Tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 năm 2026
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
a) Nông nghiệp
Nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh trong tháng qua là các địa phương tập trung đẩy nhanh tiến độ gieo cấy lúa mùa; phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng và tăng cường bảo vệ an toàn trên đàn gia súc, gia cầm. Tình hình cụ thể như sau:
Trồng trọt
Cây hằng năm
Vụ mùa năm nay, toàn tỉnh có kế hoạch gieo cấy khoảng 96.000 ha lúa mùa, trong đó, diện tích lúa mùa trà sớm chiếm 10-15% diện tích. Tỷ lệ gieo cấy lúa chất lượng cao chiếm trên 50%, bằng các giống lúa: Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1,... còn lại là các giống lúa năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn như: Thiên Ưu 8, TBR225, TBR87,... Diện tích gieo sạ là 24.500 ha (đạt 25,5%), diện tích cấy máy khoảng 35.000 ha (đạt 36,5% diện tích gieo cấy). Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến ngày 20/7/2026, toàn tỉnh gieo cấy được 90.000 ha lúa mùa, đạt 93,75% kế hoạch. Diện tích chăm sóc lúa lần 1 đạt 70.000 ha, diện tích chăm sóc lúa lần 2 đạt 28.000 ha. Nông dân các địa phương tăng cường chăm sóc (bón phân, dặm, tỉa, làm cỏ, sục bùn,...) cho diện tích lúa đã gieo cấy xong, bảo đảm đủ nước để cây lúa sinh trưởng, phát triển tốt, đẻ nhánh tập trung. Song song với gieo cấy lúa mùa, nông dân các địa phương tiếp tục gieo trồng các cây rau màu khác. Đến thời điểm ngày 20/7/2026, tiến độ gieo trồng các loại cây rau màu như sau: cây ngô 2.366 ha; khoai lang 207,7 ha; đậu tương 196 ha; lạc 75,5 ha; rau các loại 9.406 ha.
Hoạt động tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh nhìn chung ổn định, một số mặt hàng có xu hướng tăng giá nhẹ so với cùng kỳ và tháng trước, góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất.
Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh Hưng Yên đến nay cơ bản ổn định. Tháng Bảy là thời điểm bắt đầu bước vào vụ thu hoạch nhãn, các địa phương trên địa bàn tỉnh đang tập trung thu hoạch nhãn chính vụ. Năm nay, sản lượng nhãn dự kiến giảm sâu so với năm trước do tỷ lệ đậu quả thấp.
Chăn nuôi
Tình hình chăn nuôi trong tháng trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định và phát triển, con giống tiếp tục được sản xuất tại các trang trại, hộ chăn nuôi, bảo đảm các điều kiện an toàn sinh học, phục vụ cho công tác tái đàn năm 2026. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được các cấp, các ngành quan tâm chỉ đạo. Trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh không ghi nhận các ổ dịch lớn trên đàn vật nuôi, không có trường hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được các ngành chức năng và địa phương triển khai thường xuyên, góp phần bảo đảm an toàn cho sản xuất chăn nuôi. Đến ngày 13/7/2026, các xã, phường trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành xong đợt tiêm phòng vắc xin vụ xuân hè từ nguồn vắc xin hỗ trợ của tỉnh.
Ước tính tại thời điểm 31/07/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.016 con, giảm 6,01%; đàn bò 73.610 con, giảm 10,19%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.060.224 con, tăng 0,96%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.155 nghìn con, giảm 0,45% (trong đó: đàn gà đạt 17.041 nghìn con, tăng 0,40%) so với cùng thời điểm năm trước.
b) Lâm nghiệp
Trong tháng, các xã ven biển có rừng tiếp tục quản lý, bảo vệ tốt diện tích rừng hiện có, tăng cường công tác phòng cháy, chữa cháy rừng ở các xã có rừng phi lao; đôn đốc nhà thầu thực hiện việc chăm sóc, bảo vệ rừng mới trồng thuộc dự án Phục hồi và phát triển rừng ven biển Thái Bình giai đoạn 2016 - 2020; thực hiện nghiêm túc công tác thường trực tiếp nhận các thông tin về phòng cháy, chữa cháy rừng. Thực hiện các nhiệm vụ Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và trí tuệ nhân tạo AI vào công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp. Kiểm kê rừng tỉnh Hưng Yên năm 2026. Tiếp tục thực hiện đề tài “Nghiên cứu khả năng thích nghi của cây Vẹt dù (Bruguiera gymnorrhiza), cây Giá (Excoecaria agallocha L) tại khu rừng ngập mặn bị suy thoái do lập địa thay đổi để phát triển rừng tại Thái Bình”. Thực hiện xây dựng “Ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và trí tuệ nhân tạo AI vào công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp tại tỉnh Hưng Yên”: Ban hành Quyết định phê duyệt Kế hoạch lựa chọn nhà thầu giai đoạn chuẩn bị đầu tư dự toán mua sắm: Thuê dịch vụ “Xây dựng hệ thống thông tin địa lý (GIS) và trí tuệ nhân tạo AI vào công tác quản lý, điều hành lĩnh vực lâm nghiệp tại tỉnh Hưng Yên”.
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Bảy ước đạt 435 m³, tăng 0,35%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 34 nghìn cây, tăng 0,44% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế bảy tháng năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 3.327 m³, tăng 0,27%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.235 nghìn cây, tăng 0,11% so với cùng kỳ năm trước.
c) Sản xuất thủy sản
Sản xuất thủy sản trong tháng Bảy tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh.
Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Bảy ước đạt 7.980 tấn, tăng 5,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.732 tấn, tăng 5,23%; tôm 234 tấn, tăng 5,06%; thủy sản khác 2.014 tấn, tăng 5,34%. Lũy kế bảy tháng năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển toàn tỉnh ước đạt 64.932 tấn, tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 40.942 tấn, tăng 3,25%; tôm 1.009 tấn, tăng 3,89%; thủy sản khác 22.981 tấn, tăng 3,51%.
Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Thời tiết trong tháng cơ bản thuận lợi, môi trường nước tương đối ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng, phát triển tốt. Người nuôi từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng con giống và quản lý chăm sóc, góp phần tăng năng suất và sản lượng.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Bảy ước đạt 22.412 tấn, tăng 5,60% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.620 tấn, tăng 5,51%; tôm 844 tấn, tăng 5,33%; thủy sản khác 12.948 tấn, tăng 5,67%. Cộng dồn bảy tháng năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 137.134 tấn, tăng 3,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 59.137 tấn, tăng 3,89%; tôm 2.250 tấn, tăng 4,15%; thủy sản khác 75.747 tấn, tăng 3,98%.
