02213 863 641 /0978240366 | hungyen@nso.gov.vn

Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tháng 6 và 6 tháng năm 2026

27/10/2026 08:53

Sáu tháng đầu năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài, tác động mạnh đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa cơ bản, dịch vụ vận tải và thương mại toàn cầu. Trong nước, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn của nền kinh tế được đảm bảo; tuy nhiên, áp lực điều hành kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh năng lượng, kiểm soát lạm phát còn rất lớn,... Trước bối cảnh đó, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ các chủ trương, chính sách, văn bản chỉ đạo của Trung ương; nắm chắc tình hình, chủ động có giải pháp ứng phó, thích ứng linh hoạt, kịp thời, chắc chắn trước các vấn đề phát sinh; đổi mới, sáng tạo, đột phá, quyết liệt chỉ đạo, điều hành trên các lĩnh vực; quyết liệt chỉ đạo công tác thu ngân sách, đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy chuyển đổi số; tập trung giải quyết các khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, nhà đầu tư; tổ chức làm việc với các sở, ngành, xã, phường trong tỉnh, rà soát các “điểm nghẽn”, “rào cản” trong từng ngành, từng lĩnh vực, từng địa phương để có giải pháp tháo gỡ kịp thời... Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị; sự lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sâu sát, kịp thời, có trọng tâm của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh; sự chủ động, tích cực của các sở, ban, ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị trong tỉnh; sự đồng thuận, ủng hộ của Nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh trong sáu tháng đầu năm 2026 cơ bản ổn định và đạt được nhiều kết quả tích cực, khá toàn diện trên các lĩnh vực.

I. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

1. Tăng trưởng kinh tế

Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) 6 tháng đầu năm 2026 ước tăng 10,72% so với cùng kỳ năm 2025, trong đó: Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,71% (đóng góp 0,42 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); công nghiệp và xây dựng tăng 14,26% (đóng góp 7,51 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); khu vực thương mại, dịch vụ tăng 8,87% (đóng góp 2,28 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh); thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tăng 8,28% (đóng góp 3,28 điểm phần trăm vào tăng trưởng kinh tế chung của cả tỉnh). Như vậy, tăng trưởng kinh tế 6 tháng đầu năm 2026 của tỉnh đạt mức khá cao, bảo đảm mức tăng trưởng hai con số.

So với các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng thì Hưng Yên xếp thứ 4/6 tỉnh, thành phố và xếp thứ 5/34 tỉnh, thành phố của cả nước. Tăng trưởng của các tỉnh, thành phố trong vùng đồng bằng sông Hồng như sau: Ninh Bình tăng 11,44%; Hải Phòng tăng 11,33%; Quảng Ninh tăng 11,11%; Bắc Ninh tăng 10,56%; Hà Nội tăng 8,22%.

Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: Trong sáu tháng đầu năm 2026, thời tiết tương đối thuận lợi, không có dich bệnh xảy ra đối với cây trồng, vật nuôi. Sơ bộ diện tích gieo trồng vụ đông xuân năm 2026 ước đạt 157.149 ha, giảm 2,21% (giảm 3.543 ha) so với năm 2025. Trong cơ cấu cây trồng, diện tích lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất - chiếm 60,49% với 95.054 ha, giảm 1,91% (giảm 1.755 ha). Qua khảo sát cho thấy, năng suất của hầu hết các loại cây hằng năm vụ đông xuân đều tăng khá hơn so với cùng kỳ năm trước. Ước tính trong sáu tháng năm nay, sản lượng thịt hơi xuất chuồng đều tăng so với cùng kỳ năm trước. Nuôi trồng thủy sản theo hướng thâm canh được đẩy mạnh nên sản lượng thủy sản tiếp tục có xu hướng tăng. Tính chung sau tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước tính đạt 114.721 tấn, tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước.

Sản xuất công nghiệp và xây dựng: Sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất công nghiệp vẫn tiếp tục duy trì được tốc độ tăng khá, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước. Một số ngành công nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng khá như: sản xuất trang phục tăng 22,21%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 28,41%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,09%; sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,46%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,34%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 21,76%... tuy nhiên, cũng có một số ngành có kết quả giảm hoặc tăng thấp so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 23,60%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,32%; dệt tăng 3,23%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,36%;...

