Tình hình kinh tế - xã hội tháng 8 năm 2026
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
a) Nông nghiệp
Chiều tối ngày 21/8/2026, áp thấp nhiệt đới trên khu vực Bắc Vịnh Bắc Bộ đã mạnh lên thành bão - Cơn bão số 4 (bão Narra). Do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 kết hợp mưa lớn kéo dài, tại nhiều xã, phường trên địa bàn tỉnh đã xảy ra hiện tượng ngập lụt. Các công ty Khai thác công trình thủy lợi và các địa phương đã khẩn trương triển khai mở cống tiêu và vận hành 144 trạm bơm phòng úng. Công tác tiêu tốt nên diện tích lúa ngập úng đã giảm, không gây thiệt hại làm ảnh hưởng đến năng suất lúa.
Trồng trọt
Cây hằng năm
Vụ mùa năm nay, toàn tỉnh hoàn thành gieo cấy 96.000 ha lúa mùa, đạt 100% kế hoạch; trong đó lúa chất lượng cao chiếm trên 50% (giống Nếp thơm Hưng Yên, Đài thơm 8, Tiền Hải 1...). Diện tích gieo sạ đạt 24.500 ha (25,5%
diện tích gieo cấy
), cấy máy đạt 35.000 ha (36,5%
diện tích gieo cấy
). Hiện nay, diện tích lúa trà sớm đã trỗ bông được khoảng 4.500 ha; lúa đại trà và trà muộn ở giai đoạn phân hóa đòng đến làm đòng. Thời nắng nóng sau đó mưa to dài ngày do ảnh hưởng của hoàn lưu bão số 4 đã tạo điều kiện cho sâu cuốn lá nhỏ, rầy nâu, bệnh bạc lá và đốm sọc vi khuẩn phát sinh gây hại. Ngành chức năng khuyến cáo nông dân thường xuyên thăm đồng, theo dõi diễn biến sâu bệnh và chủ động phòng trừ kịp thời, bảo vệ năng suất lúa.
Song song với việc chăm sóc lúa mùa, tại thời điểm này, nhà nông tiếp tục gieo trồng và thu hoạch các loại cây rau màu vụ mùa. Tiến độ gieo trồng một số cây hàng năm khác vụ mùa đến ngày 20/8/2026 như sau: cây ngô 2.891 ha; khoai lang 339 ha; lạc 391 ha; đậu tương 449 ha; rau các loại 11.748 ha. Các địa phương đang tiếp tục đẩy nhanh tiến độ gieo trồng các diện tích còn lại, bảo đảm hoàn thành trong khung thời vụ.
Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Trà nhãn chín sớm cơ bản đã thu hoạch xong, các nhà vườn tập trung cắt tỉa, phục hồi cây; trà nhãn chính vụ đang được tập trung thu hoạch. Năm nay, sản lượng nhãn dự kiến giảm khá sâu so với năm trước do tỷ lệ đậu quả thấp. Đối với cây có múi (cam, bưởi) đang trong giai đoạn phát triển quả, các nhà vườn cần tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh gây hại cho cây.
Từ ngày 7/8 - 9/8/2026, tại Công viên Nam Hòa, phường Phố Hiến đã diễn ra Lễ hội và xúc tiến thương mại Nhãn lồng Hưng Yên năm 2026. Chương trình có tổ chức lễ công bố và trao Chứng nhận của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc đưa “Tri thức trồng và chế biến nhãn lồng Hưng Yên” của các địa phương vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Chăn nuôi
Hoạt động chăn nuôi cơ bản ổn định, song cũng gặp khó khăn do giá thức ăn chăn nuôi, con giống và vật tư đầu vào duy trì ở mức cao. Trong tháng, dịch tả lợn châu Phi phát sinh tại và cúm gia cầm H5N1 tại một số hộ trong tỉnh nhưng đã được khoanh vùng, tiêu hủy kịp thời, không để phát sinh ổ dịch lớn.
Đàn trâu, bò có xu hướng giảm do quá trình phát triển các khu, cụm công nghiệp và hạ tầng giao thông làm thu hẹp diện tích chăn thả. Ước tính cuối tháng Tám, đàn trâu đạt 11.022 con, giảm 6,05% (giảm 710 con) so với cùng kỳ; đàn bò đạt 73.750 con, giảm 9,55% (giảm 7.791 con); đàn lợn 1.045.237 con (không bao gồm lợn con chưa tách mẹ), tăng 1,5% (tăng 15.402 con); đàn gia cầm (chỉ bao gồm gà, vịt, ngan) 23.105 nghìn con, tăng 0,10% (tăng 22 nghìn con), trong đó, đàn gà đạt 17.130 nghìn con, tăng 0,16% (tăng 28 nghìn con). Đàn gia cầm chuyển dịch tích cực theo hướng tăng tỷ trọng nhằm đáp ứng nhu cầu thực phẩm.
b) Lâm nghiệp
Trong tháng qua, tình hình sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng hay phá rừng.
Cây trồng phân tán trong tháng Tám ước đạt 96,5 nghìn cây, giảm 0,62% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế tám tháng năm 2026, số lượng cây phân tán toàn tỉnh đạt 1.332 nghìn cây, giảm 1,14% so với cùng kỳ, chủ yếu là cây lấy gỗ (bạch đàn, xoan) và cây bóng mát (keo, hoa sữa, sấu). Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Tám ước đạt 311 m3, tăng 0,32% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế 8 tháng năm 2026, toàn tỉnh khai thác 3.638 m3 gỗ , tăng 0,28% so với cùng kỳ năm trước.
c) Sản xuất thủy sản
Trước diễn biến bão số 4 (bão Narra) di chuyển chậm, hoàn lưu gây mưa lớn kéo dài, tính đến 17 giờ ngày 23/8/2026, toàn tỉnh có 1.239 tàu với 3.264 lao động làm ăn trên biển; 1.237 phương tiện với 3.253 lao động đã neo đậu tại bến, còn 2 phương tiện với 11 lao động hoạt động ngoài tỉnh. Tại các khu vực nuôi trồng thủy sản, các địa phương tiếp tục thực hiện phương án đưa người lao động vào nơi an toàn.
Khai thác thủy sản biển:
Sản lượng khai thác biển tháng Tám ước đạt 8.162 tấn, tăng 5,35% (tăng 415 tấn); lũy kế tám tháng ước đạt 73.094 tấn, tăng 3,57% (tăng 2.520 tấn). Ngành chức năng quản lý tốt hoạt động tàu cá: 731 tàu đã đăng ký trên dữ liệu VnFishbase; 100% tàu từ 15m trở lên (126 tàu) đã lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS), cấp phép khai thác và chứng nhận an toàn thực phẩm.
Nuôi trồng thủy sản:
Sản lượng nuôi trồng tháng Tám ước đạt 22.911 tấn, tăng 5,43% (tăng 1.189 tấn). Trong đó, sản lượng cá 8.827 tấn, tăng 5,4% (tăng 452 tấn); tôm 856 tấn, tăng 5,1% (tăng 42 tấn); thủy sản khác 13.228 tấn, tăng 5,47% (tăng 685 tấn). Lũy kế tám tháng năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 160.045 tấn, tăng 4,15% (tăng 6.383 tấn) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, sản lượng cá 67.964 tấn, tăng 4,09% (tăng 2.669 tấn); tôm 3.106 tấn, tăng 4,41% (tăng 131 tấn); thủy sản khác 88.975 tấn, tăng 4,2% (tăng 3.583 tấn).
