%; dây cách điện đơn dạng cuộn bằng đồng giảm 8,25%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 19,62%; thanh, que thép không gỉ khác giảm 3,40%;...
3. Hoạt động đầu tư
a) Vốn đầu tư ngân sách địa phương
Ngày 31/10/2025, tỉnh Hưng Yên đã làm lễ khởi công xây dựng tuyến đường từ phường Thái Bình đi qua xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến (tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên cũ). Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ phường Thái Bình đi qua xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến, tỉnh Hưng Yên được UBND tỉnh phê duyệt tại Quyết định số 305/QĐ-UBND ngày 16/7/2025 với tổng mức đầu tư 4.927 tỷ đồng, nguồn vốn ngân sách tỉnh, ngân sách Trung ương hỗ trợ. Dự án do Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng số 2 tỉnh làm chủ đầu tư, liên danh Công ty Cổ phần xây dựng Xuân Quang, Tổng Công ty Xây dựng Trường Sơn thi công có tổng chiều dài 24,8km, đi qua phường Thái Bình và các xã Nam Tiên Hưng, Tiên Hưng, Hồng Minh, Hưng Hà, Tiên La và Ngự Thiên, với điểm đầu tại nút giao với Quốc lộ 10, thuộc phường Thái Bình, điểm cuối tại đầu cầu vượt sông Luộc, thuộc xã Ngự Thiên. Toàn tuyến có 8 cây cầu và 9 nút giao cùng mức, bảo đảm an toàn, thông suốt và kết nối liên hoàn với hạ tầng hiện hữu. Thời gian thực hiện dự kiến từ năm 2025 đến năm 2028.
Ước vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Mười Một đạt 5.407 tỷ đồng, tăng 7,67% so với tháng trước và tăng 77,07% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.418 tỷ đồng, tăng 11,24% so với tháng trước và tăng 103,42% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.989 tỷ đồng, tăng 2,05% so với tháng trước và tăng 44,83% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười một tháng năm 2025, vốn đầu tư thực hiện thuộc nguồn vốn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 35.551 tỷ đồng, tăng 54,81% so với cùng kỳ năm trước và đạt 65,97% so với kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 21.020 tỷ đồng, tăng 91,52% so với cùng kỳ năm trước và đạt 66,74% kế hoạch năm; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 14.531 tỷ đồng, tăng 21,21% so với cùng kỳ năm trước và đạt 64,88% kế hoạch năm.
b) Hoạt động đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 27/11/2025, toàn tỉnh có 940 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 16.814,06 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/11/2025, có 132 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 1.680,71 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 194 dự án, vốn đăng ký là 6.165,02 triệu USD, chiếm 36,67% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 354 dự án, vốn đăng ký 4.416,19 triệu USD, chiếm 26,26% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 208 dự án, vốn đăng ký 2.287,37 triệu USD, chiếm 13,60% tổng vốn đăng ký.
c) Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 359 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 2.704 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 66 doanh nghiệp, vốn đăng ký 728 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 127 doanh nghiệp, vốn đăng ký 525 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 14 doanh nghiệp, vốn đăng ký 303 tỷ đồng; vận tải kho bãi 34 doanh nghiệp, vốn đăng ký 420 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 19 doanh nghiệp, vốn đăng ký 44 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, vốn đăng ký 39 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 15 doanh nghiệp, vốn đăng ký 46 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh có 4.903 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, vốn đầu tư đăng ký đạt 66.151 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.996 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 7.146 tỷ đồng (chiếm 10,80% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 1.078 doanh nghiệp, vốn đăng ký đạt 24.137 tỷ đồng (chiếm 36,49%); xây dựng 354 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.925 tỷ đồng (chiếm 4,42%); hoạt động vận tải, kho bãi 306 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.041 tỷ đồng (chiếm 3,09%); giáo dục và đào tạo 304 doanh nghiệp, vốn đăng ký 799 tỷ đồng (chiếm 1,21%); kinh doanh bất động sản 193 doanh nghiệp, vốn đăng ký 21.681 tỷ đồng (chiếm 32,78%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 176 doanh nghiệp, vốn đăng ký 707 tỷ đồng (chiếm 1,07%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 116 doanh nghiệp, vốn đăng ký 519 tỷ đồng (chiếm 0,78%);...
