02213 863 641 /0978240366 | hungyen@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng sáu và sáu tháng đầu năm 2025

04/09/2025 08:04

Từ đầu năm 2025 đến nay, trên thế giới, áp lực lạm phát, nguy cơ suy thoái, cùng với những bất ổn tài chính và xung đột địa chính trị tại một số quốc gia tiếp tục nóng với những diễn biến phức tạp là các yếu tố rủi ro lớn đối với đà phục hồi chung của các quốc gia. Bên cạnh đó, các chính sách thuế quan mới của Mỹ đã tác động mạnh đến dòng chảy thương mại, đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu. Trong nước, nền kinh tế đối mặt với nhiều thách thức như giá nguyên nhiên vật liệu và chi phí vận tải tăng cao, nhất là vận tải biển; sức mua nội địa phục hồi chậm; thị trường xuất khẩu đối mặt với nhiều rào cản thương mại;... Đối với tỉnh Hưng Yên, trước tình hình đó, Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, có những chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước, đã giúp Hưng Yên đón nhận các dự án đầu tư lớn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tình hình kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2025 của tỉnh đạt được những kết quả khá toàn diện trên hầu hết các lĩnh vực.

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2025 ước tăng 8,20% so với cùng kỳ năm 2024 (cao hơn 0,74 điểm phần trăm so với 6 tháng năm 2024), trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,15% (đóng góp 0,22 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); công nghiệp và xây dựng tăng 9,14% (đóng góp 5,38 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); khu vực thương mại, dịch vụ tăng 7,87% (đóng góp 1,96 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 9,45% (đóng góp 0,66 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh).

So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 8/11 tỉnh, thành phố và đứng thứ 26/63 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng một số tỉnh trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Hà Nam tăng 11,09%; Hải Phòng tăng 11,04%; Hải Dương tăng 11,59%; Quảng Ninh tăng 11,03%; Nam Định tăng 11,84%; Thái Bình tăng 8,02%; Vĩnh Phúc tăng 10,07%; Bắc Ninh tăng 7,09%;... 

 Sản xuất nông nghiệp và thủy sản trên địa bàn tỉnh tương đối ổn định, không có dịch bệnh xảy ra đối với cây trồng và vật nuôi. Năng suất của hầu hết các loại cây trồng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, do diện tích gieo trồng cây hằng năm tiếp tục giảm nên sản lượng hầu hết các loại cây trồng đều giảm so với cùng kỳ năm trước. Vì vậy, đóng góp vào tăng trưởng khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản của tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 chủ yếu đến từ lĩnh vực chăn nuôi (ước chăn nuôi tăng trưởng 5,17%).


Sản xuất công nghiệp và xây dựng:

sản xuất công nghiệp 6 tháng đầu năm gặp nhiều khó khăn. Đặc biệt, ở quý II/2025, nguy cơ Mỹ áp thuế cao lên một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như dệt may, điện tử, linh kiện, đồ gỗ,... đã khiến cho tăng trưởng của khu vực công nghiệp chững lại. Một số ngành chủ lực của tỉnh trong những năm gần đây có mức tăng trưởng thấp, như: ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học chỉ tăng 2,05%; sản xuất xe có động cơ tăng 4,26%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế giảm 3,89%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,82%;... Tuy nhiên, một số ngành vẫn duy trì mức tăng trưởng khá, đóng góp lớn vào tăng trưởng khu vực công nghiệp như: sản xuất trang phục tăng 14,08%; sản xuất giày dép tăng 49,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 11,31%; sản xuất thuốc, hóa dược tăng 24,57%; sản xuất kim loại tăng 10,3%; sản xuất thiết bị điện tăng 17,05%; sản xuất máy móc, thiết bị tăng 15,20%;…

Hoạt động xây dựng duy trì mức tăng trưởng khá (tăng 12,12%). Đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng của khu vực xây dựng 6 tháng đầu năm 2025 phần lớn là từ hoạt động xây dựng công trình kỹ thuật dân dụng (ước tăng 74,66%, đóng góp tới 89% tăng trưởng ngành xây dựng). Tuy nhiên, hoạt động xây dựng nhà ở có mức tăng trưởng giảm - ước giảm 15,80% do dự án Dream City tại khu đô thị Vinhomes Văn Giang đã gần hoàn thiện và dự án Khu đô thị thương mại và du lịch Văn Giang (Ecopark) cũng đã cơ bản hoàn thành.

Khu vực dịch vụ

có tăng trưởng đạt 7,87%, cao hơn nhiều so với 6 tháng đầu năm 2024 (6 tháng đầu năm 2024, khu vực dịch vụ tăng 3,05%). Hầu hết các ngành dịch vụ đều duy trì mức tăng trưởng khá, như: thương nghiệp tăng 8,89%; vận tải, kho bãi tăng 8,25%; lưu trú và ăn uống tăng 15,35%; tài chính, ngân hàng tăng 7,81%; quản lý nhà nước tăng 14,49%; giáo dục và đào tạo tăng 12,0%; nghệ thuật, vui chơi, giải trí tăng 11,84%;…

2. Nông nghiệp và thủy sản

a) Trồng trọt

Cây hàng năm: Tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm vụ đông xuân toàn tỉnh đạt 36.546 ha, giảm 2,58% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa 23.778 ha, giảm 3,47%, tương đương giảm 855 ha. Một số địa phương có diện tích lúa giảm mạnh như huyện Ân Thi (giảm 298 ha); huyện Kim Động (giảm 220 ha); huyện Văn Lâm (giảm 81 ha);... Đây là những địa phương thời gian qua có các dự án khu, cụm công nghiệp triển khai và thu hồi đất như: Khu công nghiệp Thổ Hoàng, Khu công nghiệp số 6, KCN Tân Á Đại Thành, KCN Lý Thường Kiệt,... Diện tích gieo một số cây hàng năm khác như sau: ngô 2.232 ha, giảm 0,88%; cây lấy củ có chất bột 398 ha, giảm 7,30%; cây có hạt chứa dầu 725 ha, giảm 0,41%; cây rau, đậu, hoa các loại 8.362 ha, giảm 0,77%; cây hằng năm khác đạt 714 ha, giảm 31,56% so với cùng kỳ năm trước.