2. Sản xuất công nghiệp
a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Tám và tám tháng năm 2026 như sau:
So với tháng trước
, Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 0,83%, trong đó: khai khoáng tăng 0,08%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,38%; sản xuất và phân phối điện giảm 4,17%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 2,02%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 82,98%; mạch in khác tăng 24,90%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 16,01%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 13,27%; tôm đông lạnh tăng 12,24%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 7,92%; khí tự nhiên dạng khí tăng 7,36%; thức ăn cho gia súc tăng 5,15%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: nitơrat Amoni giảm 78,95%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 62,98%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 11,87%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 6,64%; bao và túi bằng plastic các loại giảm 6,52%; điện sản xuất giảm 5,59%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 5,47%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 4,99%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước
, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tám tăng 18,41%, trong đó: khai khoáng giảm 9,57%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,13%; sản xuất và phân phối điện tăng 9,41%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 21,09%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 258,60%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 181,69%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 77,60%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 76,53%; mạch điện tử tích hợp tăng 51,21%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 40,48%; khí tự nhiên dạng khí tăng 32,08%; mạch in khác tăng 23,49%; quần áo các loại tăng 21,90%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 19,80%;....
Chỉ số sản xuất công nghiệp
Tháng Tám và tám tháng năm 2026 (%)
T8.2026
8T.2026
T8.2025
8T.2025
Chung toàn ngành CN
Khai khoáng
118,41
90,43
115,78
100,55
Công nghiệp chế biến, chế tạo
119,13
116,45
SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng
109,41
108,57
Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải
121,09
116,86
Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: nitơrat Amoni giảm 79,06%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 32,68%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 16,72%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,70%; giày dép khác chưa được phân vào đâu giảm 10,45%; tôm đông lạnh giảm 8,33%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 7,22%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 4,11%; nước khoáng không có ga giảm 1,33%;......
Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 173,21%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 10,57%; CN Công ty Cổ phần Daikin tăng 13,7%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 16,67%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 96,75%; Công ty Cổ phần Thiết bị và Cầu trục AVC tăng 25,0%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 81,18%; Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 17,26%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 34,43%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 26,47%; Công ty Cổ phần May Hưng Việt tăng 49,27%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 24,19%; Công ty TNHH May Đại Hướng tăng 47,77%; CN Công ty May 10 tăng 16,67%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 16,55%; Công ty TNHH TAV tăng 17,88%; Công ty TNHH MXP tăng 51,49%; Công ty TNHH PS Vina tăng 11,7%; Công ty TNHH IVORY Việt Nam tăng 20,0%; CN Công ty TNHH Tân Đệ tăng 175,2 %; Công ty Cổ phần Đô Lương tăng 30,0%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 10,87%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 181,69%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 40,48%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 18,09%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 10,16%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 59,46%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 19,21%; Công ty TNHH Điện lạnh Hòa Phát tăng 30,7%; Công ty Cổ phần Kopac tăng 37,47%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 32,65%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 23,06%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 3,59%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 27,4%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 29,03%; Công ty TNHH HSIN YUE HSING tăng 47,48%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 7,63%; Công ty Cổ phần Thép Việt Ý tăng 12,08%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 67,22%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 27,92%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 5,65%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 14,97%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 19,68%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 3,92%; Chi nhánh Công ty TNHH Lixil Việt Nam tăng 5,51%; Công ty TNHH Việt Đức tăng 6,77%; Công ty TNHH Took Việt Nam tăng 121,82%; Công ty TNHH Bê tông và Xây lắp - Petrolimex tăng 8,85%; Nhà máy Gạch men Mikađô tăng 12,83%; Công ty Cổ phần Gạch ốp lát Thái Bình tăng 256,76%; Chi nhánh Công ty Cổ phần VIGLACERA Thái Bình tăng 9,29%;...
Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Tám giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina giảm 15,59%; Công ty TNHH Thương mại Mỹ Việt giảm 14,89%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát giảm 2,07%; Công ty Cổ phần Công nghiệp Mytek giảm 10,34%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam giảm 31,03%; Công ty TNHH Kết cấu thép cơ khí Hưng Yên giảm 50,87%; Công ty TNHH Giầy Ngọc Tề giảm 16,28%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 0,13%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 21,25%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 78,68%; Công ty TNHH GOEN Việt Nam giảm 6,67%;...
Tính chung tám tháng năm 2026,
chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
Đối với ngành khai khoáng:
Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 0,55%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 7,55%; khai khoáng khác tăng 0,55%.
Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,45%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 91,48%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 90,49%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 40,56%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,62%; sản xuất trang phục tăng 28,50%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 26,61%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 26,34%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 21,85%; sản xuất thiết bị điện tăng 17,66%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,78%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 21,91%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,89%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 2,96%; dệt tăng 3,28%;…
Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong tám tháng tăng so với cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 132,79%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 68,68%; mạch điện tử tích hợp tăng 47,62%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 42,52%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 27,56%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 19,70%; quần áo các loại tăng 19,45%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 18,01%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 17,10%; mạch in khác tăng 14,54%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 14,40%; điện thương phẩm tăng 14,20%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 29,84%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,72%; Nitơrat Amoni giảm 8,55%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 1,68%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 1,24%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 0,07%;...
Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt trong các ngành điện tử, cơ khí, dệt may, chế biến thực phẩm và vật liệu xây dựng tăng công suất để đáp ứng các đơn hàng quý III và cuối năm, kéo theo sản lượng điện tiêu thụ của khu vực công nghiệp tăng. Đồng thời, trên địa bàn Hưng Yên, các khu công nghiệp như: Thăng Long II, Phố Nối A, Phố Nối B, Yên Mỹ II,... tiếp tục mở rộng sản xuất, nhiều doanh nghiệp đi vào hoạt động hoặc tăng quy mô sản xuất, làm gia tăng nhu cầu tiêu thụ điện. Việc bảo đảm nguồn điện sản xuất và phân phối điện là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và khu vực miền Bắc là nhiệm vụ quan trọng của ngành điện tỉnh Hưng Yên. Tám tháng năm 2026, ước chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng 8,57% so với cùng kỳ; sản lượng điện sản xuất ước đạt 7.994 triệu Kwh, tăng 7,65%; sản lượng điện thương phẩm 8.072 triệu Kwh, tăng 14,20%.
Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tám tháng năm 2026 tăng 16,86% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,13%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,71%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 17,96%.
b) Chỉ số sử dụng lao động
Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Tám toàn ngành tăng 5,21% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,90%, cộng dồn tám tháng tăng 4,22% so với cùng kỳ. Mức tăng này cho thấy nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vẫn ở mức cao, nhất là tại các doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, mở rộng quy mô sản xuất hoặc đưa thêm dây chuyền vào hoạt động. Lao động tăng chủ yếu tập trung ở ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, đặc biệt là các doanh nghiệp sản xuất linh kiện điện tử, thiết bị điện, cơ khí chế tạo, sản phẩm kim loại, thực phẩm và đồ uống, may mặc... Đây là những ngành có nhiều đơn hàng xuất khẩu và tiêu thụ trong nước, nhiều doanh nghiệp tại các khu công nghiệp như Thăng Long II, Phố Nối A, Phố Nối B, Yên Mỹ II, Minh Đức tiếp tục tuyển dụng lao động để đáp ứng nhu cầu sản xuất trong quý III và chuẩn bị cho mùa sản xuất cuối năm. Việc các dự án đầu tư mới đi vào hoạt động, cùng với quá trình mở rộng nhà xưởng, dây chuyền sản xuất của một số doanh nghiệp FDI cũng góp phần làm gia tăng nhu cầu sử dụng lao động. Bên cạnh đó, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm hoặc tăng chậm do sản lượng sản xuất chưa phục hồi hoàn toàn, đơn hàng giảm hoặc doanh nghiệp thực hiện tái cơ cấu sản xuất, đầu tư đổi mới công nghệ, tự động hóa các công đoạn sản xuất nhằm nâng cao năng suất lao động và giảm chi phí nhân công. Một số doanh nghiệp cũng có xu hướng sử dụng lao động có trình độ, tay nghề cao thay thế lao động phổ thông, dẫn đến số lượng lao động giảm nhưng hiệu quả sản xuất vẫn được duy trì.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong tám tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 40,97%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,67%; sản xuất đồ uống tăng 19,14%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 18,61%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 18,30%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,36%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,72%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,66%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,12%; dệt giảm 4,06%;...