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Mười Một (tính từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025) là 69 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 663 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/10/2025 đến ngày 21/11/2025, số doanh nghiệp giải thể là 95 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 86 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/11/2025, toàn tỉnh có 641 doanh nghiệp giải thể và 1.604 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 124 doanh nghiệp giải thể và 364 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,34% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 22,69% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 218 doanh nghiệp giải thể và 573 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,01% và 35,72%; kinh doanh bất động sản có 26 doanh nghiệp giải thể và 46 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 4,06% và 2,87%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 30 doanh nghiệp giải thể và 66 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,68% và 4,11%;...
4. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười Một năm 2025 của tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.220 tỷ đồng, tăng 3,62% so với tháng trước và tăng 20,42% so cùng kỳ năm trước. Cộng dồn mười một tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 205.784 tỷ đồng, tăng 8,94% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Mười Một ước đạt 10.718 tỷ đồng (chiếm 44,25% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng), tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 18,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 35,16%; hàng may mặc tăng 32,26%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,91%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 22,57%; xăng, dầu các loại tăng 20,41%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 18,93%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 40,0%; hàng hóa khác tăng 15,60%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 15,87%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng thì cũng có những nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm so cùng kỳ năm trước như: đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 15,96%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục giảm 13,30%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) giảm 7,20%.
Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 108.084 tỷ đồng, tăng 15,23% so với cùng kỳ năm trước. Có 10/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước là: lương thực, thực phẩm tăng 24,88%; hàng may mặc tăng 19,57%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 13,25%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 15,10%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 16,38%; xăng, dầu các loại tăng 13,99%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 17,46%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 31,18%; hàng hóa khác tăng 15,69%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 18,29%. Có 2 nhóm ngành hàng có doanh thu giảm so với cùng kỳ năm trước là: đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 5,52% và vật phẩm, văn hóa giáo dục giảm 1,10%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Mười Một ước đạt 835 tỷ đồng, tăng 4,86% so với tháng trước và tăng 6,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 34 tỷ đồng, tăng 2,54% so với tháng trước và tăng 10,55% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 801 tỷ đồng, tăng 4,96% so với tháng trước và tăng 6,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 9.310 tỷ đồng, tăng 16,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 342 tỷ đồng, tăng 14,30%; doanh thu dịch vụ ăn uống 8.968 tỷ đồng, tăng 16,94% do các chi phí sản xuất như giá lương thực, giá điện, giá gas, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng.
Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Mười Một ước đạt 10 tỷ đồng, tăng 11,15% so với tháng trước và tăng 45,67% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 184 tỷ đồng, tăng 21,0% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Mười Một ước đạt 12.656 tỷ đồng, tăng 4,72% so với tháng trước và tăng 23,36% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản 11.731 tỷ đồng, tăng 4,83% so với tháng trước và tăng 24,78% so với cùng kỳ năm trước; hành chính và dịch vụ hỗ trợ 331 tỷ đồng, tăng 5,04% so với tháng trước và tăng 5,93% so với cùng kỳ năm trước; giáo dục và đào tạo 158 tỷ đồng, giảm 3,47% so với tháng trước và tăng 13,41% so với cùng kỳ năm trước; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 126 tỷ đồng, tăng 1,40% so với tháng trước và tăng 4,62% so với cùng kỳ năm trước; nghệ thuật, vui chơi và giải trí 79 tỷ đồng, giảm 0,04% so với tháng trước và tăng 20,74% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 231 tỷ đồng, tăng 8,57% so với tháng trước và tăng 4,97% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười một tháng, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 88.205 tỷ đồng, tăng 1,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất (chiếm tới 89,49% tổng doanh thu ngành dịch vụ), tăng 0,45%; hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 8,67%; giáo dục và đào tạo tăng 8,10%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 8,88%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 21,47%; dịch vụ khác tăng 11,90%.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười Một tăng 0,57%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 08 nhóm có chỉ số giá tăng, 03 nhóm có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá tăng là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,77%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,79%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,08%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,61%; giao thông tăng 1,01%; thông tin truyền thông tăng 0,07%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,34%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 1,01%; giáo dục giảm 0,01%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,26%.
So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười Một tăng 2,96%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 0,31%, còn các nhóm hàng khác đều có chỉ số giá tăng. Trong đó: nhóm hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,76%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,88%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,95%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,04%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,69%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,91%; thông tin truyền thông tăng 0,03%; giáo dục tăng 1,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,13%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,36%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười Một tăng 2,95%. Tất cả các nhóm hàng đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,15% (lương thực giảm 3,11%; thực phẩm tăng 2,39%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,67%); đồ uống và thuốc lá tăng 3,95%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,65%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,92%; giao thông tăng 0,21%; thông tin truyền thông tăng 0,11%; giáo dục tăng 1,13%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 2,10%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,68%.
