Tình hình kinh tế - xã hội tháng Chín và chín tháng năm 2026
Chín tháng năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài, tác động mạnh đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa cơ bản, dịch vụ vận tải và thương mại toàn cầu. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo; tuy nhiên, áp lực điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng, kiểm soát lạm phát còn rất lớn,... Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo của Trung ương; nắm chắc tình hình, chủ động có giải pháp ứng phó, thích ứng linh hoạt, kịp thời, chắc chắn trước các vấn đề phát sinh; đổi mới, sáng tạo, đột phá, quyết liệt chỉ đạo, điều hành trên các lĩnh vực; quyết liệt chỉ đạo công tác thu ngân sách, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư; tổ chức làm việc với các sở, ngành, xã, phường trong tỉnh, rà soát các “điểm nghẽn”, “rào cản” trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương để có giải pháp tháo gỡ kịp thời... Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sát, kịp thời, có trọng tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; sự chủ động, tích cực của các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh; sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong chín tháng năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực.
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Tăng trưởng kinh tế
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) quý III năm 2026 ước tính tăng 12,01% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế chín tháng năm 2026, GRDP ước tính tăng 11,22%, trong đó: khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,47%, đóng góp 0,35 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh; công nghiệp
và xây dựng tăng 14,84% (trong đó: công nghiệp tăng 14,84%, xây dựng tăng 14,82%), đóng góp 8,02 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh; thương mại, dịch vụ tăng 9,14%, đóng góp 2,37 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,19%, đóng góp 0,49 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh.
Chín tháng năm 2026, so với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 5/6 tỉnh, thành phố và xếp thứ 7/34 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng của các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Ninh Bình tăng 11,31%; Hải Phòng tăng 12,08%; Quảng Ninh tăng 12,54%; Bắc Ninh tăng 11,81%; Hà Nội tăng 8,85%.
2. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
Chín tháng năm 2026, nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp của các địa phương là tổ chức gieo trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng vụ đông xuân, vụ mùa; đồng thời tập trung chăm sóc, bảo vệ đàn gia súc, gia cầm và phát triển nuôi trồng thủy sản. Các mô hình sản xuất theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và bảo vệ môi trường tiếp tục được quan tâm phát triển. Kết quả cụ thể như sau:
a) Nông nghiệp
Trồng trọt
Cây hằng năm
Vụ mùa năm 2026, toàn tỉnh hoàn thành gieo cấy 96.000 ha lúa mùa, trong đó, diện tích lúa mùa trà sớm chiếm 10-15% diện tích. Tỷ lệ gieo cấy lúa chất lượng cao chiếm trên 50% diện tích gieo cấy, bằng các giống lúa như: Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1,... còn lại là các giống lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như: Thiên Ưu 8, TBR225, TBR87... Diện tích gieo sạ là 24.500 ha (đạt 25,5%), diện tích cấy máy khoảng 35.000 ha (đạt 36,5% diện tích gieo cấy). Bên cạnh thuận lợi về thời tiết, định hướng về cơ cấu giống lúa, thời vụ gieo trồng được thống nhất và triển khai phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho nông dân thực hiện đúng lịch thời vụ. Đến thời điểm này, diện tích lúa mùa trong tỉnh đang trong thời kỳ trỗ bông với diện tích khoảng 68.000 ha lúa đã trỗ, một số trà lúa gieo cấy sớm bắt đầu cho thu hoạch với diện tích đã thu hoạch khoảng 200 ha. Từ nay đến cuối vụ, ngành chuyên môn và các địa phương tiếp tục tập trung chỉ đạo, hướng dẫn nông dân chăm sóc, theo dõi chặt chẽ tình hình sâu bệnh, tổ chức thu hoạch nhanh gọn theo phương châm “sáng lúa, chiều vụ đông”, “xanh nhà hơn già đồng”, hạn chế thấp nhất thiệt hại do thời tiết và sâu bệnh gây ra. Đồng thời, chủ động triển khai các phương án phòng, chống mưa lớn, ngập úng, tiêu thoát nước kịp thời, bảo vệ an toàn diện tích lúa mùa. Hiện nay, các địa phương đang tập trung làm đất, chuẩn bị giống và triển khai gieo trồng cây vụ đông.
Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu năm 2026
(Năm nông vụ: từ 01/10/2025 đến 20/9/2026)
ĐVT: ha
Thực hiện cùng kỳ năm 2025
Thực hiện kỳ này
Thực hiện kỳ này so với cùng kỳ năm trước
(%)
- Lúa đông xuân
96.813
95.088
98,22
- Lúa mùa
96.200
96.000
99,79
- Ngô
12.328
12.285
99,65
- Khoai lang
3.048
3.030
99,41
- Đậu tương
1.488
1.503
101,01
- Lạc
3.400
3.200
94,12
- Rau các loại
51.568
51.605
100,07
- Đậu các loại
2.828
2.742
96,96
Công tác điều tra, dự tính, dự báo và phòng trừ sâu bệnh được triển khai chủ động, thường xuyên. Trong kỳ, sâu cuốn lá nhỏ lứa 5 gây hại khoảng 25.000 ha, lứa 6 khoảng 73.963 ha, với diện tích phòng trừ 72.293 ha; sâu đục thân hai chấm gây hại qua các đợt 10.290 ha, 23.881 ha và 35.000 ha. Rầy gây hại 11.455 ha; bệnh khô vằn 14.258 ha; bệnh bạc lá, đốm sọc vi khuẩn 4.787 ha và chuột gây hại
khoảng 5.493,5 ha. Nhìn chung, công tác theo dõi và phòng trừ được thực hiện kịp thời, góp phần hạn chế ảnh hưởng của sâu bệnh đến sinh trưởng và năng suất cây trồng.
Cây lâu năm
Chín tháng qua, tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn ổn định và phát triển. Thời tiết những tháng đầu năm cơ bản thuận lợi cho cây ăn quả sinh trưởng và phát triển. Ước tính tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm chín tháng năm 2026 đạt 23.773 ha, tăng 0,36% (tăng 86 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: cây ăn quả 20.360 ha, tăng 0,03% (tăng 6,21 ha) và chiếm tới 85,64% trong tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh; cây lấy quả chứa dầu đạt 87 ha, tăng 0,37% (tăng 0,32 ha); cây chè đạt 173 ha, bằng cùng kỳ năm trước; cây gia vị và dược liệu lâu năm ước đạt 1.102 ha, giảm 0,01% (giảm 0,12 ha); cây lâu năm khác ước đạt
2.033 ha, tăng 4,08% (tăng 79 ha). Diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như: cây chuối 4.742 ha, giảm 1,02% (giảm 48 ha); cây ổi 1.105 ha, tăng 0,90% (tăng 9 ha); cây cam 1.831 ha, giảm 0,73% (giảm 14 ha); cây bưởi 2.490 ha, tăng 0,80% (tăng 33 ha), cây nhãn 5.689 ha, tăng 0,08% (tăng 4 ha); cây vải 1.802 ha,
tăng 1,75% (tăng 31 ha).
Diện tích cây lâu năm trên địa bàn tỉnh có sự biến động so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu do quá trình chuyển đổi mục đích sử dụng đất và chuyển dịch cơ cấu cây trồng. Một số diện tích cây lâu năm được thu hồi để thực hiện các dự án phát triển đô thị, du lịch; đồng thời một số diện tích đất trồng cây lâu năm có chất lượng đất giảm, cây trồng già cỗi, sinh trưởng kém, năng suất và hiệu quả kinh tế thấp được người dân cải tạo, chặt bỏ để chuyển sang trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao hơn, phù hợp với điều kiện đất đai và nhu cầu thị trường.
Đối với cây nhãn, là một trong những cây lâu năm chủ lực của tỉnh, năm 2026 điều kiện thời tiết không thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa, tỷ lệ ra hoa và đậu quả thấp, dẫn đến sản lượng nhãn giảm so với năm trước. Đến nay, nhãn đã cơ bản thu hoạch xong. Đối với các cây có múi như cam, bưởi đang trong giai đoạn phát triển quả non, hình thành múi, các nhà vườn tập trung chăm sóc, bổ sung dinh dưỡng, chủ động phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại chính, đồng thời thực hiện cắt tỉa, phục hồi các diện tích bị ảnh hưởng bởi mất mùa, nhằm bảo đảm sinh trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và ổn định sản xuất cho vụ sau.
Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu chín tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh như sau: chuối 102.300 tấn, tăng 5,07% (tăng 4.940 tấn); ổi 15.900 tấn, tăng 4,48% (tăng 682 tấn); đu đủ 3.890 tấn, tăng 3,90% (tăng 146 tấn); cam
23.610 tấn, tăng 0,36% (tăng 85 tấn); táo 4.600 tấn, tăng 1,55% (tăng 70 tấn); vải
18.453 tấn, giảm 23,04% (giảm 5.525 tấn); nhãn 41.500 tấn, giảm 24,34% (giảm
13.353 tấn).
Hoạt động trồng trọt trong chín tháng năm 2026 bị ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4, từ đêm ngày 21/8/2026 đến ngày 24/8/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên có mưa vừa, có nơi mưa to đến rất to, thời gian mưa kéo dài gây đổ ngã, ngập, úng một số diện tích lúa, rau màu, cây ăn quả. Theo báo cáo nhanh từ các xã, phường, toàn tỉnh có khoảng 2.360 ha lúa mùa; 1.154 ha diện tích cây rau màu, hoa cây cảnh; 271 ha diện tích cây ăn quả bị ngập úng cục bộ. Để hạn chế thấp nhất thiệt hại do mưa bão gây ra, ngành chuyên môn và các địa phương đã khẩn trương triển khai các biện pháp tiêu úng, huy động tối đa máy bơm và các phương tiện để tiêu thoát nước nhanh, kết hợp tiêu nước khi triều xuống; thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn người dân khắc phục diện tích bị ảnh hưởng. Sau khi nước rút, tập trung vệ sinh đồng ruộng, thu dọn cây trồng bị đổ ngã, thối hỏng; khôi phục sản xuất, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh kịp thời, góp phần hạn chế thiệt hại và bảo đảm sản xuất trồng trọt những tháng cuối năm.
b) Chăn nuôi
Chín tháng năm 2026, hoạt động sản xuất chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục được duy trì theo hướng tăng cường áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả; các cơ sở, hộ chăn nuôi chủ động điều chỉnh quy mô đàn phù hợp với điều kiện sản xuất và nhu cầu thị trường.Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm phát hiện, kiểm soát kịp thời, không để lây lan diện rộng. Đối với bệnh dịch tả lợn châu Phi, phát hiện tại 02 hộ chăn nuôi thuộc xã Bắc Thái Ninh; đã tiêu hủy 49 con lợn, gồm 06 con lợn nái và 43 con lợn thịt, tổng khối lượng 2.707 kg. Đến ngày 21/8/2026, đã qua 21 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới; Đối với bệnh Cúm gia cầm H5N1, phát hiện tại 02 hộ thuộc xã Nam Thái Ninh; đã tiêu hủy 4.360 con gia cầm, tổng khối lượng 8.552 kg. Đến ngày 23/8/2026, đã qua 21 ngày không phát sinh thêm ổ dịch mới.
Công tác phòng, chống dịch bệnh được các ngành chuyên môn và địa phương triển khai chủ động, thường xuyên. Trong chín tháng năm 2026, tỉnh đã cấp phát vắc xin phục vụ tiêm phòng vụ thu - đông gồm: 379.170 liều dịch tả lợn; 67.650 liều tai xanh ở lợn; 296.800 liều lở mồm long móng; 33.650 liều tụ huyết trùng trâu, bò; 10.550 liều viêm da nổi cục; 3.353.800 liều cúm gia cầm và 25.390 liều dại ở đàn chó; cấp phát 37 tấn hóa chất Forbencid phục vụ vệ sinh, tiêu độc, khử trùng.
Ước tính tại thời điểm 30/9/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.030 con, giảm 7,35%; đàn bò 74.541 con, giảm 9,96%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.058.226 con, giảm 0,2%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 23.347 nghìn con, giảm 0,9%, trong đó: đàn gà đạt 17.190 nghìn con, giảm 0,16% so với cùng thời điểm năm trước.
Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng của tỉnh trong chín tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như sau: thịt trâu 1.076 tấn, tăng 3,76%; thịt bò 11.025 tấn, tăng 3,60%; thịt lợn 229.848 tấn, tăng 5,85%; thịt gia cầm 90.025 tấn, tăng 6,33% (trong đó thịt gà 68.430 tấn, tăng 4,70%). Sản lượng sản phẩm chăn nuôi khác trong chín tháng năm 2026: trứng gia cầm 684.378 nghìn quả, giảm 2,90%; sữa 7.421 tấn, giảm 0,51% so với cùng kỳ năm trước.
c) Lâm nghiệp
Trong chín tháng năm 2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được các địa phương, đơn vị chức năng triển khai hiệu quả; không xảy ra cháy rừng, phá rừng. Sản lượng gỗ khai thác ước trong tháng Chín năm 2026 đạt 431 m³, giảm 0,92%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 142 nghìn cây, tăng 2,16% so với cùng kỳ năm trước. Chín tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 4,48 ha, giảm 70,13%, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.069 m³, tăng 0,16%; sản lượng củi ước đạt 10.479 Ste giảm 0,03 % so với cùng kỳ năm trước.
d) Sản xuất thủy sản
Từ đầu năm đến nay, tình hình sản xuất thủy sản trên địa bản tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Tổng sản lượng thủy sản chín tháng năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 266.787 tấn, tăng 3,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 130.952 tấn, tăng 2,68%; tôm 5.666 tấn, tăng 4,25%; thủy sản khác 130.170 tấn, tăng 4,17% so với cùng kỳ năm trước
Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Chín ước đạt 8.432 tấn, tăng 5,45% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá
6.062 tấn, tăng 5,53%; tôm 246 tấn, tăng 5,23%; thủy sản khác 2.124 tấn, tăng 5,24%. Tính chung chín tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 83.376 tấn, tăng 1,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá
54.022 tấn, tăng 0,62%; tôm 1.680 tấn, tăng 3,54%; thủy sản khác 27.674 tấn,
tăng 3,70%.
Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Thời tiết trong tháng cơ bản thuận lợi, môi trường nước tương đối ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng, phát triển tốt. Các mô hình nuôi tiếp tục được đa dạng hóa về đối tượng (cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, hàu...) và hình thức sản xuất (nuôi ao, nuôi lồng, nuôi bè), nâng cao hiệu quả khai thác diện tích mặt nước. Toàn tỉnh có 996 lồng nuôi cá trên sông; các đối tượng nuôi trong lồng bao gồm: Cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, chép giòn, ngạnh, trắm đen. Phát triển nuôi hàu cửa sông đạt 4.470 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú, Đông Thụy Anh.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Chín ước đạt 23.367 tấn, tăng 4,95% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.966 tấn, tăng 4,83%; tôm 880 tấn, tăng 5,12%; thủy sản khác 13.521 tấn, tăng 5,01%. Chín tháng năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 183.412 tấn, tăng 4,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 76.930 tấn, tăng 4,17%; tôm 3.986 tấn, tăng 4,56%; thủy sản khác 102.496 tấn, tăng 4,30%.
3. Sản xuất công nghiệp
a) Chỉ số sản xuất công nghiệp
Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng 9 và 9 tháng năm 2026 như sau:
So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Chín tăng 0,54%, trong đó: khai khoáng giảm 0,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,30%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,78%%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 1,88%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: Nitơrat Amoni tăng hơn 3,5 lần; quần áo các loại tăng 23,83%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 13,75%; máy điều hòa không khí loại lắp vào cửa sổ hoặc lắp vào tường tăng 8,79%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 8,77%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác tăng 8,26%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 6,84%; vật liệu kim loại khác thứ cấp tăng 5,97%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 5,23%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 19,66%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 19,52%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu giảm 15,56%; vật liệu kim loại quí thứ cấp giảm 15,52%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 11,98%; điện sản xuất giảm 10,17%; sắt, thép các loại giảm 8,9%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 8,78%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Chín tăng 16,78%, trong đó: khai khoáng giảm 40,96%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,79%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,12%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 16,68%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng hơn 4 lần; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 3,97 lần; quần áo các loại tăng 96,87%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 96,08%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc tăng 54,39%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 30,27%; vật liệu kim loại khác thứ cấp tăng 25,43%; gỗ ốp, lát công nghiệp tăng 21,30%; điện sản xuất tăng 19,35%; thức ăn cho gia súc tăng 18,84%;... Bên cạnh đó, có một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so
với tháng trước như: sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 26,02%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 24,21%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 20,07%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 13,80%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 11,33%; ỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 11,19%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 10,84%; vật liệu phi kim loại thứ cấp khác giảm 7,13%; nitơrat Amoni giảm 2,0%;...
Chỉ số sản xuất công nghiệp
tháng Chín, quý III và chín tháng năm 2026 (%)
T9.2026
QIII/2026
9T.2026
T9.2025
QIII/2025
9T.2025
Chung toàn ngành CN
116,78
116,63
115,70
Khai khoáng
59,04
76,83
93,77
Công nghiệp chế biến, chế tạo
116,79
116,92
116,34
SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng
117,12
112,57
108,95
Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải
116,68
118,61
116,08
Quý III năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 16,63% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: khai khoáng giảm 23,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,92%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,57%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 18,61%. Một số sản phẩm công nghiệp có khối lượng sản xuất tăng trong quý như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng 319,55%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 195,51%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 127,55%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 81,27%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 45,75%; mạch điện tử tích hợp tăng 40,03%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 29,33%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 26,67%; vật liệu kim loại khác thứ cấp tăng 25,24%; vật liệu kim loại quí thứ cấp tăng 22,05%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 20,51%;... Các sản phẩm công nghiệp sản xuất trong quý III giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 29,24%; Nitơrat Amoni giảm 26,98%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 16,25%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 13,48%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 10,42%; máy điều hòa không khí khác chưa được phân vào đâu giảm 6,82%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 5,14%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 3,23%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác giảm 3,10%;...
Tính chung chín tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,70% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 6,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,34%; sản xuất và phân phối điện tăng 8,95%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 16,08%. Một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 99,36%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 75,73%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 38,93%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 34,34%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 29,71%; sản xuất trang phục tăng 28,98%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 23,04%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 19,95%; sản xuất thiết bị điện tăng 15,98%; sản xuất kim loại tăng 13,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 10,90%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 10,30%;... Bên cạnh đó, các ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 21,07%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 13,87%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 2,05%; dệt tăng 2,10%;…
Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong chín tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng 233,66%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 195,51%; mạch điện tử tích hợp tăng 41,02%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 40,02%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc tăng 31,86%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 29,33%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 28,71%; quần áo các loại tăng 27,94%; vật liệu kim loại quí thứ cấp tăng 22,05%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 20,26%; Các sản
phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,61%; vật liệu phi kim loại thứ cấp khác giảm 16,10%; máy điều hòa không khí loại lắp vào cửa sổ hoặc lắp vào tường giảm 15,74%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác giảm 15,25%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,87%; Nitơrat Amoni giảm 7,72%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 2,39%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 1,77%;...
Chín tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản phẩm sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2025 như: Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 26,55%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 34,43%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 21,58%; Công ty TNHH May Minh Anh tăng 19,46%; Công ty Cổ phần May Việt Giang tăng 109,26%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 24,19%; Công ty TNHH May Hương Giang tăng 7,72%; Công ty TNHH YOUNGONE Việt Nam tăng 17,65%; CN Công ty May 10 tăng 15,8%; CN
Công ty TNHH Sơn Hà tăng 22,53%; Công ty TNHH TAV tăng 13,6%; Công ty TNHH MXP tăng 7,2%; Công ty TNHH PS Vina tăng 9,90%; Công ty TNHH IVORY Việt Nam tăng 19,57%; CN Công ty TNHH Tân Đệ tăng 145,63%; Công ty Cổ phần Sản xuất hàng thể thao CN Thái Bình tăng 1.258,9%; Công ty TNHH May TEXHONG Thái Bình tăng 12,75%; Công ty Cổ phần May Hà Thành tăng 80,88%; Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 175,32%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 7,7%; Công ty Cổ phần liên doanh Alpec tăng 15,77%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 90,24%; Công ty TNHH Cơ khí Tam Long tăng 75,0%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 72,24%; Công ty Cổ phần Công nghệ Tecomen tăng 2,36%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 1,52%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 20,26%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 12,65%; Công ty TNHH TAEYANG Việt Nam tăng 7,21%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam tăng 17,98%; Công ty Tôn Vikor tăng 83,0%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 67,98%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 22,38%; Công ty TNHH Quốc tế Công cụ Đỉnh Lực tăng 17,04%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 8,47%; Công ty TNHH Dây thép Hoà Phát tăng 37,43%; Công ty TNHH Thép không gỉ Hà Anh tăng 14,83%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 14,17%; Công ty TNHH Gia Anh tăng 63,29%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 6,51%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 14,13%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengli Việt Nam tăng 24,49%; Công ty TNHH Giấy và Bao bì Lâm Việt An tăng 114,37%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 20,19%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 18,34%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 5,84%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 42,43%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 9,89%; Công ty TNHH HSIN YUE HSING tăng 29,39%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 61,51%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 8,95%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 29,78%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 15,51%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 20,36%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 12,22%;...
Các doanh nghiệp có sản lượng sản phẩm sản xuất trong chín tháng năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 17,32%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 5,42%; Công ty TNHH TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 68,86%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,61%; Công ty TNHH GOEN Việt Nam giảm 16,67%...
b) Chỉ số sử dụng lao động
Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Chín toàn ngành tăng 2,61% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,46%, cộng dồn chín tháng tăng 3,82% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao
động tháng Chín tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện ổn định và có sự phát triển khá. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động trong chín tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 39,70%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 26,59%; sản xuất đồ uống tăng 19,24%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 18,22%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 15,22%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 15,15%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 14,56%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,49%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 13,43%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,33%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,80%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,69%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,35%; dệt giảm 3,46%; sản xuất thiết bị điện giảm 2,29%;...
c) Xu hướng sản xuất kinh doanh
Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) quý III/2026 thuận lợi hơn so với quý II/2026 với 35,57% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD tốt hơn, 46,94% ổn định và chỉ có có 17,49% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn. Dự báo tình hình SXKD quý IV/2026 thuận lợi hơn nhiều so với quý III/2026, với 45,48% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD sẽ tốt hơn, 45,77% đánh giá ổn định và chỉ có 8,75% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn. Như vậy, từ đầu năm đến nay theo nhận định của các doanh nghiệp tình hình sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó khăn so với quý I/2026, bước sang quý II đã có nhiều thuận lợi, bước sang quý III/2026 cơ bản ổn định và dự báo quý IV/2026 sẽ thuận lợi hơn.
Kết quả khảo sát cho thấy, quý III/2026 so với quý II/2026 về chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm, có tới 34,21% doanh nghiệp nhận định tăng, 61,70% giữ nguyên và chỉ có 4,09% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo quý IV/2026 so với quý III/2026, chỉ có 26,32% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản phẩm tăng, 68,13% giữ nguyên và chỉ có 5,56% doanh nghiệp dự báo chi phí sản xuất một đơn vị sản xuất giảm. Như vậy, theo nhận định của doanh nghiệp thì chi phí sản xuất trên một đơn vị sản phẩm thì quý III/2026 đến quý IV/2026 có mức giảm nhỏ và giữ ổn định, đó là điều kiện tốt cho doanh nghiệp sản xuất trong thời gian tiếp theo.
Số lượng đơn đặt hàng mới quý III/2026 tốt hơn so với quý II/2026. Theo kết quả khảo sát quý III/2026 cho thấy, chỉ có 36,92% doanh nghiệp nhận định số lượng đơn đặt hàng mới tăng, 46,77% giữ nguyên và chỉ có 16,31% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo số lượng đơn đặt hàng mới quý IV/2026 so với quý III/2026, với 44,27% doanh nghiệp dự báo tăng, 47,06% giữ nguyên và chỉ có 8,67% doanh nghiệp dự báo số lượng đơn đặt hàng mới giảm, với những nhận định trên sẽ là những thuận lợi cho SXKD trong quý III và quý IV/2026.
Lao động trong các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2026 so với quý II/2026 ở mức tăng trung bình, có tới 15,79% doanh nghiệp nhận định tăng, 69,88% doanh nghiệp nhận định giữ nguyên và chỉ có 14,33% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo tình hình sử dụng lao động trong quý IV/2026 cho thấy xu hướng tích cực hơn so với quý III/2026. Kết quả khảo sát cho thấy có 21,05% doanh nghiệp dự kiến tăng số lao động, trong khi 72,81% doanh nghiệp giữ ổn định quy mô lao động và chỉ có 6,14% doanh nghiệp dự giảm lao động. Điều này phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp vào triển vọng sản xuất kinh doanh trong thời gian tới, đồng thời cho thấy nhu cầu mở rộng sản xuất và bổ sung nhân lực cho doanh nghiệp. Tỷ lệ doanh nghiệp dự kiến tăng lao động cao hơn đáng kể so với tỷ lệ giảm lao động, cho thấy thị trường lao động tiếp tục duy trì xu hướng ổn định và có khả năng tăng trưởng.