3. Hoạt động đầu tư
a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Tháng Tám, trên các công trường trọng điểm của tỉnh, các nhà thầu đang tăng tốc thi công. Các công trình trọng điểm của tỉnh đang được đẩy mạnh thi công như: Trên tuyến cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (CT.08), 14 gói thầu xây lắp gồm 11 gói đường và 3 gói cầu lớn đang được triển khai; Dự án tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng cũng đang bước vào giai đoạn cần tăng tốc; Dự án Khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái, sân golf Khoái Châu đến nay đã hoàn thành trên 90% công tác giải phóng mặt bằng, nhà đầu tư đã tổ chức thi công những hạng mục đầu tiên của dự án;... Tuy nhiên, để bảo đảm tiến độ và giải ngân kế hoạch vốn năm 2026, những điểm nghẽn về mặt bằng, tái định cư và nguồn vật liệu cần tiếp tục được tháo gỡ.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Tám toàn tỉnh ước đạt 4.076 tỷ đồng, tăng 9,84%, tương ứng tăng 365 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 3.115 tỷ đồng, tăng 44,42%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 961 tỷ đồng, giảm 38,16%. Tính chung tám tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 24.098 tỷ đồng, tăng 15,88%, tương ứng tăng 3.302 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 49,58% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 16.758 tỷ đồng, tăng 43,56%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 7.340 tỷ đồng, giảm 19,54%.
b) Hoạt động đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 26/8/2026, toàn tỉnh có 1.006 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 20.232,79 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/8/2026, có 40 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 645,67 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 204 dự án, vốn đăng ký là 8.193,06 triệu USD, chiếm 40,49% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 389 dự án, vốn đăng ký 4.640,66 triệu USD, chiếm 22,94% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 217 dự án, vốn đăng ký 2.333,23 triệu USD, chiếm 11,53% tổng vốn đăng ký.
c) Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/7/2026 đến ngày 21/8/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn tỉnh là 365 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.643 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 2.715 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 74 doanh nghiệp, sử dụng 1.424 lao động, vốn đăng ký 859 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 130 doanh nghiệp, sử dụng 524 lao động, vốn đăng ký 608 tỷ đồng; vận tải kho bãi 32 doanh nghiệp, sử dụng 116 lao động, vốn đăng ký 115 tỷ đồng; xây dựng 41 doanh nghiệp, sử dụng 159 lao động, vốn đăng ký 208 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 9 doanh nghiệp, sử dụng 38 lao động, vốn đăng ký 677 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 19 doanh nghiệp, sử dụng 61 lao động, vốn đăng ký 39 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, sử dụng 94 lao động, vốn đăng ký 41 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 11 doanh nghiệp, sử dụng 40 lao động, vốn đăng ký 21 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/8/2026, toàn tỉnh có 3.775 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 28.572 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 41.535 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.539 doanh nghiệp, sử dụng 5.965 lao động, vốn đăng ký đạt 6.115 tỷ đồng (chiếm 14,72% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 735 doanh nghiệp, sử dụng 15.366 lao động, vốn đăng ký đạt 8.056 tỷ đồng (chiếm 19,40%); xây dựng 356 doanh nghiệp, sử dụng 1.616 lao động, vốn đăng ký 2.094 tỷ đồng (chiếm 5,04%); hoạt động vận tải, kho bãi 298 doanh nghiệp, sử dụng 1.111 lao động, vốn đăng ký 1.362 tỷ đồng (chiếm 3,28%); giáo dục và đào tạo 77 doanh nghiệp, sử dụng 279 lao động, vốn đăng ký 129 tỷ đồng (chiếm 0,31%); kinh doanh bất động sản 137 doanh nghiệp, sử dụng 1.294 lao động, vốn đăng ký 19.872 tỷ đồng (chiếm 47,84%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 178 doanh nghiệp, sử dụng 797 lao động, vốn đăng ký 441 tỷ đồng (chiếm 1,06%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 131 doanh nghiệp, sử dụng 583 lao động, vốn đăng ký 532 tỷ đồng (chiếm 1,28%);...
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Tám (tính từ ngày 22/7/2026 đến ngày 21/8/2026) toàn tỉnh là 53 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/8/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 610 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/7/2026 đến ngày 21/8/2026, số doanh nghiệp giải thể là 170 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 82 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/8/2026, toàn tỉnh có 744 doanh nghiệp giải thể và 1.540 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 149 doanh nghiệp giải thể và 374 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,03% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,29% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 269 doanh nghiệp giải thể và 528 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,16% và 34,29%; kinh doanh bất động sản có 45 doanh nghiệp giải thể và 35 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,05% và 2,27%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 32 doanh nghiệp giải thể và 66 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,30% và 4,29%; giáo dục và đào tạo có 72 doanh nghiệp giải thể và 33 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 9,68% và 2,14%;...
4. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Tám ước đạt 25.010 tỷ đồng, tăng 4,39% so với tháng trước và tăng 19,62% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn tám tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 197.106 tỷ đồng, tăng 17,57% so cùng kỳ năm trước.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng Tám và tám tháng năm 2026
Tháng 8.2026
8T.2026
T8.2026
T8.2025
8T.2026
8T.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
(%)
Tổng số
25.010
197.106
119,62
118,75
Thương nghiệp
12.284
98.389
123,52
118,75
Lưu trú, ăn uống
1.224
10.024
123,52
115,82
Du lịch
16
82
102,22
112,41
Dịch vụ
11.486
88.611
115,37
116,48
Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau:
Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Tám ước đạt 12.284 tỷ đồng, chiếm 48,51% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,52% so với tháng trước và tăng 23,51% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 24,29%; hàng may mặc tăng 20,05%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 25,08%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 112,94%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 33,09%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 66,37%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 14,13%; xăng, dầu các loại tăng 22,18%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 84,25%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 60,88%; duy nhất chỉ có nhóm hàng hóa khác giảm 6,71%.
Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 98.389 tỷ đồng, tăng 18,75% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 23,56%; hàng may mặc tăng 18,77%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 13,11%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 65,22%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 11,34%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 34,40%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 4,00%; xăng dầu các loại tăng 21,26%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 45,89%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 37,00%; hàng hóa khác tăng 8,12%.
Dịch vụ lưu trú và ăn uống tháng Tám ước đạt 1.224 tỷ đồng, giảm 3,02% so với tháng trước và tăng 24,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 37 tỷ đồng, giảm 1,64% so với tháng trước và tăng 10,72% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.187 tỷ đồng, giảm 3,06% so với tháng trước và tăng 23,96% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống giảm so với tháng trước đã phần nào phản ánh sự hạ nhiệt của nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng khi mùa cao điểm hè dần kết thúc. Tuy nhiên, mức tăng so với cùng kỳ lại cho thấy nhu cầu của dịch vụ lưu trú, ăn uống đang tăng lên. Một số doanh nghiệp chủ lực đạt kết quả kinh doanh tích cực, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của toàn ngành, như: Công ty TNHH Dịch vụ và Thương mại Quang Minh; Công ty Cổ phần Lam Sơn Global;...
Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 10.024 tỷ đồng, tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 291 tỷ đồng, tăng 13,75%; dịch vụ ăn uống 9.733 tỷ đồng, tăng 15,88%.
Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Tám ước đạt 16 tỷ đồng, tăng 8,96% so với tháng trước và tăng 2,22% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 82 tỷ đồng, tăng 12,41% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Tám ước đạt 11.486 tỷ đồng, tăng 8,55% so với tháng trước và tăng 15,37% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản 10.110 tỷ đồng, tăng 8,46% so với tháng trước và tăng 15,95% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 507 tỷ đồng, tăng 3,17% so với tháng trước và tăng 13,11% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 210 tỷ đồng, tăng 57,72% so với tháng trước và tăng 0,66% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 255 tỷ đồng, tăng 0,12% so với tháng trước và tăng 15,59% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 316 tỷ đồng, tăng 5,80% so với tháng trước và tăng 111,54% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 88.611 tỷ đồng, tăng 16,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,30% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 17,04% so với cùng kỳ năm trước; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,61%; giáo dục và đào tạo tăng 11,22%; y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,05%; nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 15,06%; dịch vụ khác tăng 11,13%. Thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp. Một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8 năm 2026 tăng 0,16% so với tháng trước, chủ yếu do chỉ số giá nhóm giao thông, nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, CPI vẫn duy trì mức tăng 4,63%; bình quân 8 tháng năm 2026 CPI tăng 4,32% so với cùng kỳ.
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 0,16%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm hàng có chỉ số giá tăng và 06 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: nhóm hàng may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,13%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; nhóm giao thông tăng 4,38%; nhóm giáo dục tăng 0,01%. Ngược lại, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,25%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,08%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,58%; thông tin và truyền thông giảm 0,04%; văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17%; hàng hóa và dịch vụ khác giảm 0,06%.
Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ
tháng Tám năm 2026
T8.2026
T7.2026
T8.2026
T8.2025
8T.2026
8T.2025
(%)
(%)
(%)
Chỉ số giá tiêu dùng chung
100,16
104,63
104,32
Chỉ số vàng
96,91
116,76
150,54
Chỉ số đô la Mỹ
99,63
99,12
101,73
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,25%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,69%, do nguồn cung lúa, gạo tăng sau thu hoạch, trong khi nhu cầu tiêu dùng ổn định, đồng thời chi phí vận chuyển không tăng góp phần làm giá nhóm lương thực giảm trong tháng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,21% do: Nhóm thịt gia súc giảm 0,80% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 0,80%; thịt bò giảm 0,81%; nội tạng động vật giảm 0,56%; thịt chế biển giảm 1,26%; thịt gà giảm 0,06%; mỡ nội tạng giảm 1,40%) do nguồn cung lợn hơi tăng khi nhiều đàn lợn đến kỳ xuất chuồng sau thời gian tái đàn, trong khi nhu cầu tiêu dùng không có sự gia tăng tương ứng. Chỉ số giá nhóm thủy sản tươi sống giảm 0,37%, do thời tiết và điều kiện khai thác thuận lới, sản lượng đánh bắt các loại như cá, tôm, cua,... tăng, sản lượng nuôi trồng bước vào thời kỳ thu hoạch, nguồn cung dồi dào, nên giá bán giảm nhẹ. Chỉ số giá quả tươi chế biến giảm 1,59% chủ yếu do nguồn cung một số loại trái cây tăng khi bước vào vụ thu hoạch, sản lượng đưa ra thị trường dồi dào. Trong khi đó nhu cầu thị trường không tăng trương ứng, khiến giá một số loại mặt hàng trái cây giảm, bên cạnh đó hoạt động lưu thông, vận chuyển thuận lợi cũng góp phần làm giảm chỉ số giá nhóm này.
Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,13%, tăng ở một số mặt hàng: quần áo trẻ em tăng 0,35%; các loại khăn mặt, mũ nón tăng 0,71%; các loại giày dép tăng 0,09%; giá sửa chữa, giày dép 0,94%. Chủ yếu do nhu cầu mua sắm quần áo, đồng phục, giày dép phục vụ năm học mới tăng nhẹ, bên cạnh đó, giá một số nguyên phụ liệu và chi phí kinh doanh có xu hướng tăng nhẹ. Tuy nhiên, do nguồn cung hàng hóa dồi dào và các chương trình khuyến mại tại các cơ sở kinh doanh đã góp phần hạn chế mức tăng giá của nhóm hàng này.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,58%, chủ yếu do giá điện, nước sinh hoạt và một số loại vật liệu xây dựng giảm. Trong đó, chỉ số giá điện sinh hoạt giảm 3,57%; chỉ số giá nước sinh hoạt giảm 0,47% do thời tiết chuyển mùa, không quá oi bức, mưa nhiều, làm giảm nhu cầu sử dụng điện, nước cho cả sản xuất và sinh hoạt; chỉ số nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,25% do một số mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền giảm góp phần kéo giảm chỉ số giá chung của nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%, chủ yếu do giá một số mặt hàng thiết yếu như: tủ lạnh, máy xay sinh tố, đồ điện thắp sáng, nồi điện, ấm phích nước điện, đồ nhôm, đồ kim loại,… tăng giá. Nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu mua sắm một số thiết bị, đồ dùng gia đình tăng, giá một số nguyên vật liệu, linh kiện đầu vào cùng với chi phí vận chuyển, nhân công tăng đã tác động tăng giá bán.
Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,38%, chủ yếu do giá nhiên liệu được điều chỉnh tăng theo diễn biến giá thế giới; theo đó giá nhiên liệu tăng 10,97%; giá xăng tăng 11,09%; giá dầu diezel tăng mạnh 21,96%. Chỉ số giá vận tải hành khách bằng xe buýt tăng 0,65%; chỉ số giá vận tải hành khách bằng taxi tăng 0,78%; chỉ số giá vận tải hành khách kết hợp tăng 0,02%.
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,17%, chủ yếu do một số dịch vụ du lịch, vui chơi và giải trí giảm. Trong tháng nhu cầu đối với một số dịch vụ có xu hướng giảm so với tháng trước, cùng với việc các cơ sở kinh doanh thực hiện các chương trình giảm giá, khuyến mại làm mặt bằng giá nhóm này giảm.
So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 3,54%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giáo dục giảm 0,97%; các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,98%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,44%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,30%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,16%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,28%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,50%; giao thông tăng 7,83%; thông tin và truyền thông tăng 0,98%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,80%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 4,62%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tám tăng 4,63%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,62% (lương thực tăng 2,93%; thực phẩm tăng 6,17%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,44%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,33%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,61%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,51%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,38%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,36%; giao thông tăng 6,96%; thông tin và truyền thông tăng 1,09%; giáo dục giảm 0,02%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,60%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 5,08%.
Bình quân chung Tám tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,32% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,44%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,27%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,49%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,05%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,18%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,30%; giao thông tăng 4,66%; thông tin và truyền thông tăng 0,99%; giáo dục tăng 0,97%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,33%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,97%.
Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân Tám tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,44% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,80% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,23% do giá nguyên liệu thực phẩm và chi phí đầu vào tăng dẫn đến giá các suất ăn, đồ uống và dịch vụ ăn uống tăng theo. Bên cạnh đó nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng đã góp phần tác động đến mặt bằng giá của nhóm ăn uống. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 6,05% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà và chi phí duy trì, sửa chữa nhà ở tăng, giá một số vật liệu xây dựng và bảo dưỡng nhà ở tăng do chi phí đầu vào, nhân công và vận chuyển tăng, đồng thời nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở tăng đã tác động tăng giá nhóm này. (3) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,29% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa hè, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (4) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,27%, do giá nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, nhân công, vận chuyển tăng dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,66%, chủ yếu do giá nhiên liệu, đặc biệt là giá xăng, dầu tăng so với cùng kỳ; đồng thời chi phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện và giá một số dịch vụ vận tải tăng do chi phí đầu vào tăng. Nhu cầu đi lại và hoạt động sản xuất, kinh doanh, du lịch phục hồi góp phần làm tăng nhu cầu đối với các dịch vụ vận tải. (6) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 4,33% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí tăng, nhất là trong các dịp nghỉ lễ và mùa du lịch; đồng thời giá một số dịch vụ lưu trú, tham quan, giải trí và lữ hành tăng so với cùng kỳ, góp phần làm tăng chỉ số giá của nhóm này.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 8/2026 giảm 3,09% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 8/2026 giá vàng xấp xỉ 14.339.640 VNĐ/chỉ.