Vụ đông xuân năm nay, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi, tạo điều kiện tốt cho cây trồng sinh trưởng, ít sâu bệnh nên năng suất các loại cây trồng đạt khá. Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến thời điểm ngày 25/6/2025 toàn tỉnh đã thu hoạch được 95% diện tích lúa xuân. Ước tính năng suất một số cây hằng năm vụ đông xuân như sau: lúa 67,59 tạ/ha, tăng 0,07% so với cùng kỳ năm trước; ngô 60,55 tạ/ha, tăng 0,29%; đậu tương 19,16 tạ/ha, tăng 1,24%; rau các loại đạt 256,96 tạ/ha, giảm 0,33%;... Sản lượng lúa ước đạt 160.705 tấn, giảm 3,40% so với cùng kỳ năm trước; ngô đạt 13.517 tấn, giảm 0,60%; đậu tương đạt 605 tấn, giảm 9,84%; rau các loại đạt 191.114 tấn, giảm 1,08%;...

Hiện nay, các địa phương trong tỉnh đang đẩy nhanh tiến độ làm đất, gieo mạ chuẩn bị cấy lúa mùa. Tính đến ngày 25/6/2025, toàn tỉnh đã làm đất lần 1 đạt 15.210 ha; diện tích đã làm đất lần 2 đạt 4.950 ha; diện tích gieo mạ vụ mùa 945 ha, trong đó: mạ dày xúc 795 ha, mạ sân quy dược 150 ha.

Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm của Hưng Yên cơ bản ổn định. Tổng diện tích cây lâu hiện có khoảng 15.804 ha, trong đó chủ yếu là cây ăn quả (diện tích cây ăn quả đạt 14.718 ha, chiếm trên 93% tổng diện tích cây lâu năm, giảm 85 ha so với cùng kỳ năm trước). Ước tính diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như sau: cây chuối 2.612 ha, giảm 0,50% (giảm 13 ha); cam 1.675 ha, giảm 5,30% (giảm 94 ha); bưởi 2.133 ha, giảm 0,40% (giảm 9 ha); cây nhãn 4.902 ha, tương đương năm trước; cây vải 1.377 ha, tăng 1,64% (tăng 22 ha); cây ổi 849 ha, giảm 5,43% (giảm 49 ha);...

Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu như sau: chuối đạt

50.500 tấn, giảm 2,48% so với cùng kỳ năm trước; ổi đạt 11.300 tấn, giảm 0,87%; cam đạt 21.245 tấn, tăng 1,70%; táo đạt 4.530 tấn, tăng 4,86%;... Đối với cây nhãn, vải là cây lâu năm chủ lực cho giá trị kinh tế cao của tỉnh, năm nay thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ ra hoa, đậu quả đạt cao, hứa hẹn một mùa bội thu. Ước tính năng suất, sản lượng nhãn, vải năm nay tăng khá so với cùng kỳ năm trước.

b) Chăn nuôi

Chăn nuôi là ngành có đóng góp lớn nhất và chủ yếu vào tăng trưởng của khu vực nông nghiệp và thủy sản trong 6 tháng đầu năm (đặc biệt là ngành chăn nuôi lợn). Từ đầu năm đến nay, giá thịt lợn hơi luôn giữ ở mức cao, dao động từ 65.000 - 70.000 đồng/kg đã thúc đẩy các hộ chăn nuôi yên tâm sản xuất và tái đàn.

Số liệu đầu con ước tính tại thời điểm 30/6/2025 như sau: đàn trâu 4.621 con, tăng 4,67%; đàn bò 30.934 con, giảm 0,26%; đàn lợn 462.082 con, tăng 4,41%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 8.886 nghìn con, tăng 2,46%, trong đó, đàn gà ước đạt 6.225 nghìn con, tăng 1,32% so với cùng thời điểm năm trước. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong 6 tháng đầu năm 2025 như sau: thịt trâu 273 tấn, tăng 5,77% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò 2.204 tấn, tăng 5,71%; thịt lợn 58.041 tấn, tăng 6,86%; thịt gia cầm xuất chuồng (gà, vịt, ngan) đạt 23.837 tấn, tăng 5,88%;...

c) Sản xuất thuỷ sản

Tổng diện tích nuôi trồng 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.435 ha, giảm 1,78%, tương ứng giảm 80 ha so với cùng kỳ năm trước, cùng với khoảng 500 lồng nuôi cá các loại. Ước tính sản lượng thủy sản nuôi trồng 6 tháng đầu năm toàn tỉnh đạt 28.511 tấn, tăng 2,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 28.069 tấn, tăng 2,76%; tôm 162 tấn, tăng 5,19%; thủy sản khác 279 tấn, tăng 1,60%.

Hoạt động khai thác thủy sản 6 tháng đầu năm 2025 tiếp tục duy trì ở quy mô rất nhỏ (chủ yếu hộ gia đình), chỉ chiếm khoảng 0,93% tổng sản lượng thủy sản toàn tỉnh và có xu hướng giảm dần. Ước tính sản lượng thủy sản khai thác đạt 270 tấn, giảm 2,49 so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 210 tấn, giảm 2,74%; tôm 15 tấn, tương đương năm trước; thủy sản khác 45 tấn, giảm 2,14%.

Tình hình sản xuất giống thủy sản trên địa bàn tỉnh vẫn ổn định, sản lượng giống cung cấp chủ yếu là cá bột và cá trắm giống, chiếm tới 98%. Sản lượng cá giống đã đáp ứng cho nuôi trồng trên địa bàn tỉnh và cung cấp cho những tỉnh lân cận. Tổng sản lượng giống cung cấp toàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 4.777 triệu con, tăng 5,95% so với cùng kỳ năm 2024.