2. Sản xuất công nghiệp
a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Bảy tăng 0,56%, trong đó: khai khoáng giảm 0,6%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,27%; sản xuất và phân phối điện giảm 7,64%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 3,09%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 30,17%; mạch in khác tăng 21,22%; Nitơrat Amoni tăng 19,90%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 16,74%; thức ăn cho gia cầm tăng 13,65%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 13,26%; mạch điện tử tích hợp tăng 6,09%; khí tự nhiên dạng khí tăng 6,06%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 5,43%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 10,99%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 15,27%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 5,53%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 21,91%; nước khoáng không có ga giảm 11,70%; điện sản xuất giảm 10,85%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 8,48%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 1,22%; quần áo các loại giảm 0,21%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 18,28%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 2,0%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Bảy tăng 16,50%, trong đó: khai khoáng giảm 9,57%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,19%; sản xuất và phân phối điện tăng 17,72%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,12%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 223,88%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 91,78%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,…) tăng 73,11%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 63,03%; mạch điện tử tích hợp tăng 51,95%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 51,23%; mạch in khác tăng 35,65%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 33,70%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 23,80%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 23,76%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 54,25%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 10,68%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 9,64%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 30,44%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 21,12%; dây thép không gỉ giảm 19,03%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) giảm 7,68%; nitơrat Amoni giảm 7,55%; tôm đông lạnh giảm 3,85%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 2,51%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 2,40%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 1,36%;...
Chỉ số sản xuất công nghiệp
Tháng Bảy và bảy tháng năm 2026 (%)
T7.2026
7T.2026
T7.2025
7T.2025
Chung toàn ngành CN
Khai khoáng
116,50
90,43
115,41
102,03
Công nghiệp chế biến, chế tạo
116,19
116,05
SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng
117,72
108,74
Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải
122,12
115,86
Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 205,03%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 33,70%; CN Công ty Cổ phần Daikin tăng 26,2%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 7,69%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 90,27%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 25,48%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 78,62% %; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Hương Linh tăng 11,43%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 19,6%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 36,06%; Công ty Cổ phần Bảo Hưng tăng 45,74%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 36,14%; CN Công ty May 10 tăng 13,7%; Công ty TNHH TAV tăng 13,39%; Công ty TNHH MXP tăng 61,06%; Công ty May Xuất khẩu Việt Thái tăng 21,23%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 18,75%; Công ty TNHH PS Vina tăng 10,10%; Công ty Cổ phần May Hà Thành tăng 336,05%; Công ty TNHH May mặc V.J.ONE tăng 44,34%; Công ty Cổ phần Đô Lương tăng 114,84%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 30,14%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 4,65%; Công ty Thép không gỉ Hà Anh tăng 34,21%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 12,51%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 150,51%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 10,68%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 11,32%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 22,03%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 20,76%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 2,24%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 6,95%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 27,06%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 20,03%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 14,94%; Công ty TNHH TAEYANG Việt Nam tăng 9,09%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam tăng 33,59%; Công ty Tôn Vikor tăng 219,38%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 233,19%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 2,26%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 36,78%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 6,68%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 35,51%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 10,83%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 25,10%; Công ty TNHH Neo – Neon Việt Nam tăng 2,29%; Công ty TNHH Chung Phát tăng 11,17%; Công ty Cổ phần Kopac tăng 9,45%; DNTN bao bì Minh Dũng tăng 18,26%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 23,93%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 41,46%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 6,06%;...
Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Bảy giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 4,95%; CN Công ty Cổ phần Giày Thăng Long giảm 24,46%; Công ty TNHH Da giày Xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,6%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 66,36%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 14,67%; Công ty Cổ phần Khu công nghiệp TBS Sông Trà giảm 18,14%;...
Tính chung bảy tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,41% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó:
Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 2,03%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 5,43%; khai khoáng khác tăng 2,03%.
Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,05%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 83,44%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 43,30%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 31,53%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 29,96%; sản xuất trang phục tăng 23,15%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 23,12%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 22,36%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,25%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,46%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 20,89%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,66%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,43%; dệt tăng 3,07%; ……
Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong bảy tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 103,53%; mạch điện tử tích hợp tăng 43,05%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 31,12%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 29,48%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 61,97%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 23,25%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 21,20%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 20,68%; mạch in khác tăng 17,14%; quần áo các loại tăng 16,52%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 15,81%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 14,86%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 12,50%;.... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,64%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 21,08%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,34%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 2,78%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 1,24%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 0,25%;....
Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Ước chỉ số sản xuất ngành sản xuất và phân phối điện bảy tháng năm 2026 tăng 17,72% so với cùng kỳ do khí hậu năm nay chịu ảnh hưởng của El Nino gây nắng nóng kéo dài, nhiệt độ duy trì ở mức cao trong nhiều ngày khiến nhu cầu sử dụng điện cho điều hòa, quạt, hệ thống làm mát tại các hộ gia đình, cơ quan và cơ sở dịch vụ tăng mạnh. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành điện tử, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng tăng công suất để đáp ứng các đơn hàng quý III và cuối năm, kéo theo sản lượng điện tiêu thụ của khu vực công nghiệp tăng. Đồng thời, trên địa bàn Hưng Yên, các khu công nghiệp như: Thăng Long II, Phố Nối A, Phố Nối B, Yên Mỹ II,... tiếp tục mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp đi vào hoạt động hoặc tăng quy mô sản xuất, làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng Bảy, sản lượng điện sản xuất ước đạt 7.094 triệu Kwh, tăng 7,63%; sản lượng điện thương phẩm ước đạt 6.988 triệu Kwh, tăng 15,52% so với cùng kỳ năm 2025.
Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải bảy tháng năm 2026 tăng 22,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,53%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 0,70%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 16,80%.
b) Chỉ số sử dụng lao động
Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Bảy toàn ngành tăng 4,51% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 1,51%, cộng dồn bảy tháng tăng 4,17% so với cùng kỳ. Mức tăng này cho thấy nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vẫn ở mức cao, nhất là tại các doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, mở rộng quy mô sản xuất hoặc đưa thêm dây chuyền vào hoạt động. Lao động tăng chủ yếu tập trung ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện, cơ khí chế tạo, sản phẩm kim loại, thực phẩm và đồ uống, may mặc... Đây là những ngành có nhiều đơn hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp như : KCN Thăng Long II; KCN Phố Nối A; KCN Phố Nối B; KCN Yên Mỹ II; KCN Minh Đức,... tiếp tục tuyển dụng lao động để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong quý III và chuẩn bị cho mùa sản xuất cuối năm. Việc các dự án đầu tư mới đi vào hoạt động, cùng với quá trình mở rộng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất của một số doanh nghiệp FDI cũng góp phần làm gia tăng nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm hoặc tăng chậm do sản lượng sản xuất chưa phục hồi hoàn toàn, đơn hàng giảm hoặc doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa các công đoạn sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí nhân công. Một số doanh nghiệp cũng có xu hướng sử dụng lao động có trình độ, tay nghề cao thay thế lao động phổ thông, dẫn đến số lượng lao động giảm nhưng hiệu quả sản xuất vẫn được duy trì.