Bình quân chung mười một tháng năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng chính, có 09 nhóm tăng giá và 02 nhóm giảm giá. Cụ thể, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,92%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,37%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,98%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,51%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,80%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 10,0%; giáo dục tăng 1,96%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,17%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,88%; giao thông giảm 2,71%; thông tin truyền thông giảm 0,19%.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Trong tháng Mười Một, giá vàng trên thế giới diễn biến tăng trước những thông tin về lãi suất, lạm phát và bất ổn kinh tế toàn cầu, khiến nhà đầu tư tìm đến vàng như một kênh trú ẩn an toàn. Tại Việt Nam, giá vàng miếng và vàng trang sức tăng theo xu hướng chung, đồng thời nhu cầu tích trữ vàng của người dân vào thời điểm cuối năm cũng góp phần đẩy chỉ số giá vàng trong tháng tăng. Chỉ số giá vàng tháng Mười Một trên địa bàn tỉnh tăng 4,15% so với tháng trước, giá vàng bình quân xấp xỉ 14.903.000 VNĐ/chỉ.
Chỉ số giá USD trong tháng Mười Một trên địa bàn tỉnh giảm 0,04% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu là do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm nhẹ trong bối cảnh chính sách tiền tệ của Mỹ có tín hiệu nới lỏng hơn, cùng với việc kỳ vọng lạm phát toàn cầu ổn định đã làm giảm sức mạnh của đồng USD. Bên cạnh đó, dòng vốn quốc tế dịch chuyển sang các thị trường mới nổi khi rủi ro toàn cầu hạ nhiệt cũng góp phần làm đồng USD suy yếu. Bình quân tháng 11/2025, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.371 VNĐ.
6. Hoạt động vận tải
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười Một ước đạt 1.585 tỷ đồng, giảm 0,12% so với tháng trước và tăng 7,74% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế mười một tháng năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 16.588 tỷ đồng, tăng 12,89% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:
a) Hoạt động vận tải hành khách
Vận tải hành khách tháng Mười Một ước đạt 4,09 triệu lượt người vận chuyển và 523 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 15,04% về lượt người vận chuyển và tăng 14,09% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 350 tỷ đồng, tăng 6,46% so cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười một tháng năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 41,51 triệu lượt người vận chuyển và 6.305 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 15,81% về lượt người vận chuyển và tăng 31,82% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.802 tỷ đồng, tăng 11,25% so với cùng kỳ năm trước.
b) Hoạt động vận tải hàng hoá
Vận tải hàng hoá tháng Mười Một ước đạt 4,41 triệu tấn vận chuyển và 1.518 triệu tấn luân chuyển, lần lượt giảm 13,02% về tấn hàng hóa vận chuyển và tăng 3,17% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.130 tỷ đồng, tăng 7,86% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười một tháng năm 2025, vận tải hàng hoá ước đạt 53,48 triệu tấn vận chuyển và 16.579 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 4,50% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 12,80% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 11.714 tỷ đồng, tăng 13,56% so với cùng kỳ năm trước.
c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát
Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười Một ước đạt 77 tỷ đồng, tăng 8,43% so với tháng trước và tăng 5,46% so với cùng kỳ năm trước do nhu cầu bốc xếp hàng hóa và số lượng phương tiện vận tải tham gia lưu thông ngày càng tăng. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 851 tỷ đồng, tăng 14,06% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Mười Một ước đạt 27 tỷ đồng, tăng 5,31% so với tháng trước và tăng 29,49% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười một tháng năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 221 tỷ đồng, tăng 2,45% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hoạt động tài chính, ngân hàng
a) Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước tháng Mười Một ước đạt 6.008 tỷ đồng, tăng 90,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 5.558 tỷ đồng, tăng 106,63%; thuế xuất nhập khẩu 450 tỷ đồng, giảm 4,67%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 107 tỷ đồng, tăng 88,35%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 174 tỷ đồng, giảm 9,51%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.449 tỷ đồng, tăng 137,52%; thu thuế thu nhập cá nhân 281 tỷ đồng, tăng 36,53%; các khoản thu về đất 3.254 tỷ đồng, tăng 138,26%;...