3. Sản xuất công nghiệp

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Sáu tăng 0,66%, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,0%; sản xuất và phân phối điện tăng 3,45%%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 6,99%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: thức ăn cho gia cầm tăng 2,19%; quần áo các loại tăng 3,14%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 1,12%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 10,47%; dược phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 3,34%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 8,75%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 6,28%; thiết bị dùng cho dàn giáo, ván khuôn, vật chống hoặc cột trụ chống hầm lò bằng sắt, thép, nhôm tăng 5,77%; mạch điện tử tích hợp tăng 7,0%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37,5W tăng 4,21%; máy làm đông lạnh kiểu tủ dung tích không quá 800 lít tăng 77,61%;… Một số sản phẩm có sản lượng sản phẩm sản xuất trong tháng 6 giảm so với tháng 5 như: thức ăn cho gia súc giảm 0,14%; sản phẩm bằng plastic các loại giảm 13,02%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 18,58%; máy phát điện xoay chiều giảm 3,86%; máy điều hòa không khí giảm 11,76%; máy giặt dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10kg vải khô một lần giặt giảm 31,87%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nộn, có tổng trọng tải tối đa >5 tấn và <20 tấn giảm 17,32%; phụ tùng khác của xe có động cơ  giảm 0,26%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc giảm 7,19%;…

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu tăng 12,75%, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 2,86%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 28,78%. Trong đó, một số sản phẩm có sản lượng sản phẩm sản xuất tăng cao so với tháng cùng kỳ năm trước như: quần áo các loại tăng 18,48%; thức ăn cho gia súc tăng 36,98%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 70,46%; dược phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 85,94%; sản phẩm plastic các loại tăng 8,13%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 33,51%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 12,49%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nộn có tổng tải trọng tối đa >5 tấn và <20 tấn tăng 20,69%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 20,07%;… Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp như: sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,85%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 8,37%; mạch điện tử tích hợp giảm 38,89%; mạch in khác giảm 1,0%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 28,73%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu giảm 6,25%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10 kg vải khô một lần giặt giảm 11,10%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50cc giảm 26,68%;…

Tính chung sáu tháng đầu năm 2025, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,14% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,23%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng tăng 8,71%; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, tái chế phế liệu tăng 36,93%. Một số ngành công nghiệp cấp 2 có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất trang phục tăng 20,28%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 64,28%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 24,93%; sản xuất kim loại tăng 8,38%; sản xuất thiết bị điện tăng 16,27%; sản xuất máy móc, thiết bị khác chưa được phân vào đâu tăng 20,14%; sản xuất xe có động cơ tăng 23,89%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 11,17%;…Tuy nhiên, một số ngành công nghiệp chủ lực của tỉnh trong những năm gần đây lại có xu hướng giảm hoặc tăng thấp như: sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 2,26%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn tăng 2,85%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 2,27%; sản xuất giường, tủ, bàn ghế tăng 5,40%;…

Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia súc tăng 12,46%; quần áo các loại tăng 12,80%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 65,36%; dược phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 39,53%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 18,01%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 8,29%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 36,95%; mạch in khác tăng 10,83%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu tăng 32,47%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10 kg vải khô một lần giặt tăng 22,06%; xe có động cơ dùng để vận tải hàng hóa có động cơ đốt trong kiểu piston đốt cháy bằng sức nộn có tổng tải trọng tối đa >5 tấn và <20 tấn tăng 37,45%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 16,60%;… Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: rượu Vodka và rượu Cô nhắc giảm 23,19%; cửa sổ, cửa ra vào bằng gỗ giảm 10,65%; sơn và véc ni tan trong môi trường nước giảm 16,44%; mạch điện tử tích hợp giảm 33,01%; động cơ đa năng một chiều/xoay chiều có công suất >37,5W giảm 7,07%; máy làm đông lạnh kiểu tủ, dung tích không quá 800 lít giảm 70,08%;...

4. Hoạt động đầu tư và phát triển doanh nghiệp

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội: Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 34.126 tỷ đồng, tăng 6,94% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nguồn vốn, khu vực vốn nhà ước đạt 9.348 tỷ đồng, tăng 26,35%; khu vực vốn ngoài nhà nước ước đạt 19.221 tỷ đồng, tăng 0,70%; khu vực vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 5.556 tỷ đồng, tăng 2,43% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo khoản mục đầu tư, tổng vốn đầu tư sử dụng cho xây dựng cơ bản 6 tháng đầu năm 2025 ước đạt 25.948 tỷ đồng, chiếm 76,04% trong tổng vốn và tăng 9,52% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 5.851 tỷ đồng (chiếm 17,15%), tăng 1,54%; vốn đầu tư sửa chữa lớn và nâng cấp sản cố định đạt 1.201 tỷ đồng (chiếm 3,52%), giảm 47,01%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động đạt 1.115 tỷ đồng (chiếm 3,27%), tăng 660,06%; vốn đầu tư khác 10 tỷ đồng, giảm 77,16%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý: 6 tháng đầu năm ước đạt 9.235 tỷ đồng, tăng 46,28% so với cùng kỳ năm trước, chỉ đạt 32,07% kế hoạch. Phân theo cấp quản lý, vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý cấp tỉnh ước đạt 5.269 tỷ đồng, tăng 64,20% so với cùng kỳ năm trước và đạt 28,89% kế hoạch; cấp huyện 2.490 tỷ đồng, tăng 73,97% và đạt 37,04% kế hoạch; cấp xã 1.475 tỷ đồng, giảm 11,81% và đạt 38,44% kế hoạch.

 Hoạt động đầu tư nước ngoài, tính đến 30/6/2025, toàn tỉnh có 650 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 9.410,3 triệu USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 38 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 754,2 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 180 dự án, vốn đăng ký là 3.967,1 triệu USD, chiếm 42,16% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 189 dự án, vốn đăng ký 1.542,3 triệu USD, chiếm 16,39% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 166 dự án, vốn đăng ký 1.467,3 triệu USD, chiếm 15,59% tổng số vốn đăng ký.