Chỉ số giá đô la Mỹ (USD) tháng 8/2026 giảm so với tháng trước, chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường trong nước có xu hướng giảm do nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định, bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 8/2026 giảm 0,37% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1USD xấp xỉ 26.190 VNĐ.
c) Chỉ số giá sản xuất
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tám tăng nhẹ - tăng 0,04%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,01%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 2,70%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,22%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 0,13%; khoai tây tăng 0,68%; lạc tăng 0,22%; vừng/mè tăng 0,34%; bắp cải tăng 0,98%; súp lơ tăng 2,42%; dưa lấy quả tăng 0,21%; cà chua tăng 3,21%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân còn lại tăng 0,22%; hoa các loại còn lại tăng 0,34%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 0,68%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm tăng 0,47%; xoài tăng 2,02%; hồng xiêm tăng 0,45%; quả na tăng 5,69%; ổi tăng 0,64%; cam tăng 0,35%; nhãn tăng 2,86%; sảm phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 1,09%; sản phẩm cây chè tăng 1,03%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 0,22%; sản phẩm chăn nuôi dê, cừu, hươu, nai tăng 1,57%; sản phẩm chăn nuôi vịt, ngan, ngỗng tăng 0,40%; mật ong tăng 2,44%; dịch vụ chăn nuôi tăng 0,42%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 0,36%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,18%; cá trắm tăng 0,31%; cá trôi tăng 0,39%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 0,43%; giống thủy sản nuôi nội địa tăng 0,93%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: sản phẩm cây lấy củ có chất bột giảm 0,24%; đậu tương giảm 0,27%; rau lấy lá giảm 0,33%; dưa chuột giảm 1,50%; hành củ tươi giảm 0,44%; hoa phong lan giảm 0,63%; hoa cúc bông giảm 0,69%; sản phẩm cây hàng năm khác còn lại giảm 5,14%; chuối giảm 2,07%; mít giảm 2,24%; chanh thường giảm 3,29%; các loại quả có múi còn lại giảm 1,05%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm giảm 0,65%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 2,70%; lợn giảm 0,07%; cá nuôi nội địa còn lại giảm 0,22%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tám tăng 4,37%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 3,49%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 12,76%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 8,95%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,76%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 3,21%; mía cây tươi tăng 7,43%; thuốc lá, thuốc lào tăng 4,68%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 3,53%; rau lấy lá tăng 5,26%; dưa lấy quả tăng 8,53%; rau họ đậu tăng 4,79%; rau lấy quả 13,01%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 6,20%; nấm trồng các loại tăng 8,93%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 4,42%; hoa hồng tăng 6,04%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 16,58%; xoài tăng 16,74%; ổi tăng 18,95%; chanh thường tăng 19,42%; các loại quả có múi còn lại tăng 17,40%; nhãn tăng 13,59%; vải tăng 34,32%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 11,07%; sản phẩm cây chè tăng 8,89%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,83%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 4,83%; dịch vụ nông nghiệp tăng 5,13%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 12,76%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 15,62%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 2,70%; cá nuôi biển tăng 4,23%; tôm nuôi biển còn lại tăng 8,22%; cá nuôi nội địa tăng 5,19%; tôm nuôi nội địa tăng 11,69%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 11,74%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: sắn/mỳ tươi giảm 0,19%; quả na giảm 0,44%; quýt giảm 1,04%; táo giảm 1,09%;...
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 0,74%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,74%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,66%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,89%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 4,26%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 0,68%; món ăn, thức ăn chế biến sẵn tăng 7,00%; đồ uống không cồn và nước khoáng tăng 2,83%; sợi tăng 0,68%; sản phẩm may trang phục tăng 2,18%; giày, dép tăng 1,99%; hóa chất cơ bản tăng 12,24%; sản phẩm từ plastic tăng 2,91%; sản phẩm từ bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 2,16%; cấu kiện kim loại tăng 2,02%; máy vi tính và các thiết bị ngoại vi của máy vi tính tăng 4,80%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,76%; mô tô, xe máy tăng 1,95%; đồ chơi, trò chơi tăng 5,01%; điện sản xuất tăng 4,29%; điện mặt trời tăng 2,02%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 2,60%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 1,29%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 1,47%; sản phẩm gang, sắt thép giảm 0,58%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý giảm 2,16%; sản phẩm kim loại khác chưa được phân vào đâu giảm 1,83%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,45%; máy thông dụng giảm 0,46%; máy cho ngành dệt, may và da giảm 1,16%; sản phẩm khác chưa phân vào đâu giảm 2,91%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 0,45%; nước tự nhiên khai thác giảm 0,57%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 0,88%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tám tăng 4,79%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,92%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 3,04%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,43%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,69%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 8,11%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 17,00%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 10,99%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 4,39%; sản phẩm may trang phục tăng 8,61%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 16,77%; dịch vụ liên quan đến in tăng 9,51%; hóa chất cơ bản tăng 10,79%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,89%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 12,19%; sản phẩm từ plastic tăng 6,21%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 11,40%; đá đã được cắt, tạo dáng và hoàn thiện tăng 5,60%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 28,87%; cấu kiện kim loại tăng 6,90%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 42,44%; máy khai thác mỏ và xây dựng tăng 5,26%; mô tô, xe máy tăng 14,03%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,31%; đồ chơi, trò chơi tăng 5,15%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,42%; điện sản xuất tăng 11,38%; điện mặt trời tăng 5,63%; nước tự nhiên khai thác tăng 7,04%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 23,50%; vải dệt thoi giảm 5,55%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,58%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 1,39%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 1,93%; thiết bị điện khác giảm 1,48%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 9,12%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 11,66%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,53%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,72%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,53%;...
6. Hoạt động vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Tám ước đạt 2.510 tỷ đồng, tăng 2,23% so với tháng trước và tăng 16,48% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 19.525 tỷ đồng, tăng 17,28% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:
Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Tám ước đạt 6,1 triệu lượt người vận chuyển và 554 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 0,76% về lượt người vận chuyển, tăng 0,52% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 12,85% về lượt người vận chuyển, tăng 12,25% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng 8 ước đạt 430 tỷ đồng, tăng 1,96% so với tháng trước và tăng 14,45% so cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 47 triệu lượt người vận chuyển và 4.310 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,47% về lượt người vận chuyển và tăng 10,31% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 3.347 tỷ đồng, tăng 12,28%.
Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Tám ước đạt 6,8 triệu tấn vận chuyển và 1.838 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 1,64% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,38% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,31% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,18% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.853 tỷ đồng, tăng 2,59% so với tháng trước và tăng 17,82% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 52,9 triệu tấn vận chuyển và 14.324 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 12,79% về tấn hàng hóa vận chuyển và 12,99% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 14.420 tỷ đồng, tăng 19,51%.
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tám ước đạt 206 tỷ đồng, giảm 0,60% so với tháng trước và tăng 6,86% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.575 tỷ đồng, tăng 8,25%.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Tám ước đạt 20 tỷ đồng, tăng 4,62% so với tháng trước và tăng 55,10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung tám tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 184 tỷ đồng, tăng 24,28% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a) Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước tháng Tám ước đạt 4.076 tỷ đồng, giảm 24,45% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 3.481 tỷ đồng, giảm 28,73%; thuế xuất nhập khẩu 595 tỷ đồng, tăng 16,43%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 99 tỷ đồng, giảm 52,73%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 355 tỷ đồng, tăng 111,99%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.104 tỷ đồng, tăng 96,53%; thu thuế thu nhập cá nhân 200 tỷ đồng, giảm 41,16%; các khoản thu về đất 1.555 tỷ đồng, giảm 53,14%;...