Kết quả khảo sát quý III/2026 cho thấy, có tới 37,13% doanh nghiệp đánh giá khối lượng sản xuất tăng, 45,61% giữ nguyên và chỉ có 17,25% doanh nghiệp đánh giá giảm. Như vậy, tình hình SXKD quý III có khối lượng sản xuất tăng khá hơn quý II/2026. Dự báo khối lượng sản xuất quý IV/2026 so với quý III/2026 có phần tăng cao, với 45,32% doanh nghiệp dự báo tăng, 45,32% giữ nguyên và chỉ có 9,36% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm. Như vậy, dự báo khối lượng sản xuất quý IV/2026 ổn định và tăng khá so với quý III/2026.
Tỷ lệ doanh nghiệp cho biết giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý III/2026 so với quý II/2026 chỉ có 24,56% doanh nghiệp đánh giá tăng, có tới 69,59% giữ nguyên và chỉ có 5,85% doanh nghiệp nhận định giảm. Dự báo giá bán bình quân một đơn vị sản phẩm quý IV/2026 so với quý III/2026, có 23,98% doanh nghiệp dự báo tăng, 71,64% giữ nguyên và chỉ có 4,39% doanh nghiệp dự báo giảm. Như vậy, theo nhận định của các doanh nghiệp trong quý IV/2026 thì giá bán bình quân một sản phẩm cơ bản ổn định và có giảm chút ít so với quý III.
Kết quả khảo sát quý III/2026 cho thấy, chỉ có 15,79% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản phẩm tồn kho tăng, 53,80% giữ nguyên và có tới 30,41% doanh nghiệp đánh giá giảm. Như vậy, tình hình SXKD thuận lợi hơn, khối lượng sản phẩm tồn kho giảm hơn so với quý II/2026. Dự báo khối lượng tồn kho quý IV/2026 so với quý III/2026 tiếp tục xu hướng tích cực, chỉ có 15,79% doanh nghiệp dự báo tăng, 60,23% giữ nguyên và có 23,98% doanh nghiệp dự báo khối lượng sản xuất giảm.
Hoạt động SXKD của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo trong quý III/2026 được đánh giá bởi một số khó khăn chính so với quý II/2026 do nhiều yếu tố. Trong đó, một số yếu tố được đánh giá quan trọng và có mức độ giảm dần như, yếu tố “Tính cạnh tranh của hàng trong nước cao” ảnh hưởng lớn nhất đến hoạt động SXKD của doanh nghiệp với 57,02% doanh nghiệp lựa chọn, đây là yếu tố ảnh hưởng nhiều đến SXKD của doanh nghiệp trong thời gian gần đây. Bên cạnh đó, yếu tố “Nhu cầu thị trường trong nước thấp”, “Nhu cầu thị trường quốc tế thấp” và “Không tuyển dụng được lao động theo yêu cầu” là những yếu tố có sự ảnh hưởng nhiều tới hoạt động SXKD của doanh nghiệp trong quý III/2026 lần lượt là 46,78%, 38,3 và 37,43% doanh nghiệp lựa chọn.
4. Hoạt động xây dựng
Chín tháng năm 2026, hoạt động xây dựng trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động. Hàng loạt dự án trọng điểm về giao thông, khu công nghiệp, chỉnh trang đô thị, trung tâm thương mại, nhà ở xã hội được tập trung nguồn lực đẩy nhanh tiến độ đưa vào khai thác sử dụng. Một số công trình có tổng mức đầu tư lớn đang triển khai xây dựng và đưa vào hoạt động như: Đường Vành đai 4 - Vùng Thủ đô Hà Nội đoạn qua tỉnh Hưng Yên là 19,3km; Đường Tân Phúc - Võng Phan: Tuyến đường dài gần 30km đi qua 7 xã với tổng mức đầu tư gần 3.000 tỷ đồng đang được đôn đốc đẩy nhanh tiến độ thi công; Dự án tuyến đường kết nối Thái Bình - Phố Hiến, tuyến đường dài 24,8km, tổng vốn hơn 4.900 tỉ đồng đang được khẩn trương thi công, nhiều hạng mục đã dần hoàn thành; tuyến đường có điểm đầu tại nút giao giữa đường vào Khu công nghiệp TBS Sông Trà với quốc lộ 10 (thuộc phường Thái Bình, tỉnh Hưng Yên), điểm cuối tại đầu cầu vượt sông Luộc (thuộc xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên). Đáng chú ý, trên địa bàn tỉnh đồng loạt khởi công, khánh thành nhiều dự án khu, cụm công nghiệp tại các địa phương trong tỉnh, với tổng vốn đầu tư hàng chục nghìn tỷ đồng. Ghi dấu mốc ấn tượng đối với hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh khi 7 dự án khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) và giao thông lớn đồng loạt được bấm nút khởi công: dự án Khu công nghiệp Liên Hà Thái (Green iP-3); dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Thổ Hoàng; khu công nghiệp số 10 - Hưng Yên; dự án đầu tư khu công nghiệp số 15; CCN Đa Lộc; CCN Lạc Đạo; dự án xây dựng đường bên và các cầu vượt trên tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng.
Kết quả cụ thể ngành xây dựng quý III năm 2026 và 9 tháng năm 2026 (theo giá so sánh 2020) như sau: Giá trị sản xuất xây dựng quý III năm 2026 ước đạt 29.641 tỷ đồng, tăng 14,45% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng ước đạt 76.901 tỷ đồng, tăng 14,18% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, giá trị công trình nhà ở 38.409 tỷ đồng, tăng 22,90%; giá trị công trình nhà không để ở 12.383 tỷ đồng, tăng 16,02%; công trình kỹ thuật dân dụng 19.448 tỷ đồng, giảm 7,73%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 6.660 tỷ đồng, tăng 53,20%.
Theo giá hiện hành, giá trị sản xuất ngành xây dựng quý III năm 2026 ước đạt 41.090 tỷ đồng. Tính chung chín tháng năm 2026, giá trị sản xuất ngành xây dựng ước tính đạt 105.935 tỷ đồng. Trong đó, giá trị xây dựng loại hình ngoài nhà nước 71.321 tỷ đồng (chiếm 67,33% tổng giá trị); giá trị xây dựng loại hình khác
32.140 tỷ đồng (chiếm 30,34% tổng giá trị). Theo loại công trình, giá trị công trình nhà để ở 53.281 tỷ đồng (chiếm 50,30%); giá trị công trình nhà không để ở
17.103 tỷ đồng (chiếm 16,14%); giá trị công trình kỹ thuật dân dụng 27.020 tỷ đồng (chiếm 25,51%); giá trị hoạt động xây dựng chuyên dụng 8.531 tỷ đồng (chiếm 8,05%).
5. Thương mại, dịch vụ
a) Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng
Chín tháng năm 2026, hoạt động lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh tiếp tục diễn ra ổn định; việc cung ứng hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân thuận lợi; công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động kinh doanh xăng dầu được tăng cường. Triển khai kinh doanh xăng sinh học E10 tới các thương nhân kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh nhằm xanh hóa năng lượng, bảo vệ môi trường và giảm thiểu phụ thuộc vào biến động giá và nguồn cung dầu mỏ cạn kiệt trên toàn cầu và rà soát, tổng hợp tình hình triển khai lộ trình sử dụng xăng E10 theo Thông tư số 50/2025/TT-BC. Tham gia và tổ chức thành công: Khu gian hàng tỉnh Hưng Yên tại Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 - một sự kiện kinh tế, văn hóa lớn với quy mô Quốc gia được tổ chức tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc gia (VEC) Đông Anh, Hà Nội từ ngày 02/02 đến 13/02/2026. Khu gian hàng tỉnh Hưng Yên được Ban tổ chức tặng giấy chứng nhận “Không gian trưng bày đặc biệt” và đóng góp xuất sắc cho thành công chung của Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026; Khu gian hàng của tỉnh tại Hội chợ Thương mại Quốc tế Việt Nam lần thứ 35 - VIETNAM EXPO 2026 từ ngày 08 đến 11 tháng 4 năm 2026 tại Trung tâm Hội chợ Triển lãm Việt Nam (VEC), Đông Anh, Hà Nội, qua đó, đã góp phần giúp các doanh nghiệp tìm kiếm được các đối tác hợp tác sản xuất, kinh doanh, xúc tiến mở rộng thị trường xuất khẩu ra nước ngoài; Khu trưng bày, giới thiệu các sản phẩm đặc trưng của tỉnh Hưng Yên tại Hội nghị kết nối Hưng Yên - Nhật Bản ngày 03/6/2026 tại Trung tâm Hội nghị tỉnh; Tổ chức phiên chợ Nhãn lồng và nông sản, sản phẩm tiêu biểu tỉnh tỉnh Hưng Yên (Tổ chức bán hàng trực tiếp kết hợp livestream bán hàng trên các nền tảng của mạng xã hội) trong khuôn khổ Lễ hội nhãn lồng. Đoàn công tác của tỉnh tham gia Đoàn giao dịch thương mại và đầu tư tại Nhật Bản từ ngày 27/6 đến ngày 03/7/2026 tại Osaka và Tokyo (Nhật Bản) và tham gia Đoàn giao dịch thương mại và đầu tư tại Hàn Quốc từ ngày 12/7 đến ngày 17/7/2026 tại Seoul (Hàn Quốc).
Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội
quý III và chín tháng năm 2026
Quý III.2026
9T.2026
QIII.2026
QIII.2025
9T.2026
9T.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
(%)
Tổng số
75.013
223.151
118,62
117,50
Thương nghiệp
36.602
110.606
120,64
118,68
Lưu trú, ăn uống
3.803
11.341
123,85
117,10
Du lịch
41
93
112,55
112,76
Dịch vụ
34.567
101.110
116,04
116,29
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Chín ước đạt 26.087 tỷ đồng, tăng 4,48% so với tháng trước và tăng 17,20% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn chín tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 223.151 tỷ đồng, tăng 17,50% so cùng kỳ năm trước (quý I tăng 16,47%; quý II tăng 17,43%; quý III tăng 18,62%).
Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau:
Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Chín ước đạt 12.277 tỷ đồng, chiếm 47,06% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 18,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 17,98%; hàng may mặc tăng 12,52%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 19,08%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 101,71%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 26,07%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 35,69%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 33,62%; xăng, dầu các loại tăng 21,14%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 62,99%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 47,75%. Bên cạnh các nhóm hàng tăng thì có 01 nhóm hàng giảm là nhóm hàng hóa khác giảm 9,70%.
Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 110.606 tỷ đồng, tăng 18,68% (quý I tăng 17,99%; quý II tăng 17,47%; quý III tăng 20,64%) so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 22,93%; hàng may mặc tăng 18,0%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 13,67%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 68,86%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 12,54%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 32,53%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 7,93%; xăng dầu các loại tăng 21,32%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 47,84%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 38,15%; hàng hóa khác tăng 5,98.
Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu tháng Chín ước đạt 1.276 tỷ đồng, tăng 0,92% so với tháng trước và tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 37 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 11,78% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.239 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 24,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 11.341 tỷ đồng, tăng 17,10% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 15,21%; quý II tăng 12,81%; quý III tăng 23,85%). Trong đó, dịch vụ lưu trú 328 tỷ đồng, tăng 13,52%; dịch vụ ăn uống
11.013 tỷ đồng, tăng 17,21%. Từ đầu năm đến nay, ngành dịch vụ lưu trú ăn uống duy trì mức tăng trưởng khá nhờ sự phục hồi của hoạt động thương mại, du lịch và các hoạt động văn hóa trên địa bàn.
Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Chín ước đạt 10,51 tỷ đồng, giảm 34,32% so với tháng trước và tăng 15,58% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm trong tháng chủ yếu do tính mùa vụ: tháng Chín là thời điểm kết thúc mùa du lịch hè, nhu cầu nghỉ dưỡng, tham quan giảm so với các tháng cao điểm; cùng với đó, các sản phẩm du lịch biển và chương trình dành cho gia đình, học sinh cũng tập trung nhiều hơn trong kỳ nghỉ hè. Vì vậy, doanh thu lữ hành tháng Chín giảm so với tháng trước nhưng vẫn tăng so với cùng kỳ, không phản ánh xu hướng suy giảm của ngành. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 93 tỷ đồng, tăng 12,76% (quý I tăng 13,47%; quý II tăng 12,60%; quý III tăng 12,55%) so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù chịu tác động mùa vụ trong tháng Chín, hoạt động lữ hành vẫn duy trì mức tăng trưởng hai con số, với dư địa phát triển từ việc khai thác các giá trị văn hóa, di sản, sinh thái, biển và du lịch trải nghiệm. Những tháng cuối năm, các sản phẩm du lịch văn hóa, tâm linh, sinh thái, trải nghiệm và du lịch cuối tuần tiếp tục có điều kiện phát triển, góp phần giảm tính mùa vụ và nâng cao hiệu quả khai thác cơ sở lưu trú, ăn uống và các dịch vụ hỗ trợ.
Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Chín ước đạt 12.524 tỷ đồng, tăng 9,26% so với tháng trước và tăng 15,14% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt
11.100 tỷ đồng tăng 10,00% so với tháng trước và tăng 15,34% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 517 tỷ đồng, tăng 2,67% so với tháng trước và tăng 14,84% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 244 tỷ đồng, tăng 15,79% so với tháng trước và tăng 9,44% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 256 tỷ đồng, tăng 0,58% so với tháng trước và tăng 15,36% so với cùng kỳ; dịch vụ khác ước đạt 318 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 12,23% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 101.110 tỷ đồng, tăng 16,29% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 15,00%; quý II tăng 17,97%; quý III tăng 16,04%). Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,34% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,80% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,76%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 11,01%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,20%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 15,18%; dịch vụ khác tăng 11,26%. Thị trường bất động sản trong chín tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường.
6. Hoạt động vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Chín ước đạt 2.546 tỷ đồng, tăng 1,72% so với tháng trước và tăng 16,38% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 22.064 tỷ đồng, tăng 17,14% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 18,37%; quý II tăng 16,83%; quý III tăng 16,26%).
Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Chín ước đạt 6 triệu lượt người vận chuyển và 570 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 4,23% về lượt người vận chuyển, tăng 5,56% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 13,40% về lượt người vận chuyển, tăng 17,50% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng 9 ước đạt 449 tỷ đồng, tăng 3,65% so với tháng trước và tăng 22,27% so cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 52,7 triệu lượt người vận chuyển và 4.866 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,15% về lượt người vận chuyển và tăng 10,79% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách chín tháng ước đạt 3.799 tỷ đồng, tăng 13,47% so cùng kỳ năm trước (quý I tăng 14,27%; quý II tăng 9,52%; quý III tăng 16,64%).
Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Chín ước đạt 7,1 triệu tấn vận chuyển và 1.812 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 0,98% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 0,20% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 17,27% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 7,97% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.864 tỷ đồng, tăng 1,35% so với tháng trước và tăng 14,23% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung chín tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 60,1 triệu tấn vận chuyển và 16.112 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,69% về tấn hàng hóa vận chuyển và 12,24% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa chín tháng ước đạt 16.270 tỷ đồng, tăng 18,78% so cùng kỳ năm trước (quý I tăng 20,28%; quý II tăng 20,14%; quý III tăng 16,09%).
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Chín có doanh ước đạt 207 tỷ đồng, tăng 0,84% so với tháng trước và tăng 22,97% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.781 tỷ đồng, tăng 9,73% (quý I tăng 9,01%; quý II tăng 6,30%; quý III tăng 13,95%) so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Chín ước đạt 26 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 27,83% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 215 tỷ đồng, tăng 27,51% (quý I tăng 34,00%; quý II tăng 2,50%; quý III tăng 51,17%) so với cùng kỳ năm trước.
II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT
1. Hoạt động đầu tư
Chín tháng năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phục hồi sản xuất kinh doanh và thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư ngoài Nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Đặc biệt, ngày 12/9/2026, có 7 dự án khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN) và giao thông lớn đồng loạt được bấm nút khởi công trên địa bàn tỉnh nhằm mở rộng không gian phát triển và đón dòng vốn đầu tư: Dự án Khu công nghiệp Liên Hà Thái (Green iP-3); Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng KCN Thổ Hoàng; Khu công nghiệp số 10 - Hưng Yên; Dự án đầu tư khu công nghiệp số 15; CCN Đa Lộc; CCN Lạc Đạo; Dự án xây dựng đường bên và các cầu vượt trên tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng.
a) Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội toàn tỉnh quý III ước đạt 44.871 tỷ đồng, tăng 17,01% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: vốn khu vực nhà nước 14.554 tỷ đồng, tăng 22,35%; khu vực ngoài nhà nước 25.185 tỷ đồng, tăng 20,02%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 5.133 tỷ đồng, giảm 6,15%.
Tính chung chín tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh ước đạt 117.508 tỷ đồng, tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước. Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội phân theo nguồn vốn như sau: Vốn thuộc khu vực nhà nước đạt 32.705 tỷ đồng, tăng 17,84%; khu vực ngoài nhà nước 69.003 tỷ đồng, tăng 17,87%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 15.800 tỷ đồng, giảm 4,43%.
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh Quý III và 9 tháng năm 2026
Ước tính quý III năm 2026 (Tỷ đồng)
Ước tính 9 tháng
năm 2026 (Tỷ đồng)
Quý III năm 2026 so với quý III năm
2025 (%)
9 tháng
năm 2026
so với 9 tháng năm 2025 (%)
TỔNG SỐ
44.871
117.508
117,01
114,28
Vốn nhà nước
14.554
32.705
122,35
117,84
Vốn ngoài nhà nước
25.185
69.003
120,02
117,87
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
5.133
15.800
93,85
95,57
Xét theo ngành kinh tế, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội quý III ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản ước đạt 402 tỷ đồng, tăng 116,17%; công nghiệp và xây dựng 8.341 tỷ đồng, giảm 13,93%; thương mại, dịch vụ 36.128 tỷ đồng, tăng 26,89% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản ước đạt 1.182 tỷ đồng, tăng 157,33%; công nghiệp và xây dựng 24.781 tỷ đồng, tăng 10,06%; thương mại, dịch vụ 91.544 tỷ đồng, tăng 14,64% so với cùng kỳ năm trước.
Một số dự án trọng điểm thi công trong chín tháng năm 2026 như sau: Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình theo phương thức đối tác công tư (CT.08), vốn đầu tư 19,784 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 2.466,5 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng, vốn đầu tư 6,091 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 1.014,8 tỷ đồng; Dự án nâng cấp, mở rộng tuyến đường liên tỉnh Hà Nội - Hưng Yên kéo dài, đoạn qua địa phận tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 3.155 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 125,4 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên (nay là tuyến đường từ phường Thái Bình đến xã Hưng Hà), Vốn đầu tư 9.596,3 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 1.094,1 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình, vốn đầu tư 3.156 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 319,2 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường Tân Phúc -Võng Phan (giao ĐT.378), tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 2,049 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 480,4 tỷ đồng; Dự án xây dựng đường Đông- Tây I, đoạn từ đường tỉnh 378 đến đường tỉnh 382B, Vống đầu tư 1.310 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 639 tỷ đồng; Dự án tuyến đường nối từ thành phố Thái Bình đến cầu Nghìn theo hình thức đầu tư công, vốn đầu tư 2,121 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 65,8 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình tại Khu trung tâm Y tế tỉnh (nay là Bệnh viện Đa khoa Thái Bình tại phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên), tổng vốn đầu tư 2,351,6 tỷ đồng, dự kiến chín tháng đạt 343,8 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng nút giao Phúc Khánh, vốn đầu tư 842 tỷ đồng, dự kiến chín tháng năm 2026 đạt 363,4 tỷ đồng;...
b) Vốn đầu tư ngân sách địa phương
Ước tính vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Chín đạt 5.357 tỷ đồng, tăng 23,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.510 tỷ đồng, tăng 76,83%; vốn ngân sách cấp nhà nước cấp xã 847 tỷ đồng, giảm 52,35% so với cùng kỳ năm trước.
Vốn đầu tư phát triển từ nguồn NSNN do địa phương quản lý
Quý III, 9 tháng năm 2026
QIII.2026
9T.2026
QIII.2026 QIII.2025
9T.2026 9T.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
(%)
Tổng số
13.333
29.557
121,94
117,65
Vốn NS nhà nước cấp tỉnh
10.593
21.380
162,47
150,31
Vốn NS nhà nước cấp xã
2.740
8.177
62,08
75,02
Xét trong quý III năm 2025, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 13.333 tỷ đồng, tăng 21,94% so với cùng kỳ năm trước (quý I tăng 2,19%; quý II tăng 24,61%). Trong đó, vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 10.593 tỷ đồng, tăng 62,47%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 2.740 tỷ đồng, giảm 37,92%.
Tính chung chín tháng năm 2026, vốn đầu tư ngân sách địa phương ước đạt 29.557 tỷ đồng, tăng 17,65% so với cùng kỳ năm trước và đạt 54,03% kế hoạch năm. Trong đó: Vốn ngân sách cấp tỉnh 21.380 tỷ đồng, tăng 50,31% so với cùng kỳ năm trước và đạt 48,10% kế hoạch; vốn ngân sách cấp xã 8.177 tỷ đồng, giảm 24,98% so với cùng kỳ năm trước và đạt 79,72% kế hoạch năm. Vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý cấp tỉnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do trong năm 2026, tỉnh tập trung triển khai nhiều dự án trọng điểm quy mô lớn, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp xã, nguồn vốn tiếp tục được sử dụng chủ yếu cho các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, trường học, nhà văn hóa và các công trình phục vụ dân sinh. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm do vướng mắc trong công tác chuẩn bị đầu tư, năng lực tổ chức thực hiện ở một số địa phương còn hạn chế, cùng với tác động của biến động giá nguyên vật liệu xây dựng.
c) Hoạt động đầu tư nước ngoài
Tính đến 25/9/2025, toàn tỉnh có 1.011 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 18.943,82 triệu USD, trong đó, từ đầu năm đến nay có 47 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 775,82 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 205 dự án, vốn đăng ký là 6.819,11 triệu USD, chiếm 36,0% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 393 dự án, vốn đăng ký 4.748,66 triệu USD, chiếm 25,07% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.288,88 triệu USD, chiếm 12,08% tổng số vốn đăng ký.
2. Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/8/2026 đến ngày 21/9/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 255 doanh nghiệp, lao động dự kiến 3.738 người, với vốn đầu tư đăng ký 3.070 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 50 doanh nghiệp, sử dụng 1.137 lao động, vốn đăng ký 378 tỷ đồng; sản xuất và phân phối, điện, nước, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí 4 doanh nghiệp, sử dụng 7 lao động, vốn đăng ký 16 tỷ đồng; xây dựng 21 doanh nghiệp, sử dụng 70 lao động, vốn đăng ký 98 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 100 doanh nghiệp, sử dụng 443 lao động, vốn đăng ký 399 tỷ đồng; vận tải kho bãi 24 doanh nghiệp, sử dụng 94 lao động, vốn đăng ký 96 tỷ đồng; dịch vụ lưu trú, ăn uống 6 doanh nghiệp, sử dụng 22 lao động, vốn đăng ký 10 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/9/2026, toàn tỉnh có 4.030 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, số lao động dự kiến sử dụng 32.310 người, vốn đầu tư đăng ký đạt 44.606 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.639 doanh nghiệp, sử dụng 6.408 lao động, vốn đăng ký đạt 6.515 tỷ đồng (chiếm 14,61% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 785 doanh nghiệp, sử dụng 16.503 lao động, vốn đăng ký đạt 8.435 tỷ đồng (chiếm 18,91%); xây dựng 377 doanh nghiệp, sử dụng 1.686 lao động, vốn đăng ký 2.192 tỷ đồng (chiếm 4,91%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 192 doanh nghiệp, sử dụng 862 lao động, vốn đăng ký 473 tỷ đồng; hoạt động vận tải, kho bãi 322 doanh nghiệp, sử dụng 1.205 lao động, vốn đăng ký 1.458 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 137 doanh nghiệp, sử dụng 604 lao động, vốn đăng ký 552 tỷ đồng (chiếm 1,24%);...
Trong tháng Chín (tính từ ngày 22/8/2026 đến ngày 21/9/2026), không có doanh nghiệp quay trở lại hoạt động. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/9/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 610 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/8/2026 đến ngày 21/9/2026, không phát sinh doanh nghiệp giải thể và doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/9/2026, toàn tỉnh có 744 doanh nghiệp giải thể và 1.540 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 149 doanh nghiệp giải thể và 374 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,03% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,29% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 269 doanh nghiệp giải thể và 528 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,16% và 34,29%; kinh doanh bất động sản có 45 doanh nghiệp giải thể và 35 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,05% và 2,27%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ có 26 doanh nghiệp giải thể và 72 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,49% và 4,68%;...
3. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a) Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh tháng Chín ước đạt 4.069 tỷ đồng, tăng 4,54% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: Thu nội địa 3.342 tỷ đồng, giảm 2,68%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 727 tỷ đồng, tăng 58,57%. Một số khoản thu chủ yếu trong tháng dự tính như sau: thu từ DNNN 119 tỷ đồng, tăng 33,28%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 129 tỷ đồng, giảm 22,15%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 759 tỷ đồng, giảm 23,16%; thu phí, lệ phí 117 tỷ đồng, giảm 20,84%; thu thuế thu nhập cá nhân 100 tỷ đồng, giảm 62,63%; các khoản thu về đất 2.030 tỷ đồng, tăng 23,89%;...