Tính chung mười một tháng năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 82.983 tỷ đồng, tăng 75,47% so với cùng kỳ năm trước và đạt 149,77% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 77.342 tỷ đồng, tăng 83,36%; thuế xuất nhập khẩu 5.640 tỷ đồng, tăng 10,36%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.223 tỷ đồng, tăng 20,59%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.866 tỷ đồng, tăng 18,13%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 18.573 tỷ đồng, tăng 17,45%; thu lệ phí trước bạ 1.558 tỷ đồng, tăng 37,19%; thuế thu nhập cá nhân 3.637 tỷ đồng, tăng 61,64%; các khoản thu về đất 46.487 tỷ đồng, tăng 179,15%.
b) Chi ngân sách nhà nước địa phương
Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Mười Một ước đạt 4.045 tỷ đồng, tăng 0,22% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 2.188 tỷ đồng, giảm 2,20%; chi thường xuyên 1.857 tỷ đồng, tăng 3,23%.
Tính chung mười một tháng năm 2025, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 56.240 tỷ đồng, tăng 46,30% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 32.378 tỷ đồng, tăng 45,28%; chi thường xuyên 23.863 tỷ đồng, tăng 47,70%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 1.385 tỷ đồng, tăng 195,37%; chi giáo dục, đào tạo 8.761 tỷ đồng, tăng 22,21%; chi sự nghiệp y tế 1.925 tỷ đồng, tăng 22,29%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 412 tỷ đồng, tăng 42,19%; chi đảm bảo xã hội 2.831 tỷ đồng, tăng 48,61%; chi quản lý hành chính 7.297 tỷ đồng, tăng 99,85%.
c) Hoạt động ngân hàng
Ước tính đến 30/11/2025, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 306.000 tỷ đồng, tăng 10,04% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 304.500 tỷ đồng, tăng 9,90% và chiếm 99,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 1.500 tỷ đồng, tăng 47,05% và chiếm 0,49%.
Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/11/2025 đạt 257.500 tỷ đồng, tăng 15,29% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó, phân theo kỳ hạn: dư nợ cho vay ngắn hạn 187.000 tỷ đồng, tăng 12,67%, dư nợ cho vay trung và dài hạn 70.500 tỷ đồng, tăng 22,90%; phân theo loại tiền: dư nợ cho vay bằng nội tệ 250.500 tỷ đồng, tăng 16,28%, dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.000 tỷ đồng, giảm 11,64%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 170.550 tỷ đồng, tăng 13,92% so với thời điểm 31/12/2024. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 111.500 tỷ đồng, tăng 12,54%; xuất khẩu 1.600 tỷ đồng, giảm 23,66%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.000 tỷ đồng, tăng 19,68%; công nghiệp hỗ trợ 5.300 tỷ đồng, tăng 6,88%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 150 tỷ đồng, tăng 16,29%.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/11/2025 là 1.800 tỷ đồng (chiếm 0,70% dư nợ tín dụng), giảm 5,91% so với thời điểm 31/12/2024.
II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá
Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công Lễ hội chùa Keo mùa thu cấp tỉnh năm 2025; phối hợp với Báo và Phát thanh truyền hình thực hiện chương trình “Lưu giữ hồn quê” tại di tích đền thờ các vị vua triều Trần, xã Long Hưng. Tổ chức trưng bày tại Bảo tàng tỉnh chuyên đề “Hưng Yên - Qua miền di sản” chào mừng ngày Di sản văn hóa Việt Nam 23/11; chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”. Thực hiện tuyên truyền, trưng bày sách báo, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị tại: “Chương trình giao lưu các điển hình tiên tiến trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh khu vực phía Bắc năm 2025 do Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương phối hợp với Tỉnh ủy Hưng Yên tổ chức; Tuần lễ Văn hoá, Thể thao, Du lịch Hưng Yên; chào mừng Ngày Di sản văn hóa Việt Nam (23/11); tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực quan chào mừng Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc 18/11; ngày Thế giới xoá bỏ bạo lực với phụ nữ và trẻ em gái 25/11.
Thư viện tỉnh tổ chức phục vụ lưu động tại 04 trường: Trường Tiểu học Tân Phong, phường Thái Bình; Trường Tiểu học Kim Đồng, phường Trần Hưng Đạo; Trường Trung học cơ sở Quang Bình, xã Kiến Xương; Trường tiểu học An Đồng, xã A Sào, với 2.881 học sinh tham gia và trên 4.000 lượt sách được luân chuyển, tặng 131 bản sách cho các em học sinh.