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
tháng Tám và tám tháng năm 2026
T8.2026
(Tỷ đồng)
8T.2026
(Tỷ đồng)
T8.2026
T8.2025
(%)
8T.2026
8T.2025
(%)
Tổng số
4.076
50.374
75,55
75,24
Thu nội địa
3.481
45.112
71,27
71,82
Tr. đó: Thu từ đất
1.555
17.087
46,86
43,27
Thu Hải quan
595
5.261
116,43
127,15
Tính chung tám tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 50.374 tỷ đồng, giảm 24,76% so với cùng kỳ năm trước và đạt 59,79% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 45.112 tỷ đồng, giảm 28,18%; thuế xuất nhập khẩu 5.261 tỷ đồng, tăng 27,15%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 881 tỷ đồng, giảm 4,91%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.663 tỷ đồng, tăng 26,65%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 18.530 tỷ đồng, tăng 29,56%; thu lệ phí trước bạ 1.131 tỷ đồng, tăng 3,96%; thuế thu nhập cá nhân 2.478 tỷ đồng, giảm 5,69%; các khoản thu về đất 17.087 tỷ đồng, giảm 56,73%.
b) Chi ngân sách nhà nước địa phương
Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Tám ước đạt 5.201 tỷ đồng, tăng 76,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 2.200 tỷ đồng, tăng 120,29%; chi thường xuyên 3.000 tỷ đồng, tăng 54,44%.
Tính chung tám tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 50.128 tỷ đồng, tăng 14,67% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 31.067 tỷ đồng, tăng 14,94%; chi thường xuyên 19.061 tỷ đồng, tăng 14,23%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 7.413 tỷ đồng, tăng 20,25%; chi sự nghiệp y tế 1.754 tỷ đồng, tăng 30,42%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 202 tỷ đồng, giảm 24,53%; chi đảm bảo xã hội 4.326 tỷ đồng, tăng 108,43%; chi quản lý hành chính 3.344 tỷ đồng, giảm 28,45%.
c) Hoạt động ngân hàng
Ước tính đến 31/8/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 335.500 tỷ đồng, tăng 8,47% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 330.500 tỷ đồng, tăng 7,58% và chiếm 98,51% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 5.000 tỷ đồng, tăng 139,46% và chiếm 1,49%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/8/2026 đạt 282.500 tỷ đồng, tăng 6,64% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 199.000 tỷ đồng, tăng 3,78%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 83.500 tỷ đồng, tăng 14,13%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 272.300 tỷ đồng, tăng 5,32%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 10.200 tỷ đồng, tăng 60,0%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 185.640 tỷ đồng, tăng 6,91% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 119.500 tỷ đồng, tăng 4,52%; xuất khẩu 1.715 tỷ đồng, tăng 5,86%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 59.000 tỷ đồng, tăng 12,71%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/8/2026 ước tính là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,62% dư nợ tín dụng), giảm 7,06% so với với thời điểm 31/12/2025.
d) Bảo hiểm xã hội
Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 8/2026 là 675.920 người, tăng 79.544 người, tương ứng tăng 13,3% so với cùng kỳ năm trước; tăng 38.589 người, tương ứng tăng 6,1% so với năm 2025, đạt 98,3% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 104,6% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 51,75% so với lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó: số người tham gia BHXH bắt buộc 586.641 người, tăng 7.851 người (tăng 1,4%) so với tháng trước; tăng 69.817 người (tăng 13,5%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 40.345 người (tăng 7,4%) so với năm 2025, đạt 69,1% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 106% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026; số người tham gia BHXH tự nguyện là 89.279 người, tăng 100 người (tăng 0,1%) so với tháng trước; tăng 9.727 người (tăng 12,2%) so với cùng kỳ năm trước, giảm 1.756 người (giảm 1,9%) so với năm 2025, đạt 93,4% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 96,8% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026.
Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/7/2026 là 563.645 người, tăng 8.005 người (tăng 1,4%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 35.381 người (tăng 6,7%) so với năm 2025. Số người tham gia BHYT là 2.956.310 người (bao gồm 126.652 người bảo lưu năm 2025), giảm 594 người (giảm 0,02%) so với tháng trước, tăng 146.060 người (tăng 5,2%) với cùng kỳ năm trước, tăng 32.744 người (tăng 1,1%) so với năm 2025.
Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 7/2026 là 9.970 tỷ đồng, tăng 1.408 tỷ đồng (tăng 14,1%) so với tháng trước, tăng 1.221 tỷ đồng (tăng 14%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 56,4% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao, đạt 105,8% kế hoạch giao tháng 7/2026. Chi BHXH trong tháng 7/2026 đạt 1.095 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 7/2026, chi BHXH 7.139 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.970 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 5.169 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 7/2026 là 32,5 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đã chi 186 tỷ đồng.
Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 7/2026 là 371 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 7/2026, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 2.220 tỷ đồng, tăng 7,90% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 870 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.350 tỷ đồng.
II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội
Trong tháng Tám, tổng số lao động được giải quyết việc làm trong toàn tỉnh là 5.100 người, trong đó xuất khẩu lao động là 650 người. Giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 1.321 người; tư vấn giới thiệu việc làm cho 4.369 người. Lũy kế tám tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 41.220 người (đạt 69% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 4.690 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 7.851 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 24.000 người.
Tỉnh triển khai thực hiện Kế hoạch giảm nghèo bền vững năm 2026 và giai đoạn 2026-2030. Rà soát, xác định nhu cầu hỗ trợ của người lao động thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ mới thoát nghèo, xây dựng kế hoạch tổ chức các hoạt động hỗ trợ tạo việc làm bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Các hội, đoàn thể tỉnh, UBND các xã, phường và cộng đồng doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh phối hợp triển khai các giải pháp hỗ trợ tạo việc làm, góp phần nâng cao thu nhập và thực hiện hiệu quả mục tiêu giảm nghèo bền vững.
Công tác Người có công: tám tháng năm 2026, công tác đền ơn đáp nghĩa và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, thiết thực và hiệu quả. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, toàn tỉnh đã tổ chức trao tặng quà của Đảng, Nhà nước cho 100.791 người có công với cách mạng, thân nhân và người thờ cúng liệt sĩ; hoàn thành trao 106.413 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí 32,65 tỷ đồng. Đồng thời, quà tặng của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh được trao với tổng kinh phí 104,58 tỷ đồng; các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp và các tổ chức, cá nhân đã trao trên 15.000 suất quà, với tổng kinh phí trên 8,4 tỷ đồng.
Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), toàn tỉnh đã trao tặng quà của Chủ tịch nước đối với 104.681 người có công, với tổng kinh phí trên 32,1 tỷ đồng; quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đối với 115.490 người có công, với tổng kinh phí 103,941 tỷ đồng. Tổ chức 03 Đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh đi dâng hương, viếng các Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và các công trình ghi công liệt sĩ từ ngày 10-19/7/2026, gồm: Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 (tỉnh Quảng Trị), Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) và các Nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tổ chức 04 Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà tại gia đình đối với người có công với cách mạng và thân nhân tại 18 xã trên địa bàn tỉnh. Thăm, tặng quà tại 07 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng trong và ngoài tỉnh với tổng kinh phí 51.000.000 đồng. Tổ chức Đoàn đại biểu người có công tỉnh Hưng Yên tham dự Hội nghị tri ân người có công với cách mạng toàn quốc từ ngày 22-23/7/2026.