Về phát triển doanh nghiệp: Tính từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/6/2025, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới 1.520 doanh nghiệp, với vốn đầu tư đăng ký 23.804 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực: nông, lâm nghiệp và thủy sản 06 doanh nghiệp, vốn đăng ký 50 tỷ đồng; công nghiệp chế biến, chế tạo 346 doanh nghiệp, vốn đăng ký 5.002 tỷ đồng; bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy 604 doanh nghiệp, vốn đăng ký 2.283 tỷ đồng; xây dựng 88 doanh nghiệp, vốn đăng ký 1.236 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 86 doanh nghiệp, vốn đăng ký 12.663 tỷ đồng; giáo dục và đào tạo 105 doanh nghiệp, vốn đăng ký 128 tỷ đồng; hoạt động vận tải, kho bãi 84 doanh nghiệp, vốn đăng ký 646 tỷ đồng;...

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong 6 tháng đầu năm (tính từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/6/2025) là 199 doanh nghiệp. Trong đó, ngành sản xuất kinh doanh quay lại hoạt động nhiều nhất là bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 69 doanh nghiệp, tiếp đó là các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 44 doanh nghiệp; vận tải, kho bãi 20 doanh nghiệp; xây dựng 13 doanh nghiệp; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp; hoạt động kinh doanh bất động sản 11 doanh nghiệp;…

Số doanh nghiệp giải thể trong 6 tháng đầu năm (tính từ ngày 22/12/2024 đến ngày 21/6/2025) là 120 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 664 doanh nghiệp. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy  có 41 doanh nghiệp giải thể và 251 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 29 doanh nghiệp giải thể và 153 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; xây dựng có 07 doanh nghiệp giải thể và 56 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ có 06 doanh nghiệp giải thể và 41 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; kinh doanh bất động sản có 06 doanh nghiệp giải thể và 24 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh;...

5. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu ước tính đạt 9.482 tỷ đồng, tăng 9,01% so với tháng trước và giảm 1,15% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2025, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 55.832 tỷ đồng, tăng 6,36% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau:

Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Sáu ước đạt 3.165 tỷ đồng, chiếm 33,38% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,60% so với tháng trước và tăng 16,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 22,22%; hàng may mặc tăng 27,24%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 18,13%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 13,55%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 15,43%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 37,10%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 24,43%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 50,36%;… Duy nhất chỉ có nhóm xăng, dầu các loại có doanh thu giảm 2,83% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 18.414 tỷ đồng, tăng 12,69% so với cùng kỳ năm trước. Có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 16,26%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 17,70%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 15,90%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 28,57%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 33,34%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 23,79%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 20,73%;... Chỉ có nhóm xăng, dầu các loại có doanh thu giảm 8,28% so với cùng kỳ năm trước.

Dịch vụ lưu trú và ăn uống: doanh thu tháng Sáu ước đạt 300 tỷ đồng, tăng 5,54% so với tháng trước và tăng 21,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú giảm 2,19% so với tháng trước và tăng 0,58% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống tăng 5,93% so với tháng trước và tăng 22,78% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 1.753 tỷ đồng, tăng 20,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 72 tỷ đồng, tăng 15,52%; dịch vụ ăn uống 1.680 tỷ đồng, tăng 21,10% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Sáu ước đạt 10,5 tỷ đồng, tăng 12,11% so với tháng trước và tăng 36,84% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 37,3 tỷ đồng, tăng 7,19% so với cùng kỳ năm trước. Các chi phí về đi lại (vé máy bay, thuê xe ô tô..), ngủ nghỉ tại các điểm du lịch đều tăng mạnh do ảnh hưởng bởi lạm phát là nguyên nhân chính dẫn tới doanh thu dịch vụ du lịch tăng so với cùng kỳ.

Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Sáu ước đạt 6.006 tỷ đồng, tăng 13,55% so với tháng trước và giảm 9,32% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu dịch vụ khác ước đạt  35.628 tỷ đồng, tăng 2,78% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân doanh thu dịch vụ khác 6 tháng đầu năm tăng thấp chủ yếu là do ngành kinh doanh bất động sản chiếm trên 90% doanh thu dịch vụ khác ghi nhận doanh thu giảm mạnh ở quý II so với cùng kỳ (quý II giảm 16,57%; 6 tháng tăng 2,09%). Tuy nhiên, một số ngành dịch vụ khác vẫn duy trì mức tăng doanh thu 6 tháng đầu năm đạt khá so với cùng kỳ năm trước như: dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 7,86%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 9,95%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 68,64%; dịch vụ khác tăng 12,88%.

6. Chỉ số giá tiêu dùng, vàng, đô la Mỹ

a) Chỉ số giá tiêu dùng

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu tăng 0,51%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, 07 nhóm có chỉ số giá tăng là: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,10%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,0%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giao thông tăng 2,94%; bưu chính viễn thông tăng 0,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,02%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,26%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,05%. Nhóm hàng đồ uống, thuốc lá và nhóm dịch vụ giáo dục có chỉ số giá ổn định so với tháng trước.

So với tháng 12 năm 2024, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 1,91%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 09 nhóm có chỉ số tăng, 02 nhóm có chỉ số giảm. Các nhóm có chỉ số giá tăng là: đồ uống và thuốc lá tăng 1,22%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,35%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 2,42%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,23%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,60%; giao thông tăng 0,77%; bưu chính viễn thông tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,91%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,79%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,02%; giáo dục giảm 0,09%.

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 3,35%. Trong đó, 9/11 nhóm hàng tiêu dùng chính có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,55% (lương thực giảm 1,02%; thực phẩm tăng 0,44%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,01%); đồ uống và thuốc lá tăng 1,67%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,88%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,76%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,13%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,75%; bưu chính viễn thông tăng 0,28%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,56%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 8,35%. Các nhóm có chỉ số giá giảm là: giao thông giảm 1,05%; giáo dục giảm 1,74%.