Hoạt động xây dựng trong sáu tháng đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên duy trì đà tăng trưởng khá. Giá trị sản xuất theo giá so sánh của ngành xây dựng tăng 13,38% so với cùng kỳ năm trước. Các khu công nghiệp; các công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông, tiếp tục được tập trung đầu tư, nâng cấp và mở rộng theo quy hoạch phát triển đô thị và vùng; các dự án khu đô thị lớn, hiện đại được triển khai như khu đô thị Ecopark; Vinhomes Ocean Park 2, 3; khu đô thị Phố Nối;... cùng với các dự án nhà ở xã hội tại một số địa phương đã tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Khu vực dịch vụ có tăng trưởng đạt 8,87%. Hầu hết các ngành dịch vụ đều duy trì mức tăng trưởng khá, như: ngành thương nghiệp tăng 12,55%; vận tải, kho bãi tăng 9,57%; lưu trú và ăn uống tăng 7,14%; tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,51%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 13,52%; hoạt động vui chơi và giải trí tăng 10,01%; giáo dục và đào tạo tăng 8,0%; y tế và hoạt động trợ giúp xã hội tăng 9,12%;...

2. Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản

a) Nông nghiệp

Trồng trọt

Cây hằng năm: Diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông xuân năm 2026 trên địa bàn tỉnh ước đạt 157.149 ha, giảm 2,21% (giảm 3.543,48 ha) so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, diện tích gieo trồng lúa 95.054 ha, giảm 1,81% tương đương giảm 1.755,28 ha. Diện tích gieo một số cây hàng năm khác như sau: ngô 8.984 ha, giảm 3,89%; cây lấy củ có chất bột 6.171 ha, giảm 1,97%; cây có hạt chứa dầu 3.832 ha, giảm 0,75%; cây rau, đậu, hoa các loại 39.884 ha, giảm 3,27%; cây hằng năm khác đạt 2.745 ha, tăng 2,37% so với cùng kỳ năm trước. Diện tích gieo trồng vụ đông xuân năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó diện tích lúa giảm là yếu tố chủ yếu làm giảm diện tích gieo trồng chung. Nguyên nhân chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển sang mục đích phi nông nghiệp để triển khai các dự án công nghiệp, đô thị và hạ tầng kỹ thuật như Khu công nghiệp Kim Động, Khu công nghiệp số 5, KCN VSIP Thái Bình, KCN Hải Long và một số dự án khác trên địa bàn tỉnh. Bên cạnh đó, một số diện tích được chuyển sang trồng cây lâu năm, cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn hoặc tạm thời không đưa vào sản xuất. Cụ thể: 1.828 ha chuyển sang đất phi nông nghiệp; chuyển sang cây hằng năm khác 23,5 ha; chuyển sang cây lâu năm 26,5 ha; chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản 18,5 ha; bỏ hoang 126,8 ha.