Về nghệ thuật biểu diễn: Trong tháng, Nhà hát Chèo tổ chức 09 buổi biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu là: Chương trình nghệ thuật khai mạc Tuần Văn hóa, thể thao và du lịch Hưng Yên năm 2025; tham gia Liên hoan Chèo toàn quốc - 2025 đạt 01 huy chương bạc cho vở diễn “Sắc đào thắm đỏ” và 04 huy chương vàng, 12 huy chương bạc, 02 nhạc công xuất sắc cho các cá nhân.
Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 109 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 89 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Thể thao quần chúng:
Toàn tỉnh duy trì tốt phòng trào thể dục thể thao nâng cao sức khỏe trong mọi tầng lớp Nhân dân. Tích cực phối hợp với các ngành, các cấp để phát triển phong trào thể dục thể thao. Trong tháng, tỉnh đã tổ chức thành công nhiều giải thể thao quần chúng cấp tỉnh, như: Giải Dân vũ, Khiêu vũ, Shuffledance các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; giải đua Xe đạp các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; giải Bóng đá nhi đồng vô địch U10 tỉnh Hưng Yên năm 2025.
Thể thao thành tích cao: Đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu 06 giải quốc gia, quốc tế, đạt 60 Huy chương các loại, trong đó có: 23 HCV, 14 HCB, 23 HCĐ. Cụ thể: môn Bơi lặn tham dự thi đấu Giải Lặn vô địch quốc gia năm 2025 tại Thành phố Hà Nội, đạt: 01 HCB, 01 HCĐ; môn Cử tạ tham dự thi đấu Giải vô địch Cử tạ các CLB quốc gia năm 2025 tại tỉnh Thái Nguyên, đạt 01 HCĐ; môn Điền kinh tham dự thi đấu Giải vô địch Điền kinh trẻ quốc gia năm 2025 tại TP. Đà Nẵng, đạt: 03 HCV, 02 HCB, 02 HCĐ; môn Jujitsu tham dự thi đấu Giải vô địch vận động viên xuất sắc Jujitsu quốc gia năm 2025 tại tỉnh Đồng Nai, đạt: 09 HCV, 07 HCB, 08 HCĐ; môn Đua thuyền Rowing tham dự thi đấu Giải Đua thuyền Rowing vô địch U19 và U23 quốc gia năm 2025 tại TP. Hải Phòng, đạt 05 HCV, 02 HCB, 03 HCĐ; môn Pencak Silat tham dự thi đấu Giải vô địch các CLB Pencak Silat quốc gia năm 2025 tại tỉnh Gia Lai, đạt 01HCV, 01HCB, 08HCĐ. Đặc biệt, các vận động viên môn Đua thuyền Rowing của tỉnh được tập trung Đội tuyển Đua thuyền Rowing quốc gia tham dự Giải vô địch Đua thuyền Rowing Châu Á năm 2025 tổ chức tại TP. Hải Phòng. Các VĐV của tỉnh đã đóng góp 05 HCV, 01 HCB vào thành tích của Đội tuyển Đua thuyền Rowing Việt Nam.
c) Hoạt động du lịch
Thực hiện ghi hình phim quảng bá Du lịch Hưng Yên “Trải nghiệm lễ hội chùa Keo”; viết bài, chụp ảnh tư liệu giới thiệu, quảng bá điểm du lịch Hưng Yên; khảo sát, đánh giá tiềm năng, hiện trạng hạ tầng, dịch vụ du lịch tại các khu, điểm có khả năng khai thác phục vụ du lịch của tỉnh (chùa Từ Vân; làng vườn Bách Thuận, nghệ thuật hát Chèo làng Khuốc, nghệ thuật Múa rối nước, làng làm bánh Cáy Nguyên Xá); phối hợp với Ban Chuyên đề - Khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam sản xuất phim tài liệu “Từ Thăng Long đến Phố Hiến”.
Cơ quan chuyên môn xây dựng kế hoạch tổ chức Hội nghị ký kết hợp tác giữa UBND tỉnh Hưng Yên và Tổng Công ty hàng không Việt Nam (VN Airlines) về việc thỏa thuận chương trình hợp tác toàn diện giữa tỉnh Hưng Yên và Tổng công ty Hàng không Việt Nam - VN Airlines giai đoạn 2026-2030. Chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp tổ chức Chương trình khảo sát và Hội nghị xúc tiến điểm đến du lịch Hưng Yên năm 2025.