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
9 tháng năm 2026
9T.2025
9T.2026
9T.2026 9T.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
Tổng số
70.848
53.564
75,60
Thu nội địa
66.252
48.015
72,47
Tr. đó: Thu từ đất
41.131
19.109
46,46
Thu từ hoạt động XNK
4.59
6
5.549
120,73
Tính chung chín tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 53.564 tỷ đồng, giảm 24,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 63,58% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 48.015 tỷ đồng, giảm 27,52% và đạt 61,88% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 5.549 tỷ đồng, tăng 20,73% và bằng 83,45% kế hoạch năm. Một số khoản thu nội địa chủ yếu như sau: thu từ DNNN 1.006 tỷ đồng, giảm 1,04%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.573 tỷ đồng, tăng 16,86%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 19.102 tỷ đồng, tăng 24,93%; thu phí, lệ phí 1.381 tỷ đồng, giảm 0,05%; thuế thu nhập cá nhân 2.507 tỷ đồng, giảm 13,42%; các khoản thu về đất 19.109 tỷ đồng, giảm 53,54%;...
b) Chi ngân sách nhà nước địa phương
Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Chín ước đạt 3.071 tỷ đồng, giảm 8,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.643 tỷ đồng, tăng 114,29%; chi thường xuyên 1.428 tỷ đồng, giảm 44,93%.
Tính chung chín tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 54.593 tỷ đồng, tăng 16,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 34.382 tỷ đồng, chiếm 62,98% tổng chi ngân sách và tăng 23,70%; chi thường xuyên 20.211 tỷ đồng, chiếm 37,02% tổng chi ngân sách và tăng 4,96%
so với cùng kỳ năm trước. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 775 tỷ đồng, giảm 36,19%; chi giáo dục, đào tạo 7.395 tỷ đồng, tăng 4,41%; chi sự nghiệp y tế 1.981 tỷ đồng, tăng 19,59%; chi đảm bảo xã hội 4.843 tỷ đồng, tăng 101,97%; chi quản lý hành chính 3.473 tỷ đồng, giảm 37,63%;...
c) Hoạt động ngân hàng
Chín tháng năm 2026, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tinh đã thực hiện kịp thời các giải pháp về điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam, cơ chế, chính sách mới. Tăng trưởng tín dụng với cơ cấu hợp lý, ưu tiên các lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, hạn chế tín dụng đen. Ước tính đến thời điểm 30/9/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 345.000 tỷ đồng, tăng 11,54% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 340.500 tỷ đồng, tăng 10,83% và chiếm 98,70% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,30%.
Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/9/2026 đạt
286.100 tỷ đồng, tăng 8,0% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 205.000 tỷ đồng, tăng 6,91%; dư nợ cho vay trung và dài hạn
81.100 tỷ đồng, tăng 10,85%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 276.500 tỷ đồng, tăng 6,95%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 9.600 tỷ đồng, tăng 50,59%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 186.350 tỷ đồng, tăng 7,321% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 119.500 tỷ đồng, tăng 4,52%; xuất khẩu 1.720 tỷ đồng, tăng 6,17%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 59.700 tỷ đồng, tăng 14,05%; công nghiệp hỗ trợ 5.430 tỷ đồng, tăng 1,69%.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/9/2026 ước tính là 1.800 tỷ đồng (chiếm 0,63% dư nợ tín dụng), giảm 0,08% so với với thời điểm 31/12/2025.
d) Bảo hiểm xã hội
Lũy kế số người tham gia BHXH đến 31/8/2026 là 681.048 người, tăng
5.128 người, tương ứng tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 79.122 người, tương ứng tăng 13,1% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: BHXH bắt buộc 591.351 người, tăng 4.710 người (tăng 0,8%) so với tháng trước, tăng 69.020 người (tăng 13,2%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 89.697 người, tăng 418/ người (tăng 0,5%) so với tháng trước, tăng 10.102 người (tăng 12,7%) so với cùng kỳ năm trước.
Lũy kế số người tham gia BHTN đến 30/9/2026 là 568.660 người, tăng
5.015 người (tăng 0,9%) so với tháng trước, tăng 63.474 người (tăng 12,6%) so với cùng kỳ năm trước. Tổng số người tham gia BHYT là 2.961.461 người, tăng
5.151 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 155.673 người (tăng 5,5%) so với cùng kỳ năm trước.
Tính từ đầu năm đến hết tháng 8/2026, toàn tỉnh thu BHXH, BHYT, BHTN được 11.571 tỷ đồng, tăng 1.601 tỷ đồng (tăng 16,1%) so với cùng kỳ năm trước. Chi BHXH trong tháng 8/2026 đạt 1.089 tỷ đồng; luỹ kế chi từ đầu năm là 8.228 tỷ đồng, tăng 2,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 296 tỷ đồng, luỹ kế 2.265 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 793 tỷ đồng, luỹ kế 5.962 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 9/2026 là 29 tỷ đồng, lũy kế chi từ đầu năm là 215 tỷ đồng.
Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 8/2026 khoảng 346 tỷ đồng; luỹ kế từ đầu năm đã chi 2.566 tỷ đồng, tăng 8,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 1.007 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.559 tỷ đồng.
4. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Trong tháng Chín, diễn biến giá giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ có sự tăng, giảm đan xen. Một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng do tác động của yếu tố mùa vụ, nhu cầu tiêu dùng và chi phí đầu vào; trong khi một số nhóm khác có chỉ số giá giảm hoặc cơ bản ổn định. Sự tăng, giảm đan xen giữa các nhóm hàng hóa và dịch vụ đã tác động bù trừ, nên chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2026 chỉ giảm nhẹ - giảm 0,01% so với tháng trước. So với tháng cùng kỳ năm 2025, CPI tăng 4,08%; bình quân 9 tháng năm 2026, CPI tăng 4,29% so với cùng kỳ.
Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ tháng Chín năm 2026 (%)
T9.2026
T8.2026
T9.2026
T9.2025
9T.2026
9T.2025
Chỉ số giá tiêu dùng chung
99,99
104,08
104,29
Chỉ số vàng
102,33
111,97
145,67
Chỉ số đô la Mỹ
99,31
97,76
101,28
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Chín giảm nhẹ - giảm 0,01%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 06 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 05 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,64%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,45%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,40%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,01%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,44%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 2,12%; thông tin và truyền thông giảm 0,50%; giáo dục tăng 1,37%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 0,25%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,08%.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,64%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,69%, trong đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 2,32% so với tháng trước (gạo tẻ thường giảm 2,55%; gạo tẻ ngon giảm 1,86%; gạo nếp giảm 1,79%) do nguồn cung dồi dào, xuất khẩu chững lại, dẫn đến giá bán trong nước giảm theo; chỉ số giá nhóm bún, phở, bánh đa giảm 1,34% do ảnh hưởng từ giá gạo giảm. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,55% do: Nhóm thịt gia súc giảm 2,95% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 3,28%; nội tạng động vật giảm 1,27%; thịt gia súc đông lạnh giảm 1,32%); nhóm thị gia cầm giảm 1,63% (thịt gà giảm 1,82%; thịt gia cầm đông lạnh giảm 2,78%); nhóm thủy sản tươi sống giảm 0,38% do giá các loại tôm, cua, cá biển giảm; nhóm thịt chế biến giảm 0,69%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác giảm 1,44%; nhóm trứng giảm 0,58%.
Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,45%, chủ yếu do nhóm bia các loại giảm 1,53%; nhóm thuốc lào giảm 0,66%; nguyên nhân do sự điều chỉnh giá của nhà sản xuất nên các cửa hàng và siêu thị giảm giá bán, nhằm kích tiêu dùng.
Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,40%, chủ yếu do các cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán và thực hiện các chương trình khuyến mại, kích cầu tiêu dùng nhằm giải phóng hàng tồn kho, đồng thời đáp ứng sự thay đổi nhu cầu tiêu dùng theo thời điểm.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,44%, chủ yếu do nhóm thiết bị dùng trong gia đình giảm 2,32%, giảm ở các mặt hàng điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, máy giặt, máy hút bụi, bình nước nóng nhà tắm, ổn áp điện,… nhóm đồ dùng nấu ăn giảm 0,61%; nhóm đồ nhựa và cao su giảm 0,41% nhóm vật phẩm tiêu dùng khác giảm 0,88%;... sự biến động của chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và yếu tố mùa vụ đã tác động đến giá bán của nhóm hàng này.
Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 2,12%, chủ yếu do giá xăng, dầu tăng. Giá xăng, dầu trong tháng tăng theo các kỳ điều chỉnh, do ảnh hưởng của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới tăng. Trong kỳ giá tiêu dùng tháng 9/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 04 đợt vào các ngày 03/9; 10/9; 17/9 và 24/9. Theo đó giá nhiên liệu tăng 7,54%; giá xăng tăng 7,69%; giá dầu diesel tăng 4,50%.
Nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,50%, chủ yếu do các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán và thực hiện các chương trình khuyến mại nhằm kích cầu tiêu dùng. Cùng với đó, sự xuất hiện của các mẫu điện thoại mới khiến giá bán các sản phẩm thế hệ trước giảm theo chu kỳ, trong khi cạnh tranh giữa các thương hiệu và nhà phân phối tiếp tục góp phần kéo giảm mặt bằng giá điện thoại.
Nhóm giáo dục tăng 1,37%, trong đó chỉ số giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng 1,97%. Nguyên nhân do tháng Chín là thời điểm bắt đầu năm học mới 2026 - 2027, một số cơ sở giáo dục thực hiện mức thu học phí và các khoản dịch vụ giáo dục theo năm học mới, làm mặt bằng giá nhóm dịch vụ giáo dục tăng so với tháng trước. Đây là yếu tố có tính mùa vụ, thường tác động đến chỉ số giá nhóm giáo dục vào thời điểm đầu năm học.
So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Chín tăng 3,53%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,32%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,97%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,90%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,17%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,83%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,51%; giao thông tăng 10,12%; thông tin và truyền thông tăng 0,48%; giáo dục tăng 0,38%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,71%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng chín tăng 4,08%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,32% (lương thực tăng 1,20%; thực phẩm tăng 4,99%; ăn uống ngoài gia đình tăng 3,95%); đồ uống và thuốc lá tăng 4,84%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,18%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,46%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,84%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,34%; giao thông tăng 8,42%; thông tin và truyền thông tăng 0,67%; giáo dục tăng 0,38%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,29%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,15%.
Bình quân quý III năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,39%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,23% (lương thực tăng 2,43%; thực phẩm tăng 5,80%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,02%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,20%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,43%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,40%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,37%; giao thông tăng 5,90%; thông tin và truyền thông tăng 0,96%; giáo dục tăng 0,17%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,56%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,13%.
Bình quân chung chín tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,29% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,23%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,46%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,87%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,25%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,30%; giao thông tăng 5,07%; thông tin và truyền thông tăng 0,95%; giáo dục tăng 0,90%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,33%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,21%.
Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân chín tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,32% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,71% chủ yếu do giá thịt gia súc tăng 5,45%, thịt gia cầm tăng 4,75%, thịt chế biến tăng 7,90%, trứng các loại tăng 11,31%; mỡ động vật tăng 10,57%; thủy sản tươi sống tăng 6,78%; rau tươi, khô và chế biến tăng 13,18%, do giá thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, chi phí vận chuyển tăng dẫn đến giá bán tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,98% chủ yếu do giá nguyên liệu thực phẩm, chi phí điện nước, nhân công, chi phí thuê mặt kinh doanh tăng; bên cạnh đó nhu cầu tiêu dùng và
tình hình kinh doanh dịch vụ ăn uống trong từng kỳ đã tác động đến giá dịch vụ.
(2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,23%, chủ yếu do nhóm nước khoáng tăng 6,80%; nước ép quả tăng 5,33%; rượu mạnh tăng 5,94%; bia chai tăng 5,36%; thuốc lá tăng 5,15%;... nguyên nhân do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng; giá nguyên liệu sản xuất đồ uống như đường, sữa, chè, hoa quả, malt, bao bì nhựa, thủy tinh và nhôm tăng; giá lá thuốc lá, giấy cuốn, đầu lọc và vật tư nhập khẩu tăng làm chi phí sản xuất tăng cao hơn. (3) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,87% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê và các loại nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,21%; giá các loại vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,09%, dịch vụ sửa chữa nhà ở tăng 7,32% do giá vật liệu và nhu cầu xây dựng, cải tạo nhà ở, đầu tư cơ sở hạ tầng tăng đã tác động tăng giá nhóm này. (4) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 5,07%, do giá xăng tăng 10,29%; giá dầu diezel tăng 39,21% so với cùng kỳ. Giá xăng, dầu biến động theo giá dầu thô thế giới và tỷ giá, làm tăng chí phí vận hành phương tiện cá nhân và vận tải hàng hóa, hành khách, khi chi phí nhiên liệu tăng, giá thành dịch vụ vận tải cũng tăng theo. (5) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 3,95% do nhu cầu sử dụng điện tăng cao trong mùa nắng nóng, cùng với tác động từ chi phí sản xuất, vận hành hệ thống điện, việc điều chỉnh giá điện theo biến động chi phí đầu vào cũng góp phần làm tăng mức giá điện bình quân. (6) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,33%, chủ yếu do nhóm dịch vụ văn hóa tăng 4,64%; nhóm giải trí tăng 8,40%; nhóm hoa, cây cảnh, vật cảnh tăng 11,00% nhóm du lịch trọn gói tăng 8,77%;... do nhu cầu vui chơi, giải trí, tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch của người dân tăng vào các dịp lễ, tết, kỳ nghỉ hè, nghỉ cuối tuần, cùng với chi phí đầu vào, chi phí vận chuyển và cung ứng dịch vụ tăng.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 9/2026 tăng 2,33% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 9/2026, giá vàng xấp xỉ 14.673.330 VNĐ/chỉ.