Bảy tháng năm 2026, các ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 39,49%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,37%; sản xuất đồ uống tăng 18,91%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 18,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 18,62%;... Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,35%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,81%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,52%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,16%; dệt giảm 4,09%;...
3. Hoạt động đầu tư
a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Năm 2026, tỉnh Hưng Yên được Thủ tướng Chính phủ giao vốn (sau khi trừ tiết kiệm 5% vốn ngân sách địa phương) là 41,1 nghìn tỷ đồng. 6 tháng đầu năm, tỉnh Hưng Yên đã triển khai quyết liệt các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tỉnh ủy và UBND tỉnh về đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; xác định đây là một trong những nhiệm vụ chính trị trọng tâm của năm 2026. Đến hết ngày 30/6, toàn tỉnh đã giải ngân được 16,6 nghìn tỷ đồng, đạt 40,3% so với kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao, thuộc nhóm 5 địa phương dẫn đầu cả nước về giải ngân vốn đầu tư công.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Bảy năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 3.726 tỷ đồng, tăng 28,66%, tương ứng tăng 830 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.728 tỷ đồng, tăng 50,52%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 997 tỷ đồng, giảm 7,91%. Tính chung bảy tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 19.950 tỷ đồng, tăng 16,77%, tương ứng tăng 2.865 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 41,05% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 13.515 tỷ đồng, tăng 42,02%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 6.434 tỷ đồng, giảm 14,99%.
b) Hoạt động đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 27/7/2026, toàn tỉnh có 1.002 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 18.772,79 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/7/2026, có 36 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 639,17 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 204 dự án, vốn đăng ký là 6.753,96 triệu USD, chiếm 35,98% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 386 dự án, vốn đăng ký 4.624,16 triệu USD, chiếm 24,63% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.328,83 triệu USD, chiếm 12,41% tổng vốn đăng ký.
c) Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/6/2026 đến ngày 21/7/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn tỉnh là 427 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.988 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 11.038 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 77 doanh nghiệp, sử dụng 1.418 lao động, vốn đăng ký 1.151 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 156 doanh nghiệp, sử dụng 600 lao động, vốn đăng ký 1.032 tỷ đồng; vận tải kho bãi 36 doanh nghiệp, sử dụng 114 lao động, vốn đăng ký 152 tỷ đồng; xây dựng 34 doanh nghiệp, sử dụng 179 lao động, vốn đăng ký 180 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 25 doanh nghiệp, sử dụng 254 lao động, vốn đăng ký 7.642 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 25 doanh nghiệp, sử dụng 137 lao động, vốn đăng ký 72 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 20 doanh nghiệp, sử dụng 76 lao động, vốn đăng ký 173 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 13 doanh nghiệp, sử dụng 36 lao động, vốn đăng ký 14 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/7/2026, toàn tỉnh có 3.410 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 25.929 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 38.821 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.409 doanh nghiệp, sử dụng 5.441 lao động, vốn đăng ký đạt 5.507 tỷ đồng (chiếm 14,19% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 661 doanh nghiệp, sử dụng 13.942 lao động, vốn đăng ký đạt 7.197 tỷ đồng (chiếm 18,54%); xây dựng 315 doanh nghiệp, sử dụng 1.457 lao động, vốn đăng ký 1.885 tỷ đồng (chiếm 4,86%); hoạt động vận tải, kho bãi 266 doanh nghiệp, sử dụng 995 lao động, vốn đăng ký 1.247 tỷ đồng (chiếm 3,21%); giáo dục và đào tạo 66 doanh nghiệp, sử dụng 239 lao động, vốn đăng ký 108 tỷ đồng (chiếm 0,28%); kinh doanh bất động sản 128 doanh nghiệp, sử dụng 1.256 lao động, vốn đăng ký 19.196 tỷ đồng (chiếm 49,45%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 159 doanh nghiệp, sử dụng 736 lao động, vốn đăng ký 402 tỷ đồng (chiếm 1,04%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 118 doanh nghiệp, sử dụng 489 lao động, vốn đăng ký 492 tỷ đồng (chiếm 1,27%);...
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Bảy (tính từ ngày 22/6/2026 đến ngày 21/7/2026) toàn tỉnh là 76 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/7/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 557 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/6/2026 đến ngày 21/7/2026, số doanh nghiệp giải thể là 94 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 135 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/7/2026, toàn tỉnh có 574 doanh nghiệp giải thể và 1.458 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 113 doanh nghiệp giải thể và 355 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 19,69% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,35% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 203 doanh nghiệp giải thể và 504 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 35,37% và 34,57%; kinh doanh bất động sản có 34 doanh nghiệp giải thể và 32 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,92% và 2,19%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 25 doanh nghiệp giải thể và 62 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,36% và 4,25%; giáo dục và đào tạo có 62 doanh nghiệp giải thể và 29 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 10,80% và 1,99%;...
4. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bảy ước đạt 23.968 tỷ đồng, giảm 2,82% so với tháng trước và tăng 19,44% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn bảy tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 172.106 tỷ đồng, tăng 17,28% so cùng kỳ năm trước.
Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Bảy ước đạt 12.097 tỷ đồng, chiếm 50,47% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, giảm 0,02% so với tháng trước và tăng 20,36% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 22,87%; hàng may mặc tăng 19,58%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 19,22%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 109,77%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 23,42%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 65,86%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 12,65%; xăng, dầu các loại tăng 21,50%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 66,17%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 56,22%; dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăbg 1,47%. Riêng nhóm hàng hóa khác giảm 10,57%.
Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 86.101 tỷ đồng, tăng 18,09% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 23,52%; hàng may mặc tăng 18,60%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 11,68%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 59,72%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 8,07%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 30,92%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 2,59%; xăng dầu các loại tăng 21,13%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 41,14%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 34,07%; hàng hóa khác tăng 10,23%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 23,67%.
Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu tháng Bảy ước đạt 1.309 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 24,70% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 37 tỷ đồng, tăng 0,41% so với tháng trước và tăng 22,78% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.272 tỷ đồng, tăng 0,55% so với tháng trước và tăng 24,76% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động dịch vụ lưu trú, ăn uống trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân, khách du lịch và lực lượng lao động tại các khu công nghiệp ổn định. Đồng thời, trong thời gian nghỉ hè, các khu, điểm du lịch biển, du lịch sinh thái và du lịch văn hóa trên địa bàn tỉnh thu hút lượng khách tăng so với cùng kỳ năm trước. Một số doanh nghiệp chủ lực đạt kết quả kinh doanh tích cực trong tháng Bảy, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của toàn ngành, như: Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Quang Vinh có doanh thu tăng 72,0%; Công ty TNHH Xây dựng và Dịch vụ Khu công nghiệp Phố Nối có doanh thu tăng 31,0% so với cùng kỳ năm trước,...
Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 8.847 tỷ đồng, tăng 15,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 254 tỷ đồng, tăng 14,17%; dịch vụ ăn uống 8.593 tỷ đồng, tăng 15,47%.
Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Bảy ước đạt 14 tỷ đồng, tăng 11,18% so với tháng trước và tăng 16,97% so với cùng kỳ năm trước. Hoạt động du lịch lữ hành tiếp tục khởi sắc do tháng Bảy là thời điểm cao điểm của mùa du lịch hè, nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng và du lịch trải nghiệm của người dân tăng. Cùng với đó, các doanh nghiệp lữ hành đẩy mạnh khai thác các chương trình du lịch nội tỉnh và liên tỉnh, kết hợp với các điểm du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch văn hóa trên địa bàn và các địa phương lân cận, góp phần thúc đẩy doanh thu của ngành tăng so với tháng trước và cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 66 tỷ đồng, tăng 13,76% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ khác tháng Bảy ước đạt 10.548 tỷ đồng, giảm 6,25% so với tháng trước và tăng 17,79% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.289 tỷ đồng, giảm 7,27% so với tháng trước và tăng 18,54% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 493 tỷ đồng, tăng 2,47% so với tháng trước và tăng 12,85% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 129 tỷ đồng, tăng 5,60% so với tháng trước và tăng 13,20% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 257 tỷ đồng, tăng 4,12% so với tháng trước và tăng 13,77% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác ước đạt 298 tỷ đồng, giảm 3,44% so với tháng trước và tăng 10,07% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 77.092 tỷ đồng, tăng 16,61% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,34% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 17,15% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,58%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,85%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,02%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 14,93%; dịch vụ khác tăng 11,05%. Kết quả trên đã cho thấy thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 7 năm 2026 giảm nhẹ so với tháng trước, chủ yếu do chỉ số giá nhóm giao thông, nhóm giáo dục và nhóm hàng ăn, dịch vụ ăn uống giảm. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI vẫn duy trì mức tăng 4,46%; bình quân 7 tháng năm 2026 CPI tăng 4,27% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy giảm 0,21%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 06 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,53%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,20%; nhóm giao thông giảm 2,58%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,08%; nhóm giáo dục giảm 1,23%. Ngược lại, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,04%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,59%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,17%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,18%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,37%.
Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ
tháng Bảy và bảy tháng năm 2026 (%)
T7.2026
T6.2026
T7.2026
T7.2025
7T.2026
7T.2025
Chỉ số giá tiêu dùng chung
99,79
104,46
104,27
Chỉ số vàng
99,01
122,56
156,11
Chỉ số đô la Mỹ
99,86
100,03
102,11
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,53%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 2,89%, nguyên nhân là do nguồn cung lúa, gạo tăng sau thu hoạch, trong khi nhu cầu tiêu dùng ổn định, đồng thời chi phí vận chuyển không tăng góp phần làm giá nhóm lương thực giảm trong tháng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,16% do nhóm thịt gia súc giảm 1,22% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 1,47%; thịt bò giảm 0,64%; nội tạng động vật giảm 0,37%; thịt chế biển giảm 0,48%; thịt gia cầm giảm 0,38%; mỡ nội tạng giảm 0,29%) do nguồn cung lợn hơi tăng khi nhiều đàn lợn đến kỳ xuất chuồng sau thời gian tái đàn, trong khi nhu cầu tiêu dùng không có sự gia tăng tương ứng. Bên cạnh đó, giá lợn hơi giảm sau thời gian duy trì ở mức cao đã tác động làm giá thịt lợn bán lẻ giảm, qua đó góp phần làm giảm chỉ số giá nhóm thực phẩm.
Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 0,20%, chủ yếu do chỉ số giá nhóm nước khoáng có ga giảm 1,17%; chỉ số giá nhóm bia lon giảm 1,62%, do một số cơ sở kinh doanh, siêu thị thực hiện chương trình khuyến mại, giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,59%, phần lớn do: chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 6,55%; chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,07% do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt tăng; chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 1,81%, tăng ở mặt hàng công sơn tường và công lao động phổ thông.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,27% do một số mặt hàng thiết yếu như: máy hút bụi, ổn áp điện, đèn điện thắp sáng, máy đánh trứng, bàn là điện, bếp gas, nồi điện,... tăng giá. Nhu cầu mua sắm, thay thế thiết bị gia dụng phục vụ sinh hoạt tăng trong mùa hè. Bên cạnh đó, chi phí nguyên vật liệu, vận chuyển và phân phối ở mức tương đối cao cũng tác động đến giá bán một số mặt hàng. Tuy nhiên, do nguồn cung ổn định và sự cạnh tranh trên thị trường đã góp phần hạn chế mức tăng giá của nhóm này.
Nhóm giao thông giảm 2,58%, chủ yếu do giá nhiên liệu được điều chỉnh giảm theo diễn biến giá thế giới. Theo đó, giá nhiên liệu giảm 4,02%; giá xăng giảm 4,04%; giá dầu diezel giảm 9,12%. Chỉ số giá phương tiện đi lại giảm 1,36% do giá ô tô mới, ô tô đã qua sử dụng, xe máy và xe đạp giảm nhẹ.
Nhóm giáo dục giảm 1,23% do giá một số mặt hàng và dịch vụ giáo dục giảm theo quy định về mức thu và chính sách hỗ trợ học phí; giá sách giáo khoa giảm do việc sử dụng thống nhất một bộ sách giáo khoa trong cả nước từ năm học 2026 - 2027. Bên cạnh đó, tháng Bảy là thời điểm học sinh nghỉ hè, nhu cầu đối với một số hàng hóa, dịch vụ phục vụ học tập giảm, góp phần làm giảm chỉ số giá nhóm giáo dục.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,37%, nguyên nhân chính là do giá bảo hiểm y tế công chức và bảo hiểm y tế lao động tự do tăng theo nghị định 161/2026/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở và chế độ tiền thưởng đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang; giá về hỉ tăng 0,51%; giá về hiếu tăng 0,18%; và giá một số loại đồ dùng cá nhân tăng 1,25%.
So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 3,37%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục giảm 0,97%, các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,24%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,52%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,16%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,77%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,82%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,48%; giao thông tăng 3,31%; thông tin và truyền thông tăng 1,03%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,69%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Bảy tăng 4,46%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,75% (lương thực tăng 3,18%; thực phẩm tăng 6,25%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,68%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,42%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,51%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 6,24%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,94%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,43%; giao thông tăng 2,43%; thông tin và truyền thông tăng 1,13%; giáo dục tăng 0,16%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,80%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,17%.
Bình quân chung bảy tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,27% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,42%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,27%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,47%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,12%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,01%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,29%; giao thông tăng 4,34%; thông tin và truyền thông tăng 0,97%; giáo dục tăng 1,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,29%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,67%.
Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân bảy tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,42% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,75% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,35% do giá nguyên liệu thực phẩm tăng làm chi phí chế biến cao hơn, bên cạnh đó chi phí vận hành như thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng điện, nước, nhiên liệu, vận chuyển tăng khiến giá dịch vụ ăn uống tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 6,12% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, bảo trì, hoàn thiện nhà cửa tăng; đồng thời giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với cùng kỳ năm trước. (3) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 5,09% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa hè, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (4) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,27% do giá dầu tăng, kéo theo chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất tăng, dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,34%, chủ yếu do giá nhiên liệu, đặc biệt là giá xăng, dầu tăng so với cùng kỳ; đồng thời chi phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện và giá một số dịch vụ vận tải tăng do chi phí đầu vào tăng. Nhu cầu đi lại và hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch phục hồi góp phần làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ vận tải. (6) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 4,29% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí tăng, nhất là trong các dịp nghỉ lễ và mùa du lịch; đồng thời giá một số dịch vụ lưu trú, tham quan, giải trí và lữ hành tăng so với cùng kỳ, góp phần làm tăng chỉ số giá của nhóm này.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 7/2026 giảm 0,99% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 7/2026, giá vàng xấp xỉ 14.858.000 VNĐ/chỉ.
Chỉ số giá đô la Mỹ (USD) trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 7/2026 giảm 0,14% so với tháng trước, chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường trong nước có xu hướng giảm, trong bối cảnh diễn biến của đồng đô la Mỹ trên thị trường quốc tế và chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn có nhiều biến động. Bên cạnh đó, nguồn cung ngoại tệ trong nước được cải thiện, góp phần giảm áp lực lên tỷ giá và làm giá đô la Mỹ giảm so với tháng trước. Tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.283 VNĐ.
c) Chỉ số giá sản xuất
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Bảy tăng 0,22%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,10%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 1,70%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,83%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 0,23%; mía cây tươi tăng 0,85%; dưa chuột tăng 2,39%; cà chua tăng 2,45%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 0,29%; sản phẩm cây gia vị hàng năm còn lại tăng 1,57%; nhãn tăng 10,99%; vải tăng 5,22%; quýt tăng 1,16%; ổi tăng 0,91%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 0,44%; cá ngừ thường tăng 1,36%; cá thu tăng 3,50%; cá nục tăng 6,00%; tôm khai thác biển tăng 2,11%; mực ống tăng 1,87%; cá nuôi biển tăng 1,03%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 0,16%; rau lấy lá giảm 0,33%; dưa lấy quả giảm 0,91%; rau họ đậu giảm 0,28%; đậu/đỗ hạt khô các loại giảm 0,37%; hoa các loại giảm 0,45%; chuối giảm 1,69%; mít giảm 3,38%; chanh thường giảm 1,34%; lợn giảm 0,28%; gà giảm 0,27%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 1,70%; tôm nuôi biển còn lại giảm 5,36%; tôm nuôi nội địa giảm 0,39%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa giảm 0,38%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Bảy năm 2026 tăng 4,09%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 3,22%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 17,27%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 8,51%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,53%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 5,50%; mía cây tươi tăng 7,43%; thuốc lá, thuốc lào tăng 4,68%; đậu tương tăng 7,28%; rau lấy lá tăng 7,42%; dưa lấy quả tăng 11,84%; rau họ đậu tăng 5,18%; rau lấy quả 14,65%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 6,01%; nấm trồng các loại tăng 9,72%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 6,38%; hoa hồng tăng 7,39%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 15,83%; xoài tăng 14,42%; ổi tăng 16,10%; chanh thường tăng 22,88%; vải tăng 29,32%; sản phẩm cây chè tăng 9,38%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,54%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 6,76%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 17,27%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 15,53%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng nội địa tăng 6,14%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: sắn/mỳ tươi giảm 0,19%; quả na giảm 2,49%; quýt giảm 1,04%; táo giảm 2,12%; nhãn giảm 3,02%; lợn giảm 0,91%;...
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Bảy năm 2026 tăng 0,67%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,72%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 1,04%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,31%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 3,45%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,08%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 7,14%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,89%; sản phẩm may trang phục tăng 3,59%; giày dép tăng 1,96%; hóa chất cơ bản tăng 1,50%; thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 1,21%; sản phẩm từ plastic tăng 1,10%; đá đã được cắt, tạo dáng và hoàn thiện tăng 1,48%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 2,93%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 1,71%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 1,91%; thiết bị nâng, hạ và bốc xếp tăng 1,50%; máy cho ngành dệt, may và da tăng 3,92%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,42%; mô tô, xe máy tăng 1,02%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải tăng 0,92%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại tăng 1,28%; dịch vụ tái chế phế liệu, vật liệu thứ cấp tăng 1,49%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 1,27%; dịch vụ liên quan đến in giảm 1,15%; máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính giảm 18,33%; pin và ắc quy giảm 5,84%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 3,02%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 1,17%; điện sản xuất giảm 1,11%; điện mặt trời giảm 1,76%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 2,30%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Bảy năm 2026 tăng 4,28%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,42%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,91%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 2,41%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,71%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 7,51%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 17,00%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 7,93%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 5,23%; sản phẩm may trang phục tăng 6,17%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,43%; dịch vụ liên quan đến in tăng 8,16%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,89%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 14,17%; sản phẩm vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 5,51%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 12,55%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 33,11%; cấu kiện kim loại tăng 5,32%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 43,94%; máy khai thác mỏ và xây dựng tăng 5,26%; mô tô, xe máy tăng 10,53%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,31%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,38%; điện sản xuất tăng 8,56%; điện mặt trời tăng 5,25%; nước tự nhiên khai thác tăng 7,63%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 18,42%; vải dệt thoi giảm 5,55%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,57%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 2,32%; máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính giảm 2,19%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 3,02%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 11,66%; máy cho ngành dệt, may và da giảm 2,37%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,53%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,75%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 3,27%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,21%;...
6. Hoạt động vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Bảy ước đạt 2.471 tỷ đồng, tăng 0,31% so với tháng trước và tăng 16,99% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 17.032 tỷ đồng, tăng 17,50% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:
Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Bảy ước đạt 6 triệu lượt người vận chuyển và 562 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 1,33% về lượt người vận chuyển, tăng 1,13% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 14,94% về lượt người vận chuyển, tăng 14,93% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng 7 ước đạt 432 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 15,38% so cùng kỳ năm trước.