Vụ đông xuân năm 2026, sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh diễn ra trong điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi: rét đậm không kéo dài; đầu vụ xuân, thời tiết khô hanh, có nắng, thuận lợi cho làm đất (100% diện tích lúa Xuân đã được cày ải đúng kế hoạch). Công tác cung ứng giống, phân bón, nước tưới được triển khai kịp thời, đồng bộ, góp phần bảo đảm khung thời vụ. Trên cây lúa, các đối tượng sâu bệnh chính như bệnh đạo ôn, sâu cuốn lá nhỏ, rầy các loại, bệnh khô vằn, sâu đục thân, chuột và ốc bươu vàng phát sinh ở mức độ từ nhẹ đến trung bình, được kiểm soát hiệu quả, không để phát sinh dịch lớn gây thiệt hại trên diện rộng; tổng diện tích được hướng dẫn và tổ chức phòng trừ các đối tượng sinh vật gây hại đạt hàng chục nghìn ha, góp phần bảo vệ an toàn sản xuất vụ Xuân. Trên cây rau màu và cây ăn quả, các đối tượng sâu bệnh hại chính như sâu keo mùa thu trên ngô, sâu vẽ bùa, nhện đỏ trên cây có múi; bệnh sương mai, thán thư, sâu đục cuống quả trên nhãn, vải được theo dõi chặt chẽ và hướng dẫn phòng trừ kịp thời, hạn chế thiệt hại cho sản xuất. Hiện nay, các cây trồng đang phát triển tốt, hứa hẹn năng suất, sản lượng ổn định. Theo tổng hợp của ngành chuyên môn, đến thời điểm ngày 20/6/2026, toàn tỉnh cơ bản đã thu hoạch xong diện tích lúa đông xuân. Mặc dù đầu vụ có khô hạn nhẹ, nhưng điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi với nền nhiệt ấm sớm, mưa rào cuối vụ hợp lý. Các địa phương thực hiện tốt lịch thời vụ, cơ cấu giống hợp lý; người dân áp dụng kỹ thuật canh tác đồng bộ nên lúa sinh trưởng tốt, ít sâu bệnh. Đánh giá chung, vụ lúa xuân năm nay được mùa.

Ước tính năng suất và sản lượng của một số cây trồng vụ đông xuân năm 2026 như sau: năng suất lúa xuân 70,70 tạ/ha, tăng 0,41% (tăng 0,29 tạ/ha), sản lượng lúa xuân 672.030 tấn, giảm 1,41% (giảm 9.595 tấn) so với cùng kỳ năm trước; năng suất ngô 61,08 tạ/ha, tăng 0,99% (tăng 0,60 tạ/ha), sản lượng ngô 54.869 tấn, giảm 2,95% (giảm 1.666 tấn); năng suất đậu tương 18,73 tạ/ha, tăng 0,32% (tăng 0,06 tạ/ha), sản lượng 1.974 tấn, tăng 9,61% (tăng 173,14%); năng suất rau các loại 246,39 tạ/ha, giảm 0,59% (giảm 1,45 tạ/ha), sản lượng rau các loại 931.217 tấn, giảm 3,81% (giảm 36.923 tạ/ha);...

Cây lâu năm: Tình hình sản xuất cây lâu năm của Hưng Yên cơ bản ổn định. Ước tính tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm sáu tháng đầu năm 2026 đạt

23.716 ha, tăng 0,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây ăn quả (chiếm 85,61% diện tích) đạt 20.302 ha, tăng 0,06% (tương ứng tăng 12,10 ha). Ước tính diện tích hiện có một số cây ăn quả chủ yếu như: cây chuối 4.684 ha, giảm 2,14% (giảm 102 ha); cây ổi 1.105 ha, tăng 0,81% (tăng 9 ha); cây cam 1.831 ha, giảm 0,73% (giảm 14 ha); cây bưởi 2.483 ha, tăng 1,0% (tăng 25 ha), cây nhãn 5.690 ha, tăng 0,08% (tăng 4 ha); cây vải 1.802 ha, tăng 1,75% (tăng 31 ha). So với cùng kỳ năm trước, diện tích bưởi, vải, ổi và nhãn tiếp tục tăng, trong khi diện tích chuối và cam giảm do người dân chuyển đổi những diện tích cây ăn quả già cỗi, hiệu quả kinh tế thấp sang các loại cây trồng có giá trị kinh tế cao hơn hoặc dễ chăm sóc, phù hợp với nhu cầu thị trường. Ước tính sản lượng một số loại cây trồng chủ yếu như sau: chuối 82.300 tấn, tăng 4,11% (tăng 3.250 tấn); ổi 13.800 tấn, tăng 5,05% (tăng 663 tấn); đu đủ 3.720 tấn, tăng 3,65% (tăng 131 tấn); cam 22.860 tấn, tăng 0,34% (tăng 78 tấn); táo 4.600 tấn, tăng 1,55% (tăng 70 tấn).