Công tác giải quyết chế độ, chính sách ưu đãi người có công được thực hiện kịp thời, hiệu quả. Từ đầu năm đến nay, tỉnh đã giải quyết trên 9.820 hồ sơ thủ tục hành chính, 100% hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn, tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Tỷ lệ chi trả trợ cấp ưu đãi qua tài khoản đạt 95,56%. Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Trung tâm Điều dưỡng, chăm sóc người có công đang nuôi dưỡng tập trung 21 thương binh, bệnh binh nặng, bảo đảm tốt điều kiện chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần.
Đến nay, toàn tỉnh có 369 công trình ghi công liệt sĩ. Tính đến ngày 12/8/2026, hoàn thành lấy mẫu 84/153 nghĩa trang liệt sĩ, đã khai quật lấy mẫu 2.483/4.353 mộ, đã bàn giao 1.777 mẫu hài cốt liệt sĩ về Viện Pháp y Quân đội; số mẫu hiện đang lưu tại Phòng lưu mẫu tạm thời: 312 mẫu.
2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá và thư viện
Toàn tỉnh tuyên truyền kỷ niệm niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tổ chức tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô, loa phát thanh, tuyên truyền miệng và hình ảnh trực quan trên địa bản tỉnh. Tổ chức các hoạt động tuyên truyền nhân kỷ niệm 300 năm Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn, như: Trưng bày, giới thiệu 2.106 cuốn sách, báo, tài liệu và 28.000 trang tài liệu số; nói chuyện chuyên đề; trao tặng sách cho các em học sinh tiêu; viết chuyên đề giới thiệu sách…; trưng bày sách báo, tài liệu tại Hội thảo khoa học quốc gia “Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn - Di sản văn hóa và giá trị thời đại” tại Trung tâm Hội nghị tỉnh; biên soạn thư mục gồm 80 bài báo, tạp chí của Trung ương có nội dung về tỉnh Hưng Yên; tổ chức Liên hoan “Giai điệu tuổi hồng và Thiếu nhi kể chuyện” hè năm 2026; chấm, chọn bài dự thi Cuộc thi Đại sứ văn hóa đọc tỉnh Hưng Yên; cấp 475 thẻ bạn đọc, phục vụ 6.355 lượt bạn đọc, luân chuyển 12.448 lượt sách, báo; có 3.200 lượt truy cập Trang thông tin điện tử của Thư viện tỉnh; số hóa 9.201 trang tài liệu liệu phục vụ lưu trữ và nhu cầu của bạn đọc trên nền tảng số; hỗ trợ 04 giá sách, tặng 100 bản sách và luân chuyển 500 bản sách cho Phòng đọc Tổ dân phố 10, phường Trần Lãm, tỉnh Hưng Yên.
Về nghệ thuật biểu diễn: Tỉnh tổ chức 16 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp, tiêu biểu là: Biểu diễn vở chèo “Bảng nhãn Lê Quý Đôn” và hoạt cảnh chèo “Nặng nghĩa non sông” dịp kỷ niệm 300 năm Ngày sinh của Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn; Vở chèo “Bản hùng ca xứ nhãn” tại Lễ hội Nhãn lồng năm 2026; chương trình ca múa nhạc tại phố đi bộ Nam Hòa, phường Phố Hiến.
Trung tâm văn hóa - điện ảnh tỉnh tổ chức 80 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 60 buổi tại rạp) thực hiện nhiệm vụ chính trị và phục vụ nhân dân, khán giả, tiêu biểu là: Tổ chức chiếu phim lưu động miễn phí tuyên truyền kỷ niệm 81 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam với bộ phim tư liệu “Hồ Chí Minh chân dung một con người"; các phim truyện của Điện ảnh Việt Nam như: “Mưa đỏ”, “Sao tháng Tám”, “Mùi cỏ cháy”.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh tổ chức chấm thi các tác phẩm tham gia cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên. Phối hợp với Trung tâm Triển lãm Văn hóa - Nghệ thuật Việt Nam tổ chức trưng bày, triển lãm hình ảnh, hiện vật kỷ niệm 300 năm Ngày sinh Danh nhân văn hoá Lê Quý Đôn. Tiếp tục triển khai Kế hoạch số 246/KH-UBND ngày 22/6/2026 về tổ chức cuộc thi sáng tác ca khúc về tỉnh Hưng Yên năm 2026.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Về thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức thành công Lễ khai mạc Đại hội TDTT tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026. Tổ chức các giải thể thao trong chương trình Đại hội TDTT, gồm: Dân vũ; Khiêu vũ; Điền kinh; Bóng chuyền hơi nam, nữ; Karate; Võ cổ truyền; Taewondo.
Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tỉnh tập huấn, tham dự 11 giải thể thao quốc gia và 02 giải quốc tế, đạt 66 huy chương các loại, trong đó 16 HCV, 18 HCB, 32 HCĐ (02 giải quốc tế, đạt 05 HCĐ).
c) Hoạt động du lịch
Tỉnh tổ chức các hoạt động quảng bá văn hóa, du lịch tỉnh Hưng Yên tại Triển lãm “Không gian Du lịch, Văn hoá - Hội nhập và lan toả” tại Gia Lai, hưởng ứng hoạt động Năm Du lịch quốc gia 2026. Tham dự Hội nghị xúc tiến du lịch Lâm Đồng tổ chức tại Hà Nội; đăng tải tin tức, sự kiện, bài viết quảng bá trên bản đồ số du lịch Hưng Yên; Đặc sản Văn hoá, Thể thao và Du lịch; quảng bá du lịch Hưng Yên trên 5 trang báo điện tử: Báo điện tử Pháp luật Việt Nam; Tạp chí điện tử Gia đình mới; Tạp chí Nông thôn và Phát triển; Báo điện tử Dân Việt; Tạp chí điện tử Người đưa tin. Phối hợp với Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên thực hiện thu âm, ghi hình chương trình “60 phút lắng nghe”: chủ đề “Du lịch mùa thu tại Hưng Yên – Khám phá không gian du lịch mới”; tổ chức Workshop, Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số; xúc tiến quảng bá du lịch tại Lễ hội và xúc tiến thương mại Nhãn lồng Hưng Yên năm 2026.
Hoàn thiện nâng cấp giao diện Cổng du lịch thông minh; bổ sung chuyên mục giới thiệu sản phẩm OCOP; cập nhật số hóa các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử. Viết bài và đưa tin trên website, fanpage, zalo.oa, facebook, youtube về các hoạt động du lịch trong tỉnh và cả nước (01 banner, 8 bài; 02 video livestream; chia sẻ 50 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam và Báo và Phát thanh, Truyền hình Hưng Yên thu hút hơn 3.000 lượt truy cập).
3. Giáo dục, đào tạo
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Hưng Yên xếp thứ 9/34 tỉnh, thành phố về điểm trung bình các môn (tăng 2 thứ hạng so với năm 2025), trong đó môn Toán xếp thứ 5; môn Công nghệ Nông nghiệp xếp thứ 5; môn Tin học xếp thứ 7; toàn tỉnh có 409 điểm 10 (trong đó môn Giáo dục kinh tế pháp luật thí sinh Hưng Yên là 1 trong 2 thí sinh của toàn quốc đạt điểm 10); có 01 học sinh đạt thủ khoa toàn quốc khối A01, 01 học sinh đạt á khoa toàn quốc khối A00. Tỉ lệ tốt nghiệp THPT năm 2026 đạt 99,6%. Ngoài ra các tập thể, cá nhân ngành Giáo dục đã tích cực tham gia các kỳ thi, cuộc thi, sân chơi trí tuệ do các bộ, ban, ngành trung ương và các tổ chức tổ chức đã đạt thành tích cao, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trên địa bàn tỉnh: 01 nhóm học sinh đoạt Huy chương Vàng tại Cuộc thi Khoa học, kỹ thuật, đổi mới và sáng tạo quốc tế EUREKA WARSAW năm 2026 tại Ba Lan; 10 giáo viên, 61 học sinh đoạt giải tại Hội thi An toàn giao thông cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông năm học 2025-2026; giải Khuyến khích toàn đoàn tại Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc lần thứ IV (trong đó, tập thể: 01 giải Nhất, 01 giải Ba, 3 giải Khuyến khích; cá nhân: 01 giải Nhất, 01 giải Nhì, 04 giải Ba, 3 giải Khuyến khích); 02 nhóm học sinh đoạt giải Ba Vòng Chung kết Cuộc thi Học sinh, sinh viên với ý tưởng khởi nghiệp lần thứ VIII (SV-STARUP) lần thứ VIII năm 2026; 01 giải Khuyến khích Cuộc thi “Sáng kiến bảo đảm trật tự trường học về phòng, chống bạo lực học đường” cấp toàn quốc; 01 học sinh đoạt giải Nhất vòng thi Quý III và được tham dự Vòng Chung kết chương trình Đường lên đỉnh Olympia năm 2026 (Hưng Yên là 1 trong 4 điểm cầu truyền hình trực tiếp Vòng chung kết trên toàn quốc);...