Tính chung bảy tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 41 triệu lượt người vận chuyển và 3.768 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,43% về lượt người vận chuyển và tăng 10,35% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách bảy tháng ước đạt 2.928 tỷ đồng, tăng 12,38% so cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Bảy ước đạt 7 triệu tấn vận chuyển và 1.763 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 0,86% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 0,32% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 12,05% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 6,74% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.808 tỷ đồng, giảm 0,11% so với tháng trước và tăng 17,28% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung bảy tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 46 triệu tấn vận chuyển và 12.435 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,06% về tấn hàng hóa vận chuyển và 13,28% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa bảy tháng ước đạt 12.567 tỷ đồng, tăng 19,78% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Bảy có doanh thu ước đạt 212 tỷ đồng, tăng 1,18% so với tháng trước và tăng 15,98% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.373 tỷ đồng, tăng 8,81% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Bảy ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 7,64% so với tháng trước và tăng 43,11% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bảy tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 163 tỷ đồng, tăng 20,85% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a) Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước tháng Bảy ước đạt 4.721 tỷ đồng, giảm 11,40% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 4.026 tỷ đồng, giảm 16,66%; thuế xuất nhập khẩu 695 tỷ đồng, tăng 39,65%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 59 tỷ đồng, giảm 29,48%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 555 tỷ đồng, tăng 13,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.306 tỷ đồng, giảm 39,26%; thu thuế thu nhập cá nhân 300 tỷ đồng, tăng 4,37%; các khoản thu về đất 1.560 tỷ đồng, giảm 42,97%;...
Tính chung bảy tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 45.944 tỷ đồng, giảm 25,39% so với cùng kỳ năm trước và đạt 54,53% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 41.777 tỷ đồng, giảm 27,91%; thuế xuất nhập khẩu 4.167 tỷ đồng, tăng 14,92%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 782 tỷ đồng, tăng 9,03%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.337 tỷ đồng, tăng 22,50%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 17.605 tỷ đồng, tăng 28,12%; thu lệ phí trước bạ 1.030 tỷ đồng, tăng 7,96%; thuế thu nhập cá nhân 2.098 tỷ đồng, giảm 8,30%; các khoản thu về đất 15.666 tỷ đồng, giảm 56,39%.
b) Chi ngân sách nhà nước địa phương
Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Bảy ước đạt 4.610 tỷ đồng, tăng 2.379,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.792 tỷ đồng, tăng 1.489,96%; chi thường xuyên 2.818 tỷ đồng, tăng 3.748,77%. Nguyên nhân chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Bảy năm nay tăng rất mạnh so với cùng kỳ năm trước là do từ 01/7/2025, hợp nhất tỉnh Hưng Yên và tỉnh Thái Bình, lấy tên là tỉnh Hưng Yên; không tổ chức cấp huyện; sáp nhập cấp xã và xây dựng chính quyền địa phương hai cấp (cấp tỉnh, cấp xã) theo Nghị quyết số 60-NQ/TW ngày 12/4/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII. Sau ngày 01/7/2025, các đơn vị thuộc hệ thống chính trị tiếp tục hoàn thiện nên chưa thực hiện chi nhiều.
Tính chung bảy tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 45.127 tỷ đồng, tăng 10,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 28.813 tỷ đồng, tăng 10,69%; chi thường xuyên 16.314 tỷ đồng, tăng 10,67%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 6.090 tỷ đồng, tăng 8,17%; chi sự nghiệp y tế 1.556 tỷ đồng, tăng 18,89%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 180 tỷ đồng, giảm 29,76%; chi đảm bảo xã hội 3.882 tỷ đồng, tăng 135,84%; chi quản lý hành chính 2.899 tỷ đồng, giảm 25,03%.
c) Hoạt động ngân hàng
Ước tính đến 31/7/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 335.000 tỷ đồng, tăng 8,30% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 330.000 tỷ đồng, tăng 7,41% và chiếm 98,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 5.000 tỷ đồng, tăng 139,46% và chiếm 1,49%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/7/2026 đạt 285.000 tỷ đồng, tăng 7,58% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 199.400 tỷ đồng, tăng 3,99%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 85.600 tỷ đồng, tăng 17,0%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 274.500 tỷ đồng, tăng 6,17%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 10.500 tỷ đồng, tăng 64,71%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 182.140 tỷ đồng, tăng 4,90% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 118.500 tỷ đồng, tăng 3,65%; xuất khẩu 1.715 tỷ đồng, tăng 5,86%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 56.500 tỷ đồng, tăng 7,94%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/7/2026 ước tính là 1.700 tỷ đồng (chiếm 0,60% dư nợ tín dụng), giảm 9,72% so với với thời điểm 31/12/2025.
d) Bảo hiểm xã hội
Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 6 năm 2026 là 667.969 người, tăng 74.965 người, tương ứng tăng 12,6% so với cùng kỳ năm trước; tăng 30.638 người, tương ứng tăng 4,8% so với năm 2025, đạt 97,1% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 103,9% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 6/2026. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 51,21% so với lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó: số người tham gia BHXH bắt buộc 578.790 người, tăng 64.372 người (tăng 12,5%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 32.494 người (tăng 5,9%) so với năm 2025; số người tham gia BHXH tự nguyện 89.179 người (bao gồm 9.521 người bảo lưu năm 2025), tăng 10.593 người (tăng 13,5%) so với tháng trước, giảm 1.856 người (giảm 2%) so với năm 2025.
Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 30/6/2026 là 555.640 người, tăng 60.785 người (tăng 12,3%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 27.376 người (tăng 5,2%) so với năm 2025. Số người tham gia BHYT là 2.956.904 người (bao gồm 126.652 người bảo lưu năm 2025), tăng 157.337 người (tăng 5,6%) so với cùng kỳ năm trước, tăng 33.338 người (tăng 1,1%) so với năm 2025.
Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 6/2026 là 8.562,7 tỷ đồng, tăng 771 tỷ đồng (tăng 9,9%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 48,4% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 6/2026 đạt 1.044,6 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 6/2026, chi BHXH 6.044,1 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.673,8 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 4.370,3 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 6/2026 là 153,6 tỷ đồng.
Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 6/2026 là 342,9 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 6/2026, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 1.849,2 tỷ đồng, tăng 6,92% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 727,3 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.121,9 tỷ đồng.
II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Lao động việc làm và an sinh xã hội
Lao động việc làm: Trong tháng Bảy, tổng số lao động được giải quyết việc làm 5.200 người, trong đó xuất khẩu lao động là 720 người. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 1.360 người; tư vấn giới 2 thiệu việc làm cho 4.100 người. Xác nhận việc gửi bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 166 lao động; tiếp tục tiến hành điều tra 17 vụ tai nạn lao động. Tính chung bảy tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 36.120 người (đạt 60,2% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 4.040 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 6.530 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 20.000 người.
Toàn tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lực lượng lao động và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như: tổ chức Hội nghị kết nối, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp năm 2026; ký kết với tỉnh Lào Cai và Lai Châu bản ghi nhớ hợp tác về việc phối hợp cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; tổ chức “Ngày hội tư vấn, định hướng nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động năm 2026”. Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 5.000 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 3.270 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 1.055 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 246 lượt doanh nghiệp. Tiếp nhận 615 lượt doanh nghiệp khai báo sử dụng 4.129 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 42 lượt doanh nghiệp với 12.727 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 77 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.