Bình quân chung 6 tháng đầu năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, 09 nhóm có chỉ số giá tăng và 02 nhóm có chỉ số giá giảm. Cụ thể, hàng ăn uống và dịch vụ ăn uống tăng 2,81%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,61%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,94%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,14%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 12,63%; bưu chính viễn thông tăng 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,48%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 7,58%; giao thông giảm 4,29%; dịch vụ giáo dục giảm 1,60%.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ               

Dù thị trường vàng thế giới liên tục ghi nhận những dao động mạnh bởi ảnh hưởng từ các yếu tố địa chính trị và kinh tế quốc tế như căng thẳng Trung Đông, chính sách tiền tệ của Fed, biến động đồng USD hay xu hướng lợi suất trái phiếu Mỹ, giá vàng trong nước vẫn duy trì xu hướng đi ngang trong những ngày gần đây. Trên địa bàn tỉnh, giá vàng bình quân bình quân tháng 6/2025 xấp xỉ 11.482.000 VNĐ/1 chỉ.

Tỷ giá USD trong nước có xu hướng tăng, phản ánh sự thận trọng của thị trường trong bối cảnh chưa có thông tin chính thức liên quan đến kết quả đàm phán thuế quan giữa Việt Nam và Mỹ. Bên cạnh đó, việc hoãn áp dụng mức thuế đối ứng với thời hạn 90 ngày của Tổng thống Donald Trump sẽ kết thúc vào đầu tháng 7 tới đang khiến giới đầu tư có xu hướng dịch chuyển sang các tài sản phòng thủ như đồng USD. Trong tháng 6, giá đồng USD trên địa bàn tỉnh tăng nhẹ so với tháng trước, giá 1 USD xấp xỉ 26.204 VNĐ.

7. Hoạt động vận tải

Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Sáu ước đạt 639 tỷ đồng, tăng 3,88% so với tháng trước và tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 3.681 tỷ đồng, tăng 11,60% so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách: vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 1.390 nghìn lượt người vận chuyển và 80.752 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 2,49% về lượt người vận chuyển và giảm 6,54% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 77 tỷ đồng, giảm 5,35%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, vận tải hành khách ước đạt 8.322 nghìn lượt người vận chuyển và 514.952 nghìn lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 2,31% về lượt người vận chuyển và 0,42% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 478 tỷ đồng, tăng 0,47%.

Vận tải hàng hóa: vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 1.702 nghìn tấn vận chuyển và 225.689 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 25,21% về tấn hàng hóa vận chuyển và 16,66% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 454 tỷ đồng, tăng 15,60%. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, vận tải hàng hóa ước đạt 9.453 nghìn tấn vận chuyển và 1.284.648 nghìn tấn luân chuyển, lần lượt tăng 15,66% về tấn hàng hóa vận chuyển và 18,66% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 2.646 tỷ đồng, tăng 12,10%.

Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải: doanh thu tháng Sáu ước đạt 88 tỷ đồng, tăng 12,50% so với tháng trước và tăng 57,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 439 tỷ đồng, tăng 23,96% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Sáu ước đạt 20 tỷ đồng, giảm 5,63% so với tháng trước và tăng 13,27% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 119 tỷ đồng, tăng 9,38% so với cùng kỳ năm trước.

8. Hoạt động tài chính, ngân hàng

a) Thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước tháng Sáu của tỉnh Hưng Yên đạt cao, ước đạt 13.901 tỷ đồng, tăng 462,60% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa 13.440 tỷ đồng, tăng 541,34%, chủ yếu tăng từ các khoản thu về đất, nếu trừ các khoản thu về đất thì thu nội địa tháng 6 của Hưng Yên tăng 76,43%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 25 tỷ đồng, tăng 188,23%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 141 tỷ đồng, giảm 29,79%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 858 tỷ đồng, tăng 271,37%; thu thuế thu nhập cá nhân 228 tỷ đồng, tăng 78,91%; các khoản thu về đất 11.945 tỷ đồng, tăng 856,94%;...

Tính chung 6 tháng đầu năm 2025, thu ngân sách nhà nước ước đạt 45.692 tỷ đồng, tăng 107,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 43.096 tỷ đồng, tăng 116,58%, đạt 106,09% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 2.596 tỷ đồng, tăng 21,73%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 123 tỷ đồng, tăng 7,35%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2.052 tỷ đồng, tăng 11,35%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 11.377 tỷ đồng, tăng 56,84%; thu lệ phí trước bạ 532 tỷ đồng, tăng 60,35%; thuế thu nhập cá nhân 1.529 tỷ đồng, tăng 51,32%; các khoản thu về đất 27.028 tỷ đồng, tăng 216,59%.

b) Chi ngân sách nhà nước địa phương

Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Sáu ước đạt 8.220 tỷ đồng, tăng 365,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 5.746 tỷ đồng, tăng 440,12%; chi thường xuyên 2.474 tỷ đồng, tăng 252,13%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 210 tỷ đồng, tăng 149,53%; chi giáo dục, đào tạo 786 tỷ đồng, tăng 228,11%; chi sự nghiệp y tế 231 tỷ đồng, tăng 35,66%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 42 tỷ đồng, tăng 317,51%; chi đảm bảo xã hội 211 tỷ đồng, tăng 343,20%; chi quản lý hành chính 844 tỷ đồng, tăng 549,93%;...

Tính chung năm 6 đầu năm 2025, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 23.523 tỷ đồng, tăng 82,21% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 16.739 tỷ đồng, tăng 82,06%; chi thường xuyên 6.784 tỷ đồng, tăng 82,59%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 437 tỷ đồng, tăng 86,02%; chi giáo dục, đào tạo 2.395 tỷ đồng, tăng 73,15%; chi sự nghiệp y tế 696 tỷ đồng, tăng 38,65%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 126 tỷ đồng, tăng 97,25%; chi đảm bảo xã hội 605 tỷ đồng, tăng 84,45%; chi quản lý hành chính 2.016 tỷ đồng, tăng 121,54%.

c) Hoạt động ngân hàng

Ước tính tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 30/6/2025 đạt 153.412 tỷ đồng, tăng 5,20% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó: tiền gửi 152.694 tỷ đồng, tăng 5,21%; phát hành giấy tờ có giá 718 tỷ đồng, tăng 4,30% so với thời điểm 31/12/2024.

Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến 30/6/2025 đạt 125.112 tỷ đồng, tăng 9.199 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,94% so với thời điểm 31/12/2024. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 91.501 tỷ đồng, tăng 8,41%; dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt 33.611 tỷ đồng, tăng 6,67%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 121.841 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 97,39% tổng dư nợ và tăng 8,62%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 3.271 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 2,61% tổng dư nợ và giảm 12,55%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 83.538 tỷ đồng, tăng 3,71% so với thời điểm 31/12/2024, chia ra: nông nghiệp, nông thôn 52.895 tỷ đồng, tăng 5,50%; xuất khẩu 1.526 tỷ đồng, giảm 25,87%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 24.268 tỷ đồng, tăng 3,72%; công nghiệp hỗ trợ 4.738 tỷ đồng, giảm 4,45%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 110 tỷ đồng.

Về chất lượng tín dụng: ước tính đến 30/6/2025, nợ xấu trên toàn địa bàn là 1.195 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,96% tổng dư nợ, giảm 31 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2024.

II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư và đảm bảo an sinh xã hội

Sáu tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp theo các Nghị quyết, Kế hoạch, Chương trình hành động của Chính phủ, Quốc hội và tỉnh Hưng Yên, nhất là Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 08/01/2025 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2025. Tiếp tục sắp xếp, hoàn thiện bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả gắn với tinh giản biên chế, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đồng thời, tăng cường công tác giải quyết việc làm cho người lao động, tập trung rà soát, sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp theo hướng linh hoạt, hiện đại; gắn kết giáo dục nghề nghiệp với doanh nghiệp và thị trường lao động; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các chính sách an sinh xã hội.

Trong 6 tháng đầu năm 2025, trên địa toàn tỉnh đã tổ chức thăm, tặng quà 72.613 lượt người có công, gia đình liệt sĩ và 04 tập thể với tổng số tiền gần 43 tỷ đồng nhân dịp Tết Nguyên đán Ất Tỵ năm 2025. Thực hiện chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho 102.792 lượt người, với tổng kinh phí chi trả trên 327 tỷ đồng. Tính đến hết tháng 6/2025, chi trả trợ cấp ưu đãi hằng tháng cho khoảng 123.200 lượt người có công, với tổng kinh phí chi trả 392 tỷ đồng; tiếp nhận và giải quyết khoảng 2.800 lượt hồ sơ. Quyết định điều dưỡng đối với 7.432 người đến niên hạn điều dưỡng (trong đó: có 2.456 người điều dưỡng tập trung, 4.976 người điều dưỡng tại nhà), với tổng kinh phí trên 24,8 tỷ đồng. Ban hành quyết định cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng đối với 455 người, với tổng kinh phí trên 1 tỷ đồng. Ban hành Quyết định thu hồi số tiền hưởng sai thời điểm đối với 212 trường hợp; quyết định chấm dứt chế độ ưu đãi con đẻ của người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học (CĐHH) đối với 269 trường hợp; thu hồi chế độ đối với 40 trường hợp là con đẻ của người hoạt động kháng chiến (HĐKC) bị nhiễm CĐHH không bị dị dạng, dị tật; quyết định thu hồi chế độ đối với 09 trường hợp là người HĐKC bị nhiễm CĐHH và con đẻ của họ do thiếu giấy tờ chứng minh vùng miền. Tiếp tục thực hiện công tác quản lý, điều trị, chăm sóc dinh dưỡng, tập vật lý trị liệu bằng dụng cụ phục hồi chức năng...liệu pháp để nâng cao sức khỏe, phục hồi chức năng cho người có công đang nuôi dưỡng tại Trung tâm Điều dưỡng, Chăm sóc người có công. Triển khai công tác điều dưỡng tập trung đối với 333 người có công và thân nhân liệt sĩ theo kế hoạch.

2. Lao động việc làm

Sáu tháng đầu năm 2025, số lao động được giải quyết việc làm trong kỳ đạt 12.694 người (đạt 51,81% kế hoạch năm), tuy giảm 4% so với cùng kỳ năm 2024 nhưng vẫn là con số khả quan trong bối cảnh thị trường lao động có nhiều biến động do tác động của xu hướng tự động hóa và chuyển đổi số. Đặc biệt, lĩnh vực xuất khẩu lao động ghi nhận điểm sáng với 1.885 lao động được đưa đi làm việc ở nước ngoài (đạt 60,8% kế hoạch năm, tăng 3% so với cùng kỳ). Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã tổ chức thành công 05 phiên giao dịch việc làm; với 26 đơn vị, doanh nghiệp tham gia; số người được sơ tuyển/phỏng vấn tại phiên giao dịch việc làm: 388 người. Số người lao động được tư vấn về việc làm là 20.752 người. Tư vấn học nghề cho 3.781 người; cập nhật tình hình biến động lao động tại 148 doanh nghiệp; tiếp nhận 2.918 người nộp hồ sơ hưởng bảo hiểm thất nghiệp, trong đó đã ban hành quyết định hưởng cho 2.627 người; 100% lao động đến đăng ký thất nghiệp đều được tư vấn về việc làm, học nghề và được cung cấp thông tin về thị trường lao động.

Tỉnh đã tổ chức 01 lớp huấn luyện công tác an toàn lao động cho 130 người lao động làm các công việc độc hại nặng nhọc (nhóm 3) của 70 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Kiểm định lại và kiểm định chất lượng sản phẩm, dịch vụ việc làm năm 2024 và 4 tháng đầu năm 2025, với tổng số phiếu là 33.842 phiếu, trong đó kiểm định lại năm 2024 là 12.113 phiếu cho Trung tâm Dịch vụ việc làm tỉnh.