Năm học 2025-2026, các cơ sở GDNN tuyển sinh được 11.354 người (cao đẳng 3.279 người, trung cấp 7.418 người, sơ cấp 657 người). Tổng số tốt nghiệp: gần 11.000 người (cao đẳng gần 3.000 người, trung cấp khoảng 7.000 người, sơ cấp 650 người). Tỷ lệ lao động có việc làm sau khi tốt nghiệp đạt khoảng 90%.
Thực hiện Thông báo số 679-TB/TU ngày 04/8/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về Phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, giáo dục nghề nghiệp công lập tỉnh Hưng Yên, Sở Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ, các sở, ngành và UBND các xã, phường tham mưu UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2418/QĐ-UBND ngày 05/8/2026 phê duyệt Phương án tổng thể sắp xếp cơ sở giáo dục; Kế hoạch số 312/KH-UBND ngày 05/8/2026 tổ chức thực hiện Phương án; đồng thời hướng dẫn các xã, phường xây dựng Đề án sắp xếp cơ sở giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở trên địa bàn cấp xã (Công văn số 2751/SGDĐT-TCCB ngày 07/8/2026). Đến ngày 20/8/2026, 88% xã, phường đã hoàn thành việc sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm mon, tiểu học, trung học cơ sở công lập trên địa bàn, tổng số đầu mối cơ sở giáo dục công lập toàn tỉnh giảm 60,4% (giảm từ 1.163 cơ sở xuống còn 460 cơ sở, tương đương giảm 703 đầu mối). Sở Giáo dục và Đào tạo hoàn thành Đề án hợp nhất 15 Trung tâm GDNN-GDTX thành 07 Trung tâm GDNN-GDTX. Các cơ sở giáo dục chuẩn bị sách giáo khoa, dụng cụ học tập và các điều kiện cho năm học 2026-2027; hướng dẫn thực hiện tiêu chuẩn bàn ghế học sinh trong các cơ sở giáo dục phổ thông; chỉ đạo bố trí học sinh tham dự Lễ khai mạc Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Hưng Yên lần thứ X năm 2026. Chuẩn bị tổ chức Lễ Khai giảng năm học 2026-2027 trên địa bàn tỉnh.
4. Hoạt động y tế
Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Hè; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 08: Tay chân miệng 159 ca; SXH 97 ca; Sởi 11 ca; Covid 184 ca; Ho gà 04 ca; Lao phổi 58 ca; VGB 43 ca; Bệnh do Adeno vi-rút 104 ca; Cúm 1.781 ca; Quai bị 09; Thủy đậu 10 ca; Tiêu chảy do Rota vi-rút 33 ca; VGC 16 ca.
Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 09 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.580 người thuộc 104/104 xã, phường), có 04 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.323 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/8/2026 là: 1.476 người.
Công tác vệ sinh an toàn thực phẩm: Trong tháng Tám, Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm đã thành lập 09 đoàn kiểm tra, lấy mẫu (04 Đoàn kiểm tra định kỳ, 04 đoàn kiểm tra đột xuất, 01 đoàn lấy mẫu) đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm trên địa bàn tỉnh. Tổng số cơ sở được kiểm tra, lấy mẫu: 74 cơ sở, lấy 109 mẫu thực phẩm đang chờ kết quả kiểm nghiệm, xử phạt 05 cơ sở với số tiền 118 triệu đồng.
Tổ chức lấy 90 mẫu thực phẩm, trong đó: (1) Xét nghiệm nhanh đối với 43 mẫu thực phẩm, kết quả: 43/43 mẫu thực phẩm đều âm tính với các chỉ tiêu Sabutamol, dư lượng thuốc thuốc trừ sâu, Salicylic, độ sạch bát đĩa,... và đo nồng độ Nitrat trong giới hạn cho phép. (2) Gửi Labo kiểm nghiệm đánh giá chất lượng thực phẩm đối với 47 mẫu, trong đó: 15 mẫu nước uống đóng chai đóng bình, 01 mẫu nước khoáng chanh, 31 mẫu nguyên liệu thực phẩm (đang chờ kết quả).
5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ
Trong tháng Tám (từ ngày 24/7/2026 - 23/8/2026), toàn tỉnh phát hiện 16 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 16 vụ với số tiền xử phạt 812,5 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 07 vụ, tương ứng giảm 30,43%; số vụ đã xử lý giảm 07 vụ, giảm 30,43%; số tiền xử phạt tăng 299 triệu đồng, tăng 58,20%. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm môi trường đã phát hiện tăng 9 vụ, tăng 128,57%; số vụ đã xử lý tăng 16 vụ, tăng 166,67%; số tiền xử phạt tăng 183 triệu đồng, tăng 28,99%. Lũy kế tám tháng năm 2026, toàn tỉnh phát hiện 84 vụ vi phạm, đã xử lý 96 vụ với số tiền xử phạt 4.691 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm đã phát hiện giảm 44 vụ, tương ứng giảm 34,38%; số vụ đã xử lý tăng 11 vụ, tăng 12,94%; số tiền xử phạt giảm 377 triệu đồng, giảm 7,44%. Các hành vi vi phạm chủ yếu là đổ rác thải, xả thải không đúng quy định, với mức xử phạt hành chính tương đối thấp.
Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/7/2026 đến ngày 14/8/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 05 vụ cháy (xã Yên Mỹ 03 vụ, xã Hoàn Long 01 vụ, xã Mỹ Hào 01 vụ); không có vụ nổ; không bị thiệt hại về người. Giá trị thiệt hại về tài sản là 60 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy, nổ tăng 01 vụ, tương ứng tăng 25,0%. Lũy kế tám tháng năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 32 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản là 4.221,5 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ cháy, nổ tăng 7 vụ, tăng 28,0%; số người chết giảm 6 người, giảm 85,71%; số người bị thương giảm 5 người, giảm 62,50%.
6. An toàn giao thông
Từ ngày 15/7/2026 đến 14/8/2026, toàn tỉnh xảy ra 48 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 24 người; làm bị thương 39 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 19 vụ, tăng 65,52%; số người chết giảm 01 người, giảm 4,0%; số người bị thương tăng 28 người, tăng 254,55%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 08 vụ, giảm 14,29%; số người chết giảm 08 người, giảm 25,0%; số người bị thương tăng 06 người, tăng 18,18%. Lũy kế tám tháng đầu năm 2026 (tính từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/8/2026), toàn tỉnh xảy ra 310 vụ (đường bộ 307 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết 210 người (đường bộ 209 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 171 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 65 vụ, giảm 17,33%; số người chết giảm 09 người, giảm 4,11%; số người bị thương giảm 65 người, giảm 27,54%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Tin khác