Công tác Người có công: Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Sở Nội vụ tiếp tục phối hợp với các địa phương rà soát, tổng hợp, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt danh sách và kinh phí tặng quà của Chủ tịch nước đối với 104.681 người có công, với tổng kinh phí trên 32,1 tỷ đồng; đồng thời tham mưu triển khai tặng quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đối với 115.490 người có công, với tổng kinh phí 103,941 tỷ đồng. Tổ chức các đoàn lãnh đạo tỉnh dâng hương, viếng các nghĩa trang liệt sĩ quốc gia, thăm hỏi, tặng quà người có công và thân nhân người có công; phối hợp triển khai các hoạt động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người có công, góp phần lan tỏa sâu rộng đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” trên địa bàn tỉnh.
Công tác giải quyết chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ đầu năm đến nay đã tham mưu giải quyết trên 8.700 hồ sơ thủ tục hành chính, 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Tỷ lệ chi trả trợ cấp ưu đãi qua tài khoản đạt 95,56%. Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định.
Thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TU ngày 21/5/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về lãnh đạo thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, đến ngày 15/7/2026, tỉnh đã bàn giao 955 mẫu hài cốt liệt sĩ cho Viện Pháp y Quân đội để phục vụ công tác giám định; thực hiện Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 06/5/2026 về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, qua rà soát có 105 trường hợp đủ điều kiện hỗ trợ và đang được thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định.
2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá
Bảo tàng tỉnh mở cửa trưng bày đón, phục vụ 72 lượt khách tham quan; sưu tầm 76 tài liệu, hiện vật tại cơ sở phục vụ trưng bày Bảo tàng Đảng Cộng sản Việt Nam; dàn dựng trưng bày chuyên đề: “Danh nhân văn hóa, nhà bác học Lê Quý Đôn - Cuộc đời và sự nghiệp”. Tổ chức tập huấn xây dựng Hồ sơ Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên để trình UNESCO ghi danh “Tri thức dân gian trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên” vào danh sách di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại. Mở cửa trưng bày đón 259 lượt khách tham quan, 05 đoàn, viết và đăng tải 07 tin bài; phối hợp với Trung tâm hoạt động Văn hóa, khoa học Văn miếu - Quốc Tử Giám khai mạc trưng bày chuyên đề “Quốc Tử Giám Thăng Long với truyền thống hiếu học tỉnh Hưng Yên”; hoàn thiện và bàn giao trưng bày chuyên đề: “Danh nhân Văn hóa, nhà bác học Lê Quý Đôn - Cuộc đời và sự nghiệp” cho Ủy ban nhân dân xã Lê Quý Đôn; xuất bản sách “Sắc phong tỉnh Hưng Yên tập VI”.
Tỉnh tổ chức xe ô tô đi tuyên truyền kỷ niệm ngày gia đình Việt Nam 28/6; kỷ niệm 111 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (01/7/1915 - 01/7/2026). Tỉnh tổ chức thành công Hội nghị kỷ niệm 25 năm Ngày Gia đình Việt Nam (28/6/2001 - 28/6/2026) và tuyên dương gia đình văn hóa tiêu biểu tỉnh Hưng Yên; thành lập Đoàn tham gia Ngày hội gia đình tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam năm 2026. Tập luyện Chương trình tham gia Hội diễn Đàn, Hát dân ca 3 miền; sưu tầm tư liệu, hình ảnh tham gia trưng bày triển lãm kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn (1726 - 2026); tuyên truyền kỷ niệm 111 năm ngày sinh Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh (01/7/1915 - 01/7/2026).
Thư viện tỉnh: Viết các tin, bài về hoạt động thư viện đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh. Tổ chức sưu tầm, bổ sung sách báo thường xuyên cho thư viện phục vụ bạn đọc. Lựa chọn tài liệu xếp 8 mô hình tuyên truyền kỷ niệm 300 năm Ngày sinh danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn tại Khu lưu niệm và tại Thư viện tỉnh.
Về nghệ thuật biểu diễn: tỉnh chấp thuận biểu diễn nghệ thuật cho 03 doanh nghiệp. Tổ chức 05 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp; phục dựng vở chèo “Bảng nhãn Lê Quý Đôn”; dàn dựng vở chèo “Bản hùng ca xứ Nhãn”.
Trung tâm văn hóa – Điện ảnh tỉnh tổ chức 82 buổi chiếu phim (22 buổi lưu động, 60 buổi tại rạp) thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ Nhân dân, khán giả.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm:
Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026; Kế hoạch số 247/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Về thể dục thể thao cho mọi người:
Tham mưu UBND tỉnh: (1) Ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026 và thành lập các Tiểu ban phục vụ Lễ khai mạc; (2) quyết định thành lập Câu lạc bộ Bóng đá KBC Hưng Yên. Tổ chức thành công: Lễ phát động toàn dân tập luyện môn bơi phòng, chống đuối nước tỉnh Hưng Yên năm 2026; giải Pickeball, Bơi, Bóng bàn. Thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh môn Karate, Bơi lặn; chấp thuận cho 02 đơn vị tổ chức thi đấu thể thao.
Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp:
Trong tháng Bảy, đoàn thể thao của tỉnh đã tập huấn, tham dự 12 giải thể thao quốc gia và 01 giải quốc tế, đạt 75 huy chương các loại, trong đó 17 HCV, 12 HCB, 46 HCĐ (01 HCV quốc tế, VĐV Vũ Ngọc Khánh, môn Điền kinh gia tham giải vô địch Châu Á 2026). Đội Bóng đá nhi đồng của tỉnh giành quyền vào thi đấu vòng chung kết giải Bóng đá Nhi đồng U11 toàn quốc Cúp Nestlé Milo năm 2026. Tập trung triển khai Kế hoạch tập huấn các đội tuyển trong chương trình thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026.
c) Hoạt động du lịch
Hoạt động quảng bá, xúc tiến, thông tin du lịch:
Đăng ký hoạt động, sự kiện hưởng ứng Năm Du lịch Quốc gia 2027; đăng ký tham gia Triển lãm “Không gian Du lịch Di sản văn hóa và sản phẩm thủ công truyền thống Việt Nam”; triển khai xây dựng biển quảng cáo tấm lớn tại 03 điểm: Cồn Vành, Cồn Đen và Chùa Keo; tuyên truyền Cuộc thi sáng tác Biểu trưng (Logo) tỉnh Hưng Yên; tuyền truyền kỷ niệm 66 năm ngày thành lập ngày Du lịch Việt Nam; hỗ trợ đoàn phim Đài truyền hình Việt Nam thực hiện series chương trình Hành trình vẻ đẹp tại Hưng Yên; viết bài, đăng tải, đưa tin trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube (01banner, 8 bài, 01 video; chia sẻ 52 link thu hút hơn 3.000 lượt truy cập), cập nhật thông tin số hóa bản đồ du lịch Hưng Yên; địa chỉ Google Maps trên https://hungyentourism.com.vn.