Từ giữa tháng Năm đến hết tháng Sáu, trên địa bàn các xã Tống Trân, Đoàn Đào, Tiên Tiến, Nguyễn Trãi, các nhà vườn bước vào cao điểm thu hoạch vải lai chín sớm và vải trứng Hưng Yên. Năm nay, do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết bất lợi trong giai đoạn phân hóa mầm hoa và đậu quả nên tỷ lệ đậu quả thấp hơn năm trước, dẫn đến sản lượng vải dự kiến giảm. Mặc dù vậy, chất lượng quả nhìn chung vẫn được bảo đảm, mẫu mã đẹp, vị ngọt đậm và giá bán tương đối thuận lợi. Đối với cây nhãn - cây trồng đặc sản của tỉnh, phần lớn diện tích đang trong giai đoạn phát triển quả. Hiện các nhà vườn tập trung thực hiện các biện pháp chăm sóc như tỉa cành, tạo tán, bón phân, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh nhằm nâng cao chất lượng quả. Năm nay cây nhãn có tỷ lệ ra hoa, đậu quả thấp hơn cùng kỳ năm trước do ảnh hưởng của điều kiện thời tiết, dẫn đến sản lượng dự kiến giảm đáng kể.

Chăn nuôi

 Tình hình chăn nuôi trên địa bản tỉnh Hưng Yên trong tháng cơ bản ổn định và phát triển, con giống tiếp tục được sản xuất tại các trang trại, hộ chăn nuôi đảm bảo các điều kiện an toàn sinh học, phục vụ cho công tác tái đàn năm 2026. Công tác phòng, chống dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm được các cấp các ngành quan tâm chỉ đạo.

Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trong tháng cơ bản được kiểm soát tốt. Không ghi nhận trường hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm trên địa bàn tỉnh. Công tác giám sát, phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được các ngành chức năng và địa phương triển khai thường xuyên, góp phần bảo đảm an toàn cho sản xuất chăn nuôi. Trong 6 tháng đầu năm, từ nguồn vắc xin hỗ trợ của tỉnh, các địa phương đã thực hiện tiêm được: 44.890 liều vắc xin Dịch tả lợn; 33.725 liều vắc xin Lở mồm long móng; 126.360 liều vắc xin Tai xanh; 41.630 liều vắc xin Viêm da nổi cục; 40.600 liều vắc xin Tụ huyết trùng trâu bò; 3.296.600 liều vắc xin Cúm gia cầm. Việc triển khai tiêm phòng được thực hiện đồng bộ, đúng kế hoạch, góp phần nâng cao tỷ lệ miễn dịch trong đàn vật nuôi, hạn chế nguy cơ phát sinh và lây lan dịch bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho ngành chăn nuôi phát triển ổn định.

Ước tính tại thời điểm 30/06/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.015 con, giảm 7,48%; đàn bò 73.503 con, giảm 10,31%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.025.315 con, giảm 1,19%; đàn gia cầm (gà, vịt, ngan) 23.039 nghìn con, giảm 2,96% (trong đó: đàn gà đạt 17.050 nghìn con, giảm 1,60%) so với cùng thời điểm năm trước. Sản lượng thịt hơi xuất chuồng toàn tỉnh trong 6 tháng đầu năm 2026 ước ước tính như sau: thịt trâu 751 tấn, tăng 3,87%; thịt bò 7.445 tấn, tăng 3,89%; sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 148.460 tấn, tăng 5,90%; sản lượng thịt gia cầm xuất chuồng đạt 56.325 tấn, tăng 4,11% (trong đó thịt gà 42.990 tấn, tăng 4,23%); sản lượng trứng gia cầm 513.658 nghìn quả, tăng 3,89%; sản lượng sữa 5.120 tấn, giảm 0,49% so với cùng kỳ năm trước.

b) Lâm nghiệp

Trong sáu tháng đầu năm 2026, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh duy trì ổn định, không có biến động lớn. Công tác quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tiếp tục được các địa phương, đơn vị chức năng triển khai hiệu quả; không xảy ra cháy rừng, phá rừng. Diện tích rừng trồng mới tập trung trong tháng Sáu ước đạt 8 ha, tăng 14,29%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 825 m³, tăng 0,73%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 281 nghìn cây, tăng 0,90% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 8 ha, tăng 14,29%, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 2.660 m³, tăng 0,23%; sản lượng củi ước đạt 6.560 ster, giảm 0,02 % so với cùng kỳ năm trước.

c) Sản xuất thủy sản

Sản lượng thủy sản sáu tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 173.855 tấn, tăng 3,39% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 87.476 tấn, tăng 3,26%; tôm 2.316 tấn, tăng 3,09%; thủy sản khác 84.066 tấn, tăng 3,54%.

Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Sáu ước đạt 10.067 tấn, tăng 3,49% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.222 tấn, tăng 3,62%; tôm 128 tấn, tăng 3,44%; thủy sản khác 3.717 tấn, tăng 3,27%. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 56.952 tấn, tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 35.210 tấn, tăng 2,93%; tôm 775 tấn, tăng 3,54%; thủy sản khác 20.967 tấn, tăng 3,34%.

Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà phát triển ổn định. Các hình thức nuôi ngày càng đa dạng, từng bước được đầu tư theo hướng thâm canh, ứng dụng công nghệ và nâng cao hiệu quả sản xuất. Trong sáu tháng đầu năm 2026, thời tiết tương đối thuận lợi, môi trường nước ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng và phát triển tốt. Người nuôi chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong quản lý môi trường, lựa chọn con giống chất lượng và phòng, chống dịch bệnh, góp phần nâng cao năng suất và sản lượng nuôi trồng.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Sáu ước đạt 19.217 tấn, tăng 3,66% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.818 tấn, tăng 3,59%; tôm 378 tấn, tăng 3,57%; thủy sản khác 10.021 tấn, tăng 3,73%. Sáu tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 114.721 tấn, tăng 3,63% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 50.517 tấn, tăng 3,62%; tôm 1.406 tấn, tăng 3,44%; thủy sản khác 62.799 tấn, tăng 3,63%.

3. Công nghiệp, xây dựng

a) Chỉ số sản xuất công nghiệp

Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Sáu và sáu tháng năm 2026 như sau:

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Sáu tăng 0,03%, trong đó: khai khoáng tăng 0,21%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,12%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,36%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,36%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 45,51%; khí tự nhiên dạng khí tăng 19,23%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 5,95%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 5,39%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 5,03%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 3,7%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: tôm đông lạnh giảm 33,33%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 26,16%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 24,0%; quần áo các loại giảm 15,28%; phụ tùng khác của xe có động cơ giảm 11,13%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 10,05%;...

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Sáu tăng 16,56%, trong đó: khai khoáng giảm 7,99%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,82%; sản xuất và phân phối điện tăng 22,45%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 22,04%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 60,64%; mạch điện tử tích hợp tăng 56,15%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 53,99%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 52,99%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 51,91%; Nitơrat Amoni tăng 36,38%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 32,40%; điện sản xuất tăng 27,90%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 26,07%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 25,95%;.... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 43,43%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 17,72%; tôm đông lạnh giảm 17,70%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 13,55%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 10,28%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 2,90%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 1,93%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 0,52%;...

Chỉ số sản xuất công nghiệp (%)

T6.2026

T6.2025

6T.2026

6T.2025

Chung toàn ngành CN

116,56

115,15

Khai khoáng

92,01

104,03

Công nghiệp chế biến, chế tạo

115,82

115,96

SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng

122,45

107,26

Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải

122,04

115,04

Trong quý II năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ước tính tăng 15,75% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: khai khoáng giảm 3,10%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,62%; sản xuất và phân phối điện tăng 14,24%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 23,40%. Một số sản phẩm công nghiệp có khối lượng sản xuất trong quý II tăng so với cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 57,17%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 47,21%; mạch điện tử tích hợp tăng 40,62%; sắt, thép các loại tăng 39,84%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,…) tăng 26,09%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 22,17%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 16,39%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 15,73%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 15,26%; điện sản xuất tăng 14,39%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 14,20%;.... Các sản phẩm trong quý II giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 38,28%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 10,40%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 9,58%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 6,95%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 6,03%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 2,96%; tôm đông lạnh giảm 2,14%;....