Tháng 9/2026, tỷ giá USD trong nước biến động giảm theo xu hướng giảm của đồng USD trên thị trường quốc tế. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 9/2026 giảm 0,69% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.010 VNĐ.
c) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Chín tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 4,79% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,41% so với tháng trước và tăng 4,30% so với cùng kỳ; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp ổn định so với tháng trước và tăng 12,56% so với cùng kỳ; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 1,27% so với tháng trước và tăng 7,31% so với cùng kỳ. So với tháng trước, một số sản phẩm,
nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,41%; mía cây tươi tăng 0,82%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 0,99%; rau lấy lá tăng 9,50%; dưa lấy quả tăng 1,57%; rau họ đậu tăng 9,19%; rau lấy quả tăng 8,69%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân tăng 5,56%; nấm trồng các loại tăng 1,51%; đậu/đỗ hạt khô các loại tăng 3,83%; hoa phong lan tăng 1,54%; hoa cúc bông tăng 1,10%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 7,49%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm tăng 4,98%; quả na tăng 1,07%; mít tăng 1,86%; ổi tăng 2,88%; các loại quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới còn lại tăng 2,58%; quýt tăng 1,13%; bưởi tăng 1,45%; nhãn tăng 2,28%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 2,23%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 1,14%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 0,21%; sản phẩm chăn nuôi khác tăng 1,10%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,48%; cá chép tăng 1,48%; giống thủy sản nuôi nội địa tăng 0,52%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: thóc khô giảm 0,22%; thuốc lào giảm 0,86%; hoa hồng giảm 0,43%; chuối giảm 1,18%; thanh long giảm 0,65%; chanh thường giảm 7,75%; các loại quả có múi còn lại giảm 2,52%; bò giảm 0,63%; lợn giảm 1,82%; sản phẩm thủy sản khai thác biển giảm 3,08%; cá nuôi biển giảm 2,06%; tôm nuôi biển còn lại giảm 3,17%; tôm nuôi nội địa giảm 2,40%;...
Quý III năm 2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 0,51% so với quý trước và tăng 4,41% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,64% và tăng 3,67%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 9,99% và tăng 14,18%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 0,04% và tăng 8,25%. Chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu quý III năm 2026 so với quý trước như sau: thóc khô giảm 0,20%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,02%; vừng/mè tăng 1,71%; rau lấy lá tăng 2,66%; rau họ đậu tăng 1,88%; rau lấy quả tăng 3,37%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân tăng 2,38%; đậu/đỗ hạt khô các loại tăng 1,25%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 3,57%; xoài tăng 3,43%; chuối giảm 4,94%; quả na tăng 4,13%; mít giảm 5,25%; ổi tăng 3,13%; chanh thường giảm 4,02%; nhãn tăng 13,55%; vải tăng 19,76%; lợn giảm 0,64%; sản phẩm chăn nuôi gia cầm giảm 0,83%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 0,43%; cá trôi tăng 1,26%; tôm nuôi nội địa giảm 3,67%; giống thủy sản nuôi nội địa tăng 0,75%;...
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Chín năm 2026 tăng 0,63% so với tháng trước và tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,62% và tăng 5,48%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,39% và tăng 3,72%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,08% và tăng 1,37%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến , bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 1,43%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 0,88%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 0,44%; sợi tăng 0,98%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,05%; va ly, túi xách và các loại
tương tự, yên đệm tăng 2,18%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu tăng 1,64%; dịch vụ liên quan đến in tăng 2,83%; hóa chất cơ bản tăng 59,20%; sản phẩm từ plastic tăng 1,52%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 6,54%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 0,82%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 3,20%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 1,38%; đồ chơi, trò chơi tăng 4,65%; sản phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 1,85%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải (trừ ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác) tăng 2,16%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 3,38%; nước tự nhiên khai thác tăng 1,41%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: cà phê giảm 4,58%; đồ uống không cồn, nước khoáng giảm 1,69%; sản phẩm hàng dệt khác chưa được phân vào đâu giảm 0,76%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 5,34%; mô tơ, máy phát giảm 2,11%; pin và ắc quy giảm 10,30%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 6,08%; mô tô, xe máy giảm 2,31%; điện sản xuất giảm 0,49%; điện mặt trời giảm 0,78%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 2,70%;...
Quý III năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,87% so với quý trước và tăng 4,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,95% và tăng 4,94%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 0,10% và tăng 2,55%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,12% và tăng 1,74%. So với quý trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,28%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 3,24%; món ăn, thức ăn chế biến sẵn tăng 4,61%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 2,37%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 1,33%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 3,37%; sản phẩm may trang phục tăng 5,50%; giày dép tăng 4,12%; dịch vụ liên quan đến in tăng 3,05%; hóa chất cơ bản tăng 25,56%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu tăng 2,82%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 2,02%; sản phẩm từ plastic tăng 4,90%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 3,07%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 4,90%; các cấu kiện kim loại tăng 3,59%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 5,08%; phụ tùng và các bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 2,61%; đồ chơi, trò chơi tăng 5,11%; nước tự nhiên khai thác tăng 3,10%;… Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 5,83%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 1,59%; thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh giảm 0,96%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 3,23%; pin và ắc quy giảm 11,49%; thiết bị điện khác giảm 0,61%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 9,06%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 6,68%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 1,36%; sản phẩm khác chưa phân vào đâu giảm 2,58%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 1,10%; điện mặt trời giảm 2,44%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 0,64%;...
III. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội
Đời sống dân cư: Chín tháng năm 2026, toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số; đẩy mạnh cơ cấu lại thực chất, hiệu quả hơn nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và môi trường kinh doanh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn; chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội. Nhờ vậy, đời sống nhân dân tiếp tục ổn định và từng bước được phát triển, nâng cao.
Lao động việc làm: Trong tháng Chín, toàn tỉnh giải quyết việc làm 5.200 người, trong đó xuất khẩu lao động là 620 người. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 898 người; tư vấn giới thiệu việc làm cho 4.048 người. Trong quý III năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 15.500 người, trong đó xuất khẩu lao động là 1.990 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 3.580 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 12.500 người. Tính chung chín tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 46.420 người (đạt 77,3% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 5.310 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 8.110 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 29.000 người.
Tỉnh tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 5.700 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 3.942 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 1.263 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 402 lượt doanh nghiệp. Tiếp nhận 695 lượt doanh nghiệp khai báo sử dụng 4.664 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 47 lượt doanh nghiệp với 12.811 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 104 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.
Tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lực lượng lao động và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh: tổ chức Hội nghị kết nối, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp năm 2026; ký kết với tỉnh Lào Cai và Lai Châu bản ghi nhớ hợp tác về việc phối hợp cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; tổ chức
“Ngày hội tư vấn, định hướng nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động năm 2026”. Phối hợp làm việc với Đoàn Khảo sát của Ủy ban Văn hóa - Xã hội Quốc hội việc thực hiện chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; bảo vệ trẻ em trên môi trường mạng. Tổ chức kiểm tra việc chấp hành pháp luật lao động tại 56 doanh nghiệp, kiểm tra đột xuất việc thực hiện pháp luật lao động tại 06 doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.
Công tác Người có công: Từ đầu năm đến nay, công tác đền ơn đáp nghĩa và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, thiết thực và hiệu quả. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, toàn tỉnh đã tổ chức trao tặng quà của Đảng, Nhà nước cho 100.791 người có công với cách mạng, thân nhân và người thờ cúng liệt sĩ; hoàn thành trao 106.413 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí 32,65 tỷ đồng. Đồng thời, quà tặng của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh được trao với tổng kinh phí 104,58 tỷ đồng; các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đã trao trên 15.000 suất quà, với tổng kinh phí trên 8,4 tỷ đồng. Tổ chức các đoàn lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà người có công và thân nhân người có công tại gia đình, các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh.
Thực hiện chủ trương của Trung ương và của tỉnh nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), toàn tỉnh đã trao tặng quà của Chủ tịch nước đối với 104.681 người có công, với tổng kinh phí trên 32,1 tỷ đồng; quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đối với 115.490 người có công, với tổng kinh phí 103,941 tỷ đồng. Tổ chức 03 Đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh đi dâng hương, viếng các Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và các công trình ghi công liệt sĩ từ ngày 10-19/7/2026, gồm: Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 (tỉnh Quảng Trị), Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) và các Nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tổ chức 04 Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà tại gia đình đối với người có công với cách mạng và thân nhân tại 18 xã trên địa bàn tỉnh. Thăm, tặng quà tại 07 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng trong và ngoài tỉnh với tổng kinh phí 51.000.000 đồng. Tổ chức Đoàn đại biểu người có công tỉnh Hưng Yên tham dự Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc từ ngày 22/7/2026 đến ngày 23/7/2026.
Công tác giải quyết chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã giải quyết khoảng 12.000 lượt hồ sơ thủ tục hành chính, 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 97%. Đã ban hành quyết định giải quyết chế độ điều dưỡng đối với 22.080 người có công và thân nhân liệt sĩ với kinh phí trên 73,1 tỷ đồng. Thực hiện xong kế hoạch tổ chức điều dưỡng tập trung cho người có công và thân nhân liệt sĩ tại Trung tâm Điều dưỡng chăm sóc người có công Sầm Sơn thuộc Cục Người có công; cấp tiền mua phương tiện trợ giúp, 12 dụng cụ chỉnh hình, thiết bị
phục hồi chức năng cho 1.581 người có công với kinh phí trên 2,3 tỷ đồng. Tỷ lệ chi trả trợ cấp ưu đãi qua tài khoản đạt 95,56%. Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” tại Chỉ thị số 14-TU/CT ngày 21/5/2026 và Kế hoạch lấy mẫu hài cốt liệt sĩ đối với mộ liệt sĩ chưa xác định được thông tin trong các nghĩa trang liệt sĩ. Công tác chuyển đổi số tiếp tục được đẩy mạnh. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư được thực hiện nghiêm túc, đúng quy định. Thực hiện Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 06/5/2026 về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, qua rà soát có 105 trường hợp đủ điều kiện hỗ trợ và đang được thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định; lập danh sách đăng ký hỗ trợ cho con dưới 18 tuổi đang hưởng trợ cấp đối với thân nhân liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên để Tập đoàn Vingroup hỗ trợ với mức 5 triệu đồng/người/tháng cho đến khi tròn 18 tuổi.
Công tác giảm nghèo được triển khai gắn với các chính sách an sinh xã hội, hỗ trợ sinh kế, tín dụng ưu đãi, bảo hiểm y tế, giáo dục và nhà ở. Năm 2025, toàn tỉnh có 10.335 hộ nghèo, tỷ lệ 0,99%; 12.134 hộ cận nghèo, tỷ lệ 1,16%. Thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi, trong chín tháng năm 2026, có 165 hộ nghèo được hỗ trợ vay vốn với kinh phí 11.875 triệu đồng; 231 hộ cận nghèo vay 17.544 triệu đồng; 117 hộ thoát nghèo vay 9.205 triệu đồng. Đồng thời, triển khai chính sách hỗ trợ thu nhập hằng tháng đối với một số thành viên không có khả năng lao động thuộc hộ nghèo; khảo sát, tư vấn, kết nối việc làm cho thành viên hộ nghèo có khả năng lao động. Thực hiện kế hoạch xóa nhà tạm, nhà dột nát năm 2026, UBND tỉnh đã phê duyệt hỗ trợ 1.295 hộ, gồm 641 hộ nghèo và 654 hộ cận nghèo, tổng kinh phí 105,5 tỷ đồng; trong đó 815 hộ xây mới và 480 hộ sửa chữa nhà ở.