Chuyển đổi số về du lịch: Tiếp tục phối hợp VNPT chỉnh sửa thiết kế, giao diện, tin bài, văn bản trên Cổng du lịch thông minh; phối hợp với cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch (khách sạn, công ty tour) cập nhật thông tin liên hệ trên Cổng du lịch thông minh.
Đầu tư phát triển du lịch: Thẩm định đề xuất dự án Khu đô thị du lịch sinh thái Tống Trân; cử cán bộ tham gia Hội đồng thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Dự án WB10; tham gia góp ý dự thảo Chương trình hành động của Bộ VHTTDL thực hiện Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.
3. Giáo dục, đào tạo
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026: Kỳ thi tổ chức từ ngày 10-12/6/2026. Toàn tỉnh có 70 điểm thi, 43.666 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: 41.791 thí sinh học lớp 12; 1.875 thí sinh tự do (thí sinh tự do chưa tốt nghiệp: 51, thí sinh tự do đã tốt nghiệp: 1.824); 36.816 thí sinh học chương trình giáo dục THPT; 6.850 thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên: 6.850. Kết quả: Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Hưng Yên xếp thứ 9/34 tỉnh, thành phố về điểm trung bình các môn (tăng 2 thứ hạng so với năm 2025), trong đó môn Toán xếp thứ 5; môn Công nghệ Nông nghiệp xếp thứ 5; môn Tin học xếp thứ 7; toàn tỉnh có 409 điểm 10 (trong đó môn Giáo dục kinh tế pháp luật thí sinh Hưng Yên là 1 trong 2 thí sinh của toàn quốc đạt điểm 10); có 01 học sinh đạt thủ khoa toàn quốc khối A01, 01 học sinh đạt á khoa toàn quốc khối A00.
Trong tháng, toàn ngành giáo dục của tỉnh đã tổ chức Hội nghị tuyên dương khen thưởng cho 276 học sinh đạt thành tích cao trong các kỳ thi, cuộc thi năm học 2025-2026. Hoàn thành xét tuyển nguyện vọng 2 và hướng dẫn xét tuyển bổ sung vào lớp 10 THPT công lập năm học 2026-2027.
4. Hoạt động Y tế
Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Hè; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 07 xảy ra: Tay chân miệng 244 ca; Sởi 22 ca; Ho gà 02 ca; Lao phổi 24 ca; VGB 47 ca; Bệnh do Adeno vi rút 40 ca; Cúm 2.588 ca; Quai bị 05 ca; Thủy đậu 15 ca; Tiêu chảy 1.042 ca; VG virut khác 05 ca; Covid 55 ca.
Công tác phòng, chống sốt xuất huyết tiếp tục được triển khai đồng bộ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên. Trong tháng ghi nhận 25 ca mắc, trong đó có 13 ca nội sinh (tích lũy từ đầu năm là 128 ca, trong đó có 57 ca nội sinh). Các chùm ca bệnh và ổ dịch phát hiện đều được xử lý kịp thời, đúng quy định; không để dịch lan rộng, góp phần bảo đảm an toàn sức khỏe cộng đồng. Trong tháng 7/2026, không ghi nhận ca bệnh sốt rét, đồng thời không phát hiện ổ dịch sốt rét phát sinh.
Tình hình dịch HIV/AIDS: Trong tháng Bảy, toàn tỉnh phát hiện 05 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.575 người thuộc 104/104 xã, phường), có 01 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.324 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/7/2026 là: 1.476 người.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Tỉnh tổ chức giám sát đảm bảo an toàn thực phẩm, phòng chống ngộ độc thực phẩm phục vụ Đại lễ cầu quốc thái dân an và cầu siêu, tưởng niệm, tri ân các anh hùng liệt sĩ tỉnh Hưng Yên, các hoạt động hưởng ứng ngày Dân số Thế giới (11/7) năm 2026, Đại hội Đại biểu Phật giáo tỉnh Hưng Yên lần thứ nhất, nhiệm kỳ 2026 2031. Kết quả: Tổng số suất ăn: khoảng 2.870 suất ăn. Tổ chức lấy 130 mẫu nguyên liệu, thực phẩm thực hiện xét nghiệm nhanh, kết quả: 130/130 mẫu âm tính với các chỉ tiêu Sabutamol, dư lượng thuốc thuốc trừ sâu, Salicylic, Ure,... và đo nồng độ Nitrat trong giới hạn cho phép; lưu mẫu thức ăn theo đúng quy định. Công tác đảm bảo chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm trong thời gian diễn ra Đại lễ, hội nghị: thực hiện đúng theo quy định, không có trường hợp bị ngộ độc thực phẩm. Trong tháng Bảy, trên địa bàn tỉnh không có vụ ngộ độc lớn xảy ra.
5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ
Trong tháng Bảy (từ ngày 24/6/2026 - 23/7/2026), toàn tỉnh phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 23 vụ với số tiền xử phạt 514 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 01 vụ, tương ứng tăng 4,55%. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 16 vụ, tăng 228,57%. Lũy kế bảy tháng năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 68 vụ vi phạm, đã xử lý 80 vụ với số tiền xử phạt 3.878 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 53 vụ, tương ứng giảm 43,80%; số vụ đã xử lý tăng 1 vụ, tăng 1,27%; số tiền xử phạt giảm 559 triệu đồng, giảm 12,61%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là đổ rác thải, xả thải không đúng quy định, với mức xử phạt hành chính tương đối thấp.
Từ ngày 15/6/2026 đến ngày 14/7/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 04 vụ cháy (xã Kiến Xương 01 vụ, xã Bình Thanh 01 vụ, xã Nghĩa Trụ 01 vụ, xã Nam Thụy Anh 01 vụ); không có vụ nổ; làm bị thương 01 người; không có người chết; giá trị thiệt hại về tài sản là 171,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, tổng số vụ cháy, nổ bằng với cùng kỳ năm trước, số người chết giảm 07 người, số người bị thương bằng với cùng kỳ năm trước. Lũy kế bảy tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 27 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản là 4.161,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ cháy, nổ tăng 6 vụ, tăng 28,57%: số người chết giảm 06 người, giảm 85,71%; số người bị thương giảm 5 người, giảm 62,50%.
6. An toàn giao thông
Từ ngày 15/6/2026 đến ngày 14/7/2026, toàn tỉnh đã xảy ra 28 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 24 người; làm bị thương 11 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 15,15%; số người chết giảm 04 người, giảm 14,29%; số người bị thương tăng 05 người, tăng 83,33%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 22 vụ, giảm 44,0%; số người chết giảm 03 người, giảm 11,11%; số người bị thương giảm 23 người, giảm 67,65%. Lũy kế bảy tháng năm 2026 (từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/7/2026), toàn tỉnh xảy ra 262 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 259 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết 186 người (đường bộ 185 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 132 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 65 vụ, giảm 19,88%; số người chết giảm 04 người, giảm 2,11%; số người bị thương giảm 69 người, giảm 34,33%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm biệt nghiêm trọng.
Tin khác