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,15% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó:

Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 4,03%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 17,62%; khai khoáng khác tăng 4,03%.

Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,96%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 80,37%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 34,13%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 30,55%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 28,41%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,09%; sản xuất trang phục tăng 22,21%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 21,76%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 18,46%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,34%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,82%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 23,60%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 11,32%; dệt tăng 3,23%; sản xuất xe có động cơ tăng 3,36%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 3,87%;……

Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong sáu tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: thức ăn cho gia cầm tăng 86,03%; quần áo các loại tăng 56,12%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 47,38%; mạch điện tử tích hợp tăng 40,00%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 27,74%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 23,01%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 18,22%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 16,41%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 16,03%; mạch in khác tăng 14,09%;.... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,58%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 16,04%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 7,08%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 3,15%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 0,47%....

Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Việc bảo đảm nguồn điện sản xuất và phân phối điện là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và khu vực miền Bắc là nhiệm vụ quan trọng của ngành điện tỉnh Hưng Yên. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện sáu tháng đầu năm 2026 của tỉnh tăng 7,26% so với cùng kỳ, sản lượng điện sản xuất ước đạt 6.128 triệu Kwh tăng 9,58% so với cùng kỳ và điện thương phẩm đạt 5.750 triệu Kwh tăng 14,15% so với cùng kỳ.

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải 6 tháng đầu năm 2026 tăng 15,04% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,68%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 2,99%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 15,86%.

Trong sáu tháng đầu năm 2026, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH thương mại và CN Mỹ Việt sản phẩm sản xuất (SPSX) tăng 7,46%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 22,19%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 9,2%; Công ty TNHH Kết cấu thép Cơ khí Xây dựng tăng 44,49%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 45,87%; Công ty Cổ phần Công nghiệp KIM FORTRESS Việt Nam tăng 33,36%; Công ty Tôn Vikor tăng 28,3%; Công ty TNHH Quốc tế Công cụ Đỉnh Lực tăng 9,53%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 44,93%; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Hương Linh tăng 11,43%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 19,6%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 36,06%; Công ty Cổ phần Bảo Hưng tăng 45,74%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 36,14%; CN Công ty May 10 tăng 13,7%; CN Công ty Cổ phần Sản xuất Hàng thể thao tăng rất cao - tăng 251,5%; Công ty TNHH TAV tăng 13,39%; Công ty TNHH MXP tăng 61,06%; Công ty May xuất khẩu Việt Thái tăng 21,23%; CN Công ty TNHH Sơn Hà tăng 18,75%; Công ty TNHH PS Vina tăng 10,10 %; Công ty Cổ phần May Hà Thành tăng 336,05%; Công ty TNHH May mặc V.J.ONE tăng 44,34%; Công ty Cổ phần Đô Lương tăng 114,84%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 30,14%; Công ty TNHH Greenworks (sản xuất máy cắt cỏ) tăng 204,15%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 9,7%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 10,76%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 76,89%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 11,77%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 12,7%; Công ty Thép không gỉ Hà Anh tăng 23,99%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 12,51%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 44,64%; Công ty TNHH Thép dây Hoà Phát tăng 54,0%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 15,83%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 10,37%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 24,91%; Công ty TNHH Jp corelex Việt Nam tăng 13,09%; Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm tăng 5,06%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 14,33%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 23,1%; Công ty TNHH Chung Phát Hưng Yên tăng 96,97%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 4,36%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 49,86%; Công ty TNHH Hsin Yue Hsing tăng 38,91%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Hà Phương tăng 6,57%; Công ty TNHH thiết bị điện Lioa tăng 36,78%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 6,68%; Công ty TNHH Sews-Components Việt Nam tăng 35,51%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 10,83%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 25,10%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 2,29%;...

Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong sáu tháng đầu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 11,36%; CN Công ty Cổ phần Daikin giảm 23,13%; Công ty TNHH Thép Chính Đại giảm 6,91%; Công ty Cổ phần Thép Việt Ý giảm 15,9%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 4,95%; CN Công ty Cổ phần Giày Thăng Long giảm 24,46%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,6%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 66,36%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 14,67%; Công ty Cổ phần Khu công nghiệp TBS Sông Trà giảm 18,14%;...

b) Chỉ số sử dụng lao động

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh tại thời điểm cuối tháng Sáu tăng 4,05% so với tháng 6/2025, so với tháng trước tăng 0,59%, cộng dồn sáu tháng tăng 4,07% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số sử dụng lao động tháng Sáu tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện ổn định và có sự phát triển khá. Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong sáu tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 40,41%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,20%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 22,42%; sản xuất đồ uống tăng 18,76%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,21%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 16,41%;... Bên cạnh đó, trong sáu tháng đầu năm, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,22%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 5,22%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,78%; dệt giảm 4,41%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,95%;...

c) Hoạt động xây dựng

Hoạt động xây dựng trong sáu tháng năm 2026 trên địa bàn tỉnh Hưng Yên duy trì đà tăng trưởng khá, đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Các dự án hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị được triển khai đồng bộ, tạo động lực thúc đẩy ngành xây dựng phát triển. Hiện nay, trên địa bàn có 38 khu công nghiệp được quy hoạch phát triển. Trong đó, 19 khu công nghiệp đã được phê duyệt quy hoạch phân khu, quy hoạch chi tiết; 8 khu công nghiệp đang lập. Trong năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật các khu công nghiệp nhằm tăng khả năng thu hút đầu tư, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp xanh. Song song với phát triển công nghiệp, lĩnh vực bất động sản và nhà ở tiếp tục là điểm sáng. Đề án đưa 48 xã lên phường đang được tăng tốc nhằm mở rộng mạng lưới đô thị. Nhiều dự án khu đô thị lớn, hiện đại được triển khai như khu đô thị Ecopark; Vinhomes Ocean Park 2, 3; khu đô thị Phố Nối,... cùng với các dự án nhà ở xã hội tại một số địa phương. Các dự án này góp phần thúc đẩy quá trình đô thị hóa, tạo động lực tăng trưởng cho ngành xây dựng. Bên cạnh đó, các công trình hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là giao thông, tiếp tục được tập trung đầu tư, nâng cấp và mở rộng theo quy hoạch phát triển đô thị và vùng. Công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh được thực hiện quyết liệt; tiến độ thi công các công trình, nhất là công trình sử dụng vốn ngân sách nhà nước, được kiểm tra, đôn đốc thường xuyên. Khu vực dân cư duy trì hoạt động xây dựng ổn định; nhiều hộ gia đình đầu tư xây dựng, sửa chữa nhà ở, mở rộng cơ sở sản xuất kinh doanh. Khu vực doanh nghiệp tiếp tục mở rộng nhà xưởng, nâng cao năng lực sản xuất.

Giá trị sản xuất xây dựng toàn tỉnh sáu tháng đầu năm nay theo giá so sánh ước đạt 46.998 tỷ đồng, tăng 13,38% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: giá trị công trình nhà để ở ước đạt 23.218 tỷ đồng, tăng 15,89%; giá trị công trình nhà không để ở 9.216 tỷ đồng, tăng 43,75%; công trình kỹ thuật dân dụng 10.622 tỷ đồng, giảm 16,04%; hoạt động xây dựng chuyên dụng 3.942 tỷ đồng, tăng 67,27%. Theo giá hiện hành, giá trị sản xuất ngành xây dựng ước đạt 64.449 tỷ đồng, tăng 26,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: giá trị xây dựng của doanh nghiệp nhà nước 127 tỷ đồng, chiếm 0,20% tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng; doanh nghiệp ngoài nhà nước 42.738.258 tỷ đồng, chiếm 66,31%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 1.618 tỷ đồng, chiếm 2,51%; loại hình khác (xã, phường, hộ dân cư) 19.966 tỷ đồng, chiếm 30,98%. Phân theo loại công trình, giá trị công trình nhà để ở ước đạt 32.091 tỷ đồng, chiếm 49,79% tổng giá trị; giá trị công trình nhà không để ở 12.696 tỷ đồng, chiếm 19,70%; giá trị công trình kỹ thuật dân dụng 14.665 tỷ đồng, chiếm 22,76%; giá trị hoạt động xây dựng chuyên dụng 4.996 tỷ đồng, chiếm 7,75%.