3. Hoạt động văn hóa, thể thao

a) Hoạt động văn hoá

Sáu tháng đầu năm 2025, các hoạt động văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của đất nước, của tỉnh diễn ra sôi nổi trong toàn tỉnh. Tổ chức 4 chương trình biểu diễn Ca - Múa - Nhạc; Liên hoan Nghệ thuật quần chúng tỉnh Hưng Yên năm 2025; tham gia Hội diễn toàn quốc “ Tiếng hát Làng Sen” kỷ niệm 135 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại tỉnh Nghệ An, giành 01 Huy chương Vàng, 02 Huy chương Bạc; tổ chức 4 buổi trình diễn Di sản Văn hóa phi vật thể (Hát Văn, Chầu văn, Xẩm).

Thư viện tỉnh tổ chức 3 cuộc trưng bày sách, báo, tài liệu phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chuyên môn; tuyên truyền giới thiệu 30 lượt sách, báo, tài liệu nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn của đất nước và địa phương trên Website Thư viện tỉnh; tổ chức Hội nghị nói chuyện chuyên đề với chủ đề: “Đọc sâu - Nhớ lâu”, thu hút trên 500 giáo viên và học sinh tham dự; phục vụ, hướng dẫn 500 giáo viên, học sinh trường THPT huyện Văn Giang và 350 em học sinh, giáo viên Trường Mầm non 19/5 TP. Hưng Yên đến tham quan, trải nghiệm tại Thư viện; phối hợp tổ chức Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4, gồm các hoạt động: Tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách cho học sinh Tiểu học và THCS trên địa tỉnh thu hút 120 em học sinh tham gia; tổ chức chương trình phát động, hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam; nói chuyện chuyên đề, giao lưu về sách và văn hóa đọc; trưng bày, giới thiệu sách, xếp mô hình sách nghệ thuật tại Thư viện tỉnh; tặng trên 500 cuốn sách cho 8 thư viện, tủ sách cơ sở thư viện trường học, bạn đọc tiêu biểu tại Thư viện tỉnh; tổ chức chương trình “Hè vui đọc sách” phục vụ thiếu nhi hè 2025.

Nhà hát Chèo tổ chức 40 buổi biểu diễn tuyên truyền phục vụ nhiệm vụ chính trị, kỷ niệm các ngày lễ lớn của tỉnh, của đất nước, nổi bật là: Chương trình nghệ thuật chào mừng 95 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng Xuân Ất Tỵ 2025 tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, TP Hưng Yên; chương trình nghệ thuật Khai mạc trưng bày tranh dân gian Việt Nam và Chợ Tết Việt; chương trình văn nghệ chào mừng khai mạc Hội báo xuân Ất Tỵ 2025 và trưng bày Chuyên đề “Báo chí cách mạng Việt Nam: Một thế kỷ xung trận - Tự hào báo chí Hưng Yên”; biểu diễn tại lễ phát động Tết trồng cây “Đời đời nhớ ơn Bác Hồ” Xuân Ất Tỵ 2025 tại Văn Lâm; chương trình nghệ thuật chào mừng kỷ niệm 50 năm ngày giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; biểu diễn chương trình nghệ thuật tại hội nghị tổng kết trao giải Cuộc thi sáng tác văn học nghệ thuật Hưng Yên; biểu diễn tuyên truyền kỷ niệm 135 Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dàn dựng vở mới “Bến sông trăng” để tham dự Liên hoan nghệ thuật sân khấu về hình tượng người chiến sĩ Công an Nhân dân; vở mới “Sắc đào đỏ thắm” để tham dự hội diễn chèo chuyên nghiệp toàn quốc năm 2025.

Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 360 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân (lưu động 70 buổi, tại rạp 290 buổi).


Mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm

tổ chức 2 cuộc trưng bày triển lãm ảnh về một số thành tựu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh.

b) Hoạt động thể dục thể thao

Thể thao quần chúng:

toàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”. Phong trào thể thao cho mọi người ngày càng phát triển mạnh mẽ, sâu rộng. Các hoạt động thể dục thể thao từ tỉnh đến cơ sở diễn ra sôi nổi, được đông đảo nhân dân tham gia, hưởng ứng, tạo được không khí vui tươi, đoàn kết. Hoạt động TDTT trong lực lượng vũ trang được duy trì thường xuyên, nhiều hoạt động thi đấu, giao lưu TDTT được tổ chức. Chương trình giáo dục thể chất trong trường học được duy trì ổn định; tổ chức các giải thể thao gắn liền với các nội dung trong chương trình Hội khỏe Phù Đổng các cấp. Tỉnh đã tổ chức các giải thể thao quần chúng cấp tỉnh, tạo ra sân chơi bổ ích cho cán bộ, công chức, viên chức, hội viên và học sinh; thường xuyên phối hợp với các Liên đoàn thể thao để phát triển phòng trào tập luyện thể dục thể thao; xây dựng và ban hành kế hoạch thi đấu các giải thể thao quần chúng năm 2025. Trong 6 tháng đầu năm 2025, toàn tỉnh đã tổ chức thành công 9 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh.

Thể thao thành tích cao: Tập trung huấn luyện 235 vận động viên ở 14 môn thể thao; chỉ đạo, triển khai kế hoạch huấn luyện năm 2025; đầu tư mua sắm, nâng cấp, sửa chữa trang thiết bị, dụng cụ,... bảo đảm cho công tác huấn luyện; thường xuyên đánh giá, thải loại và tuyển mới vận động viên các môn; chuẩn bị tốt lực lượng vận động viên sẵn sàng tham gia thi đấu quốc gia, khu vực, quốc tế; xây dựng kế hoạch lực lượng vận động viên chuẩn bị cho Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Trong 6 tháng đầu năm 2025, đoàn thể thao của tỉnh đã tổ chức tập huấn, tham gia thi đấu 9 giải quốc gia, gồm: Karate, Muay, Đua thuyền Rowing, Wushu, Cử tạ, Pencak Silat, Bóng chuyền nữ, Boxing, võ Cổ truyền, đạt 37 huy chương các loại, trong đó 5 HCV, 10 HCB, 22 HCĐ; có 3 VĐV được tập trung các tuyến đội tuyển trẻ và đội tuyển quốc gia.