2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá
Tỉnh tổ chức Chương trình nghệ thuật quần chúng “Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm (Đêm Giao thừa); Chương trình nghệ thuật tại Liên hoan Ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III, năm 2026; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa hát Chèo, Trống Quân, Ca Trù, Xẩm; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể hát Ca trù tại Lễ hội Đền Trần năm 2026; Tham gia Liên hoan Tuyên truyền lưu động toàn quốc do Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện tổ chức, kết quả đạt được: 01 giải A, 02 giải B; tham gia sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911 - 5/6/2026). Tổ chức Lớp tập huấn truyền dạy nghệ thuật Chèo năm 2026; hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá - Câu lạc bộ tại cơ sở.
Tỉnh tham gia Hội diễn đàn, hát dân ca 3 miền tại TP. Huế, giành 02 Huy chương Vàng, 03 Huy chương Bạc và 01 Giấy khen; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026. Toàn tỉnh tuyên truyền kỷ niệm 81 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhân kỷ niệm 300 năm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn.
Về thư viện: Tỉnh tổ chức 07 cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương viết 01 bài viết về hoạt động xe ô tô thư viện đăng trên đặc san ngành; biên soạn 14 bài giới thiệu sách chuyên đề, 24 tin bài về hoạt động thư viện đăng tải lên đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; tổ chức trao đổi Báo Xuân với 33 tỉnh, thành; tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách thu hút 204 học sinh đang học tập tại các trường tiểu học và trung học cơ sở thuộc 80 xã, phường trong toàn tỉnh; tổ chức hội nghị nói chuyện chuyên đề "Mở trang sách - nhận niềm vui" và phát động các hoạt động phục vụ thiếu nhi hè năm 2026 với sự tham gia của Tiến sĩ Giáo dục Nguyễn Thụy Anh. Phối hợp với Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên: nói chuyện chuyên đề về văn hóa đọc trong thời đại số; làm tin phóng sự tuyên truyền về hoạt động của Thư viện nhằm giúp các em có không gian và điều kiện học tập trong dịp hè. Biên soạn, phát hành Thư mục toàn văn Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn phục vụ các hoạt động tuyên truyền, tra cứu và tìm tin của bạn đọc trên nền tảng số. Tổ chức phục vụ xe ô tô Thư viện lưu động tại 25 Trường Tiểu học và THCS với 17.202 lượt học sinh tham gia, trên 34.400 lượt tài liệu được luân chuyển, tặng 862 bản sách cho học sinh. Biên soạn thư mục gồm 384 bài trích báo, tạp chí trên các báo Trung ương và địa phương có nội dung về tỉnh Hưng Yên; cấp 2.500 thẻ bạn đọc; phục vụ 20.920 lượt bạn đọc, 22.897 lượt tài liệu luân chuyển; 15.877 lượt truy cập; sưu tầm, bổ sung, xử lý 5.712 bản sách, 60 tên báo tạp chí, 918 trang tài liệu Hán Nôm tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, tổ chức phiên dịch 455 trang bản dịch Tiếng Việt; số hóa 10.927 trang tài liệu liệu phục vụ lưu trữ và nhu cầu đọc của bạn đọc trên nền tảng số. Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ, tổ chức luân chuyển 4.809 bản sách, tặng 1.000 bản sách và hỗ trợ giá sách cho 09 xã, phường trên địa bàn tỉnh; hỗ trợ biên mục xử lý nghiệp vụ cho Thư viện Công an tỉnh 2.609; hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ phần mềm Vietbiblio cho 20 thư viện trường học.
Về nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh tổ chức 72 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (đạt 60% kế hoạch) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026;
chương trình chào mừng thành công bầu cử Quốc hội khóa XVI, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026-2031. Tổ chức khoảng trên 20 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp; phục dựng vở chèo “Bảng nhãn Lê Quý Đôn”; dàn dựng vở chèo “Bản hùng ca xứ Nhãn”.
Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức khoảng trên 400 buổi chiếu phim phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; Tổ chức chấm thi các tác phẩm tham gia cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên. Phối hợp với Trung tâm Triển lãm Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam tổ chức trưng bày, triển lãm hình ảnh, hiện vật kỷ niệm 300 năm ngày sinh Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn. Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành thể dục thể thao Việt Nam (27/3/1946 - 27/3/2026). Tổ chức thành công các giải: Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; vô địch trẻ Vật dân tộc, Vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; Bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; Pickleball cán bộ công chức cơ quan Văn phòng sở, các sở, ban, ngành của tỉnh; Hội thao nhân dịp chào mừng 80 năm ngày truyền thống ngành TDTT Việt Nam (27/3/1946 – 27/3/2026). Tổ chức giải vô địch Cờ tướng 10 các câu lạc bộ tỉnh Hưng Yên năm 2026. Tổ chức giải Bóng chuyền hơi Cựu chiến binh tỉnh Hưng Yên năm 2026. Ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ phát động phòng, chống đuối nước cho trẻ em và lớp tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Bơi, cứu đuối năm 2026. Tổ chức thành công Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026. Tổ chức các giải thể thao trong chương trình Đại hội TDTT, gồm: Dân vũ; giải Khiêu vũ; Điền kinh; Bóng chuyền hơi nam, nữ; Karate; Võ cổ truyền; Taewondo trong chương trình Đại hội TDTT tỉnh lần thứ X năm 2026.
Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tính đến nay, Tỉnh đã tổ chức tập huấn, tham dự thi đấu 48 giải thể thao quốc gia, 08 giải quốc tế, giành tổng số 346 huy chương các loại, trong đó có 79 HCV, 85 HCB và 180 HCĐ; các vận động viên của tỉnh được triệu tập đội tuyển quốc gia tham dự các giải quốc tế, gồm: Vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026 tại Bangkok - Thái Lan đạt 01 HCĐ; Vô địch Vật Bãi biển Thế giới năm 2026 tại Đà Nẵng đạt 1 HCĐ; Vô địch Rowing Châu Á năm 2026 tại Hàn Quốc đạt 2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ; vận động viên Nguyễn Thùy Duyên tham dự giải Jujitsu Vô địch Thế giới năm 2026 tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1 HCV, 1 HCB. Đội Bóng đá nhi đồng U11 tỉnh tham dự 11 vòng đấu bảng giải Bóng đá nhi đồng toàn quốc năm 2026 tranh Cúp Nestlé MILO tại thành phố Hải Phòng, kết thúc vòng đấu bảng đội đạt
được 01 trận thắng, 02 trận hòa và giành quyền tham dự Vòng Chung kết toàn quốc thi đấu tại tỉnh Đắk Lắk vào tháng 7, 8; Đội Bóng đá nhi đồng của tỉnh giành quyền vào thi đấu vòng chung kết giải Bóng đá Nhi đồng U11 toàn quốc Cúp Nestlé Milo năm 2026. Tập trung triển khai Kế hoạch tập huấn các đội tuyển trong chương trình thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026.
c) Hoạt động du lịch
Tỉnh tổ chức thành công Liên hoan ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III năm 2026. Trong chín tháng năm 2026, tỉnh Hưng Yên đón khoảng 220.000 lượt khách: trong đó: khoảng 6.500 lượt khách quốc tế; Doanh thu ước đạt trên 135 tỷ VND. Tỉnh xây dựng và đặt 14 bảng quét QR code thông tin du lịch đặt tại các điểm trên địa bàn tỉnh; bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên: Logo huy hiệu cài áo, túi du lịch Hưng Yên, ảnh đẹp du lịch, móc treo chìa khoá; tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch Hưng Yên. Đón và hướng dẫn trên 1.000 khách về tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh: Khu di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến (đền Mẫu, đền Trần, Văn Miếu Xích Đằng, đình chùa Hiến, chùa Chuông), quần thể di tích làng Nôm; đền Đa Hoà, Chùa Keo, khu lăng mộ và đền thờ các vị vua Trần,… Lượng khách du lịch đến biển Cồn Vành ước đạt 98.900 lượt. Tỉnh nâng cấp giao diện Cổng thông tin du lịch thông minh; cập nhật số hóa các khu, điểm du lịch, các di tích và các sản phẩm OCOP tiêu biểu trên địa bàn tỉnh; viết tin bài đăng trên Cổng du lịch; nâng cấp trang thông tin điện tử du lịch Hưng Yên: hungyentourism.com.vn; ứng dụng di động app mobile tuyên truyền du lịch Hưng Yên; xây dựng Bản đồ số du lịch tỉnh Hưng Yên.
3. Giáo dục, đào tạo
Chín tháng năm 2026, ngành giáo dục của tỉnh đã hoàn thành nhiệm vụ năm học 2025 - 2026 theo đúng kế hoạch và có hiệu quả. Kết quả Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Hưng Yên xếp thứ 9/34 tỉnh, thành phố về điểm trung bình các môn thi, tăng 02 bậc so với năm 2025; có 409 điểm 10, 01 học sinh thủ khoa toàn quốc khối A01 và 01 học sinh á khoa toàn quốc khối A00.
Đến ngày 31/8/2026, tỉnh Hưng Yên đã hoàn thành việc thực hiện nhiệm vụ sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên công lập phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp, 100% số xã, phường đã hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở giáo dục và bố trí cán bộ quản lý, nhân sự hỗ trợ giáo dục tại các cơ sở giáo dục mới thành lập, giảm 61,9% (từ 1.159 xuống 441) đầu mối cơ sở giáo dục toàn tỉnh. Đồng thời, hoàn thành hợp nhất 15 Trung tâm GDNN-GDTX thành 07 Trung tâm GDNN-GDTX. Sau sắp xếp, cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh cơ bản bảo đảm yêu cầu tinh gọn đầu mối, tập trung nguồn lực. Hiện tại, cơ sở giáo dục công lập trên địa bàn tỉnh có: 133 trường mầm non, 133 trường tiểu học, 111 trường THCS, 54 trường THPT, 10 Trung tâm GDNN-GDTX.
Ngày 05/9/2026, cùng với các cơ sở giáo dục trên cả nước, toàn bộ các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh tổ chức lễ khai giảng năm học 2026 - 2027. Trước thềm năm học mới, các cơ sở giáo dục trên địa bàn tỉnh đã chủ động tu bổ, sửa chữa, nâng cấp cơ sở vật chất trường, lớp học, trong đó tập trung các hạng mục công trình như phòng học, thư viện, bếp ăn, nhà vệ sinh, công trình nước sạch,... huy động các nguồn lực sửa chữa, bổ sung trang thiết bị dạy học, đồ dùng, đồ chơi, bảo đảm khuôn viên, cảnh quan môi trường sư phạm xanh, sạch, đẹp, an toàn, thân thiện. Tổng số biên chế được tạm giao năm học 2026 - 2027 toàn tỉnh:
42.169 biên chế, trong đó: Cán bộ quản lý: 3.165, Giáo viên: 36.899, Nhân viên:
2.105. Tổng số người làm việc hiện có mặt: 38.061 người, trong đó: Cán bộ quản lý: 2.978 người, Giáo viên: 33.147 người, Nhân viên: 1.936 người.
4. Hoạt động y tế
Tình hình bệnh truyền nhiễm: Chín tháng năm 2026, toàn tỉnh không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Cụ thể như sau:
- Bệnh tay chân miệng: Không ghi nhận chùm ca bệnh, ổ dịch nguy hiểm.
Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 1.567 ca.
- Bệnh sởi: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 82 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định.
- Bệnh sốt xuất huyết Dengue: Các hoạt động giám sát, xử lý ổ dịch và phòng, chống véc tơ nhằm kiểm soát nguồn lây, hạn chế sự lan rộng của dịch bệnh và giảm số ca mắc trong những tuần tiếp theo được thực hiện theo quy định. Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 287 ca.
- Ho gà: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 16 ca.
- Bệnh COVID-19: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 422 ca, toàn tỉnh duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo qui định.
- Hội chứng cúm: Chủ yếu các chủng gây bệnh là cúm A, cúm B thông thường. Không phát hiện các trường hợp mắc cúm nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch... được duy trì.
- Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh.
Phòng chống HIV/AIDS: Quý III năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 17 ca nhiễm HIV mới (số người còn sống là 3.583), có 08 người nhiễm HIV/AIDS tử vong (lũy tích 2.925 người). Quản lý và điều trị ARV cho 2.307 bệnh nhân tại 11
phòng khám trên địa bàn tỉnh. Tư vấn và kê đơn mua thuốc điều trị dự phòng cho 04 người bị phơi nhiễm với HIV. Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/9/2026 là: 1.431 người; trong đó cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên điạ bàn phía Nam của tỉnh là 993 bệnh nhân, phía Bắc của tỉnh là 438.