2. Hoạt động y tế
Ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm. Tỉnh Hưng Yên đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau:
Bệnh sởi: Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định. Tính từ ngày 01/7/2025 đến ngày 23/11/2025, toàn tỉnh ghi nhận 71 ca, không có trường hợp nặng, tử vong.
Sốt xuất huyết Dengue: Các ca bệnh, ổ dịch cũ được phát hiện, xử lý và vệ sinh môi trường theo quy định. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 422 ca, không ghi nhận ca tử vong do SXH.
Bệnh tay chân miệng: Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì. Luỹ kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 660 ca, không có ca bệnh/ổ dịch nguy hiểm, nặng hoặc tử vong trên địa bàn.
Bệnh Covid-19: Tổng từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 101 ca, không có trường hợp nặng, tử vong, toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định.
Bệnh do vi-rút Adeno: Lũy kế số ca mắc từ 01/7/2025 đến 23/11/2025 là 37 ca, rải rác tại các xã, không có trường hợp tử vong.
Bệnh Ho gà: Từ ngày 01/7/2025 đến ngày 23/11/2025, toàn tỉnh có 09 trường hợp ho gà.
Hội chứng cúm: Trên địa bàn tỉnh ghi nhận một số trường hợp mắc hội chứng cúm, chủ yếu là cúm B, cúm A thông thường, không ghi nhận trường hợp nhiễm cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch,... được duy trì.
Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh.
3. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ
Trong tháng Mười Một (từ ngày 26/10/2025 - 25/11/2025), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 14 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 14 vụ với số tiền xử phạt 478 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 3 vụ, tương ứng giảm 17,65%; số vụ đã xử lý tăng 3 vụ, tương đương tăng 27,27%; số tiền xử phạt giảm 556 triệu đồng, tương ứng giảm 53,74%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ vi phạm tăng 4 vụ, tương ứng tăng 40,0%; số vụ đã xử lý tăng 4 vụ, tương đương tăng 40,0%; số tiền xử phạt giảm 458 triệu đồng, tương đương giảm 48,90%. Lũy kế mười một tháng năm 2025, toàn tỉnh đã phát hiện 168 vụ vi phạm môi trường; đã xử lý 116 vụ với số tiền xử phạt 6.880 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm tăng 58 vụ, tương ứng tăng 52,73%; số vụ đã xử lý tăng 57 vụ, tương ứng tăng 96,61%; số tiền xử phạt tăng 2.057 triệu đồng, tương đương tăng 42,65%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,...
Từ ngày 15/10/2025 đến ngày 14/11/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Nam Đông Hưng xảy ra 01 vụ, xã Ân Thi xảy ra 01 vụ, phường Trà Lý xảy ra 01 vụ) và 01 vụ nổ (tại xã Lạc Đạo); không có người chết; có 01 người bị thương do nổ. Lũy kế mười một tháng năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 đến ngày 14/11/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 36 vụ cháy, nổ (trong đó: 33 vụ cháy và 03 vụ nổ); số người chết do cháy, nổ là 07 người; số người bị thương là 10 người. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ cháy, nổ tăng 01 vụ; số người chết tăng 07 người, số người bị thương tăng 05 người.
4. An toàn giao thông
Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/10/2025 đến 14/11/2025, toàn tỉnh xảy ra 51 vụ tai nạn giao thông (đều là tai nạn đường bộ), làm chết 36 người, làm bị thương 38 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 06 vụ, giảm 10,53%; số người chết tăng 02 người, tăng 5,88%; số người bị thương giảm 02 người, giảm 5,0%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 14 vụ, giảm 21,54%; số người chết giảm 02 người, giảm 5,26%; số người bị thương giảm 09 người, giảm 19,15%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/11/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 543 vụ tai nạn giao thông (trong đó: đường bộ 539 vụ, đường sắt 02 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ); làm chết 324 người (trong đó đường bộ 322 người, đường sắt 01 người, đường thủy nội địa 01 người); làm bị thương 355 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 290 vụ, giảm 34,81%; số người chết giảm 46 người, giảm 12,43%; số người bị thương giảm 276 người, giảm 43,74%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Tin khác