4. Hoạt động y tế

Trong 6 tháng đầu năm 2025, ngành Y tế tăng cường công tác phòng chống bệnh không lây nhiễm và bệnh truyền nhiễm; đẩy mạnh công tác tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng về các biện pháp phòng, chống dịch bệnh. Tình hình cụ thể như sau:

Bệnh sởi: lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 26/6/2025, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 758 ca mắc/nghi mắc có địa chỉ tại Hưng Yên (trong đó có 412 trường hợp được phát hiện, chẩn đoán xác định dương tính tại các BV tuyến Trung ương). Tình hình bệnh sởi đang có xu hướng đi xuống. Nhìn chung, các ca mắc đơn lẻ, rải rác tại địa phương, trong đó nhiều nhất tại TP. Hưng Yên, hiện còn 01 ca đang điều trị tại BVĐK tỉnh, 01 ca tại BV Sản Nhi, 02 ca tại BVĐK Hưng Hà sức khỏe ổn định, không có ca nặng, tử vong.

Bệnh tay chân miệng: lũy kế từ đầu năm 2025 đến ngày 26/6/2025, toàn tỉnh ghi nhận tổng số 176 ca, tăng 70 ca so với cùng kỳ năm 2024. Hầu hết các ca bệnh được sàng lọc tại bệnh viện khi đến khám và điều trị, không ghi nhận ổ dịch lớn, không có trường hợp tử vong.

Bệnh Covid-19: lũy kế từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 207 ca, không có ca nặng, tử vong.

Tình hình một số bệnh truyền nhiễm khác đến ngày 26/6/2025:

+ Bệnh Ho gà: lũy kế từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 04 ca, chưa có ca tử vong.

+ Bệnh viêm não Nhật Bản: lũy kế từ đầu năm, trên địa bàn tỉnh ghi nhận 02 ca, không có ca tử vong.

+ Bệnh viêm màng não do vi rút: ghi nhận 01 ca mắc từ đầu năm 2025, không có ca tử vong.

+ Bệnh cúm mùa: toàn tỉnh chưa ghi nhận ca bệnh nhiễm cúm A H5N1 và H7N9, số ca mắc cúm mùa từ đầu năm 2025 là 3.407 ca theo hệ thống báo cáo bệnh truyền nhiễm.

5. Bảo vệ môi trường và phòng chống cháy, nổ

Từ ngày 26/5/2025 đến ngày 25/6/2025, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên phát hiện 16 vụ vi phạm môi trường, trong đó có 03 vụ vi phạm an toàn thực phẩm và 13 vụ vi phạm môi trường. Trong tháng, đã tiến hành khởi tố 02 vụ về vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm, các vụ khác đang củng cố hồ sơ. So với cùng kỳ tháng 6 năm 2024, số vụ vi phạm tăng 7 vụ, tương ứng tăng 77,78%. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2025 (tính từ ngày 26/12/2024 - 25/6/2025), toàn tỉnh đã phát hiện 71 vụ vi phạm môi trường, trong đó xử lý 31 vụ với số tiền xử phạt là 226 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 42 vụ, tăng 144,83%; số vụ đã xử lý tăng 12 vụ, tăng 63,16%; số tiền xử phạt giảm 39 triệu đồng, giảm 14,72%. Số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng cao so với cùng kỳ là do các cơ quan chức năng đang tổ chức thực hiện kiểm tra đợt 1 tại các cơ sở làng nghề. Việc kiểm tra toàn diện lần này được kỳ vọng sẽ tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc bảo vệ môi trường tại các làng nghề, góp phần xây dựng môi trường sống an toàn, bền vững. Nguyên nhân xử phạt chủ yếu về vi phạm quản lý chất thải nguy hại, xả thải vượt quá tiêu chuẩn, quy chuẩn ra môi trường; tiếp nhận chất thải rắn không đúng quy định; khai thác cát trái phép; không bảo đảm vệ sinh an toàn vệ sinh thực phẩm;...

Từ ngày 15/5/2025 đến ngày 14/6/2025, trên địa bàn tỉnh xảy ra 1 vụ cháy nhà đơn lẻ tại huyện Kim Động, làm 5 người bị thương, không có người chết. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2025 (tính từ ngày 15/12/2024 - 14/6/2025), toàn tỉnh đã xảy ra 13 vụ cháy, không có vụ nổ, làm bị thương 7 người, không có người chết. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ cháy giảm 10 vụ, giảm 43,48%; số người bị thương tăng 5 người, tăng 250,0%.

6. An toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/5/2025 đến 14/6/2025, toàn tỉnh xảy ra 23 vụ tai nạn giao thông, đều là tai nạn đường bộ, làm chết 14 người, làm bị thương 16 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn và số người bị thương ổn định so với tháng trước; số người chết tăng 3 người, tăng 27,27%. So với cùng kỳ năm 2024, số vụ tai nạn giảm 21 vụ, giảm 47,73%; số người chết tăng 1 người, tăng 7,69%; số người bị thương giảm 22 người, giảm 57,89%. Lũy kế từ ngày 15/12/2024 đến hết ngày 14/6/2025, toàn tỉnh đã xảy ra 141 vụ tai nạn giao thông, làm chết 77 người, làm bị thương 101 người. So với cùng kỳ năm trước, số vụ tai nạn giảm 190 vụ, giảm 57,40%; số người chết giảm 24 người, giảm 23,76%; số người bị thương giảm 214 người, giảm 67,94%./.