Hoạt động tiêm chủng: Cung ứng đầy đủ và kịp thời các loại vắc xin và vật tư đảm bảo an toàn, không xảy ra tai biến trong và sau tiêm chủng. Duy trì tiêm chủng thường xuyên cho các đối tượng trong toàn tỉnh từ ngày 25 đến ngày 30 hàng tháng; ước tính đạt tỷ lệ theo kế hoạch đề ra.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Ngành chuyên môn tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng về an toàn thực phẩm, tập trung nhiều trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ và lễ hội xuân 2026; Tháng hành động vì an toàn thực phẩm (từ ngày 15/4 - 15/5/2026) và dịp Tết Trung thu năm 2026. Từ đầu năm đến nay, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ nghi ngộ độc thực phẩm.
5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ
Trong tháng Chín (từ ngày 24/8/2026 - 23/9/2026), toàn tỉnh phát hiện 31 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 31 vụ với số tiền xử phạt 195 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 15 vụ, tương ứng tăng 93,75%; số vụ đã xử lý tăng 15 vụ, tăng 93,75%; số tiền xử phạt giảm 617 triệu đồng, giảm 34,97%. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 22 vụ, tăng 244,44%; số vụ đã xử lý tăng 25 vụ, tăng 416,67%; số tiền xử phạt giảm 105 triệu đồng, giảm 34,97%. Lũy kế chín tháng năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 115 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 127 vụ với số tiền xử phạt 4.886 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 22 vụ, tương ứng giảm 16,06%; số vụ đã xử lý tăng 36 vụ, tăng 39,56%; số tiền xử phạt giảm 482 triệu đồng, giảm 8,98%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là đổ rác thải, xả thải không đúng quy định, với mức xử phạt hành chính tương đối thấp.
Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/8/2026 đến ngày 14/9/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 01 vụ cháy (xã Như Quỳnh); không xảy ra vụ nổ; khiến 01 người chết; không có người bị thương; không có giá trị thiệt hại về tài sản. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy, nổ giảm 01 vụ; số người chết tăng 01 người; số người bị thương giảm 01 người. Chín tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 33 vụ cháy, nổ; làm chết 02 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản 4.221,5 triệu đồng.
6. An toàn giao thông
Từ ngày 15/8/2026 đến ngày 14/9/2026, toàn tỉnh xảy ra 30 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 20 người, làm bị thương 15 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 18 vụ, giảm 37,50%; số người chết giảm 03 người, giảm 13,04%; số người bị thương giảm 24 người, giảm 61,54%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 21 vụ, giảm 41,18%; số người chết giảm 11 người, giảm
35,48%; số người bị thương giảm 24 người, giảm 61,54%. Lũy kế chín tháng năm 2026 (từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/9/2026), toàn tỉnh xảy ra 341 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 338 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ), làm chết 230 người (đường bộ 229 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 184 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 85 vụ, giảm 19,95%; số người chết giảm 20 người, giảm 8,0%; số người bị thương giảm 91 người, giảm 33,09%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.
Đánh giá chung: Chín tháng năm 2026, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, hiệu quả và kịp thời, trong đó, xây dựng chi tiết kịch bản điều hành và triển khai thực hiện quyết liệt, kịp thời các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhờ đó kinh tế của tỉnh đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 2 con số và vượt kịch bản đề ra. Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của kinh tế duy trì đà tăng tích cực và hầu hết đạt và vượt kịch bản đề ra. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động, nhất là dịp lễ, Tết được thực hiện đúng, đủ, kịp thời; chất lượng giáo dục nâng cao và y tế bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định.
IV. KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Khó khăn, hạn chế
Tăng trưởng ngành xây dựng chưa đạt kịch bản đề ra. Thực hiện một số nhiệm vụ đã có chỉ đạo, tiến độ triển khai một số dự án đầu tư công và công tác tác giải phóng mặt bằng ở một số xã, phường vẫn còn chậm; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tạm ngừng kinh doanh, giải thể) còn khá cao.
Việc xử lý đối với một số dự án tồn tại được chỉ đạo triển khai quyết liệt nhưng chưa dứt điểm. Việc xử lý tài sản công, trụ sở dôi dư sau sắp xếp còn gặp khó khăn do vướng mắc về quy hoạch, chuyển đổi công năng và thủ tục pháp lý. Công tác quản lý đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… ở một số địa phương còn hạn chế, vi phạm vẫn còn tiếp diễn và chưa xử lý dứt điểm.
Cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, chuyển đổi số tại một số cơ quan, đơn vị chưa có sự chuyển biến rõ nét. Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở một số địa bàn còn thấp. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Quá trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế.
2. Nguyên nhân
Bên cạnh các nguyên nhân khách quan (tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là xung đột quân sự tại Trung Đông ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; thị trường tài chính, bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; giá nguyên liệu đầu vào (xăng, dầu…) tăng cao; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn bất cập, thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung,...), một số nguyên nhân chủ quan vẫn chưa được khắc phục triệt để, cụ thể:
- Việc lãnh đạo, chỉ đạo của một số cơ quan, đơn vị thiếu quyết liệt, sâu sát; chưa linh hoạt, sáng tạo trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tính chủ động, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhất là những vấn đề khó, phức tạp còn hạn chế. Công tác dự báo, nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ của một số đơn vị chưa thực sự chủ động, kịp thời tham mưu giải quyết các vấn đề phát sinh.
- Một số chủ đầu tư còn thiếu chủ động, chưa linh hoạt trong triển khai các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Một số dự án còn khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư; nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công; năng lực của một số nhà thầu còn hạn chế.
- Ý thức chấp hành quy định về đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… của một số người dân chưa cao. Nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính đôi lúc chưa thống nhất. Năng lực, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu.
V. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM QUÝ IV NĂM 2026
Nắm bắt, tháo gỡ kịp thời các khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, sớm đưa các dự án vào khai thác, tạo năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp; đẩy nhanh tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư, triển khai các dự án công nghiệp, nhất là dự án có quy mô lớn, quan trọng của tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước và Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của phía Bắc giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nhất là năng lượng sạch; nghiên cứu xây dựng Đề án xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm năng lượng vùng đồng bằng sông Hồng. Đẩy nhanh hoàn thiện Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên. Rà soát xây dựng phương án điều chỉnh ranh giới, điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế, Kế hoạch phát triển khu kinh tế 5 năm giai đoạn 2026-2030, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế giai đoạn 2026-2030.
Khẩn trương rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, bảo đảm tính đồng bộ, chất lượng và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy nhanh tiến độ lập, phủ kín quy hoạch chung, quy hoạch phân khu các đô thị, quy hoạch chung đô thị, nông thôn, làm cơ sở để thu hút, mời gọi đầu tư các dự án theo quy định. Tổ chức lập Đề án xây dựng tỉnh trở thành đô thị loại I đến năm 2035 và thành phố trực thuộc Trung ương, thông minh, sinh thái đến năm 2045 và Kế hoạch phát triển các khu đô thị trung tâm của tỉnh. Theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án, công trình xây dựng trên địa bàn; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác quy hoạch, đầu tư, quản lý xây dựng, vật liệu xây dựng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng, chất lượng công trình và trật tự xây dựng.
Rà soát, lập danh mục chi tiết dự án đầu tư công theo từng địa phương, từng chủ đầu tư, đặc biệt là các dự án, công trình trọng điểm; lập đường găng tiến độ giải ngân cụ thể, khả thi, sát thực tiễn, phấn đấu đạt và vượt mức giải ngân trung bình của cả nước, tạo bứt phá rõ nét về tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ngay trong Quý II/2026. Nghiên cứu triển khai phương án chấm điểm KPI việc thực hiện giải ngân vốn đầu tư công của các cơ quan, đơn vị, địa phương làm cơ sở để công khai, đánh giá kết quả giải ngân vốn đầu tư công của các đơn vị. Tiếp tục hoàn thiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 sau khi Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn cho tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, kiên quyết không để chậm tiến độ triển khai dự án đầu tư công do thiếu mặt bằng; đẩy nhanh tiến độ lập chủ trương đầu tư các dự án kết nối, tiến độ thi công các công trình, dự án, nhất là hạ tầng giao thông trọng điểm của tỉnh, có tính chất liên kết, kết nối vùng và hạ tầng kinh tế - xã hội khác.
Đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác khuyến công, khuyến thương và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, kết nối cung cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối và tiêu dùng; phát triển mạnh thương mại điện tử. Thực hiện hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tiếp tục thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Tận dụng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), phát triển các thị trường xuất khẩu mới, mở rộng các thị trường xuất khẩu truyền thống.
Tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực, từng bước xây dựng thương hiệu riêng của tỉnh đối với các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế như cây ăn quả, lúa chất lượng cao, thủy, hải sản. Xây dựng Đề án phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và Dự án cải tạo, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm cây ăn quả đặc sản, chủ lực tỉnh Hưng Yên theo hướng bền vững phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030. Thực hiện
đạt kết quả cao Kế hoạch sản xuất trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị kinh tế cao; thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Hoàn thành Đề án phát triển nuôi trồng thủy hải sản đặc sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Duy trì tốt công tác quản lý, phát triển và bảo vệ rừng.
Tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh. Chủ động hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương trong công tác quản lý đất đai, công tác giải phóng mặt bằng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng, hành lang giao thông, thủy lợi, đê điều; kiên quyết ngăn chặn, xử lý tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích.
Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác thu ngân sách; rà soát đầy đủ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá và gian lận thuế bám sát các Bộ ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu, nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích nguồn thu; quản lý hiệu quả các nguồn thu phát sinh từ các giao dịch thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh qua mạng. Điều hành, quản lý chi ngân sách trong phạm vi dự toán được giao. Tăng cường quản lý chặt chẽ chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi đầu tư công, bảo đảm phân bổ và sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng quy định, tránh dàn trải, thất thoát, lãng phí. Nghiên cứu tham mưu cấp có thẩm quyền đảm bảo bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Tăng cường thu hút đầu tư; tập trung xúc tiến, thu hút các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có quy mô lớn, công nghệ cao, bảo vệ môi trường; cam kết đồng hành với nhà đầu tư, lắng nghe và trân trọng ý kiến đóng góp, tạo sự gắn kết và tin tưởng; kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư, cắt giảm thủ tục hành chính để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Tập trung đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân sách, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, phát triển đô thị và kinh tế đô thị; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đẩy mạnh triển khai chuyển đổi số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin tại cơ quan, đơn vị, đặc biệt là Trung tâm phục vụ Hành chính công các cấp. Hỗ trợ tích cực người dân, doanh nghiệp chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Ban hành Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn đến năm 2030, trong đó, cụ thể hóa theo từng năm để các cơ quan, đơn vị, địa phương bám sát, triển khai thực hiện.
Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn. Nâng
cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, bảo đảm kịp thời, chính xác, đa dạng, phong phú và hấp dẫn; thực hiện đúng quy định về xử lý tin giả theo quy định. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch tiêu biểu. Phê duyệt Đề án phát huy giá trị truyền thống văn hóa, con người trở thành động lực phát triển quan trọng của tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quan tâm, ưu tiên nguồn lực bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa, di tích lịch sử.
Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đảm bảo đủ thuốc, vật tư y tế chăm sóc và phục vụ Nhân dân. Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh (sốt xuất huyết, tay chân miệng...); đẩy mạnh phòng chống tác hại rượu bia, bệnh không lây nhiễm; triển khai các chương trình về dinh dưỡng, y tế trường học…
Chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức tổng kết năm học 2025-2026, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học mới 2026-2027; hướng dẫn và chuẩn bị công tác tuyển sinh vào các cơ sở giáo dục mầm non, lớp 1 và lớp 6 năm học 2026-2027; quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm ở các cấp học. Tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; bảo đảm công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục mầm non. Tổ chức triển khai Đề án phát triển các trường THPT chuyên thuộc tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đẩy mạnh phát triển giáo dục nghề nghiệp, hợp tác doanh nghiệp trong công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và giải quyết việc làm.
Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút, giữ chân lao động; triển khai các kế hoạch, chương trình về an toàn vệ sinh lao động, lao động - việc làm; tổ chức tập huấn, kiểm tra chuyên đề tại doanh nghiệp và hướng dẫn cơ sở, doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật về lao động - việc làm. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và quan tâm, chăm lo người nghèo, các đối tượng yếu thế. Tiếp tục phối hợp triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Tập trung triển khai quyết liệt, bài bản “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Rà soát các hộ nghèo, phân nhóm, đề xuất cơ chế chính sách và xây dựng kế hoạch giảm nghèo năm 2026 hướng tới mục tiêu đến hết năm 2026 tỉnh không còn hộ nghèo. Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; kiểm soát và giảm số lượng trẻ em bị xâm hại, tai nạn, thương tích, bạo lực học đường, đuối nước, tai nạn giao thông...;
Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự; đảm bảo phù hợp với năng lực thực tiễn của chính quyền cơ sở, giúp cơ sở chủ động trong công tác cán bộ. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp tổ
chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Rà soát tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm theo quy định. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, công vụ.
Tin khác