4. Thu hút đầu tư và phát triển doanh nghiệp

Công tác thu hút đầu tư: Các hoạt động xúc tiến, thu hút đầu tư vào tỉnh được đẩy mạnh. Tổ chức làm việc với tổ chức nước ngoài và trong nước tìm hiểu môi trường đầu tư của tỉnh: Đoàn công tác Đại sứ quán Vương quốc Đan Mạch tại Việt Nam; Tập đoàn WHA (Thái Lan); Đại diện Quỹ đầu tư Lotus Invest Limited; Tập đoàn xây dựng Thái Bình Dương (Trung Quốc); Đoàn công tác Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam; Đoàn công tác Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản tại Việt Nam; Công ty TNHH phát triển Phú Mỹ Hưng; Hội Doanh nghiệp trẻ Hà Nội;… Sau các buổi làm việc có thông báo kết luận cụ thể về các nội dung công việc phải tập trung triển khai thực hiện, các khó khăn vướng mắc cần tháo gỡ và giao nhiệm vụ chủ trì, phối hợp cụ thể cho các sở, ngành, đơn vị liên quan, có đường găng tiến độ hoàn thành nhiệm vụ, công việc. Tổ chức các hội nghị gặp mặt doanh nghiệp, doanh nhân; đối thoại với doanh nghiệp; chương trình kết nối Hưng Yên - Nhật Bản;… nhằm tăng cường đối thoại, tháo gỡ khó khăn và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tỉnh ủy ban hành Kế hoạch số 51-KH/TU ngày 12/3/2026 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và ban hành Kế hoạch hành động triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29/NQ-CP ngày 24/02/2026 của Chính phủ và Kế hoạch số 51-KH/TU của Tỉnh ủy. Phê duyệt Chương trình hỗ trợ pháp lý liên ngành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh thu hút được 175 dự án đầu tư mới và 103 lượt dự án điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn mới và tăng thêm đạt khoảng 48,7 nghìn tỷ đồng và 858,1 triệu USD; cấp mới giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 2.870 doanh nghiệp, tăng 20,7% với tổng vốn 26.666 tỷ đồng và 1.481 chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh, tăng 4,1% so với cùng kỳ.


Về phát triển doanh nghiệp:

Tính từ ngày 22/5/2026 đến ngày 21/6/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 413 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 4.829 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 4.548 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 81 doanh nghiệp, sử dụng 3.238 lao động, vốn đăng ký 1.354 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 148 doanh nghiệp, sử dụng 560 lao động, vốn đăng ký 654 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 11 doanh nghiệp, sử dụng 163 lao động, vốn đăng ký 1.132 tỷ đồng; vận tải kho bãi 33 doanh nghiệp, sử dụng 122 lao động, vốn đăng ký 152 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 23 doanh nghiệp, sử dụng 109 lao động, vốn đăng ký 36 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 17 doanh nghiệp, sử dụng 83 lao động, vốn đăng ký 43 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 7 doanh nghiệp, sử dụng 15 lao động, vốn đăng ký 27 tỷ đồng;...

Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/6/2026, toàn tỉnh có 2.983 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 22.941 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 27.783 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.253 doanh nghiệp, sử dụng 4.841 lao động, vốn đăng ký đạt 4.475 tỷ đồng (chiếm 16,11% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 584 doanh nghiệp, sử dụng 12.524 lao động, vốn đăng ký đạt 6.046 tỷ đồng (chiếm 21,76%); xây dựng 281 doanh nghiệp, sử dụng 1.278 lao động, vốn đăng ký 1.706 tỷ đồng (chiếm 6,14%); hoạt động vận tải, kho bãi 230 doanh nghiệp, sử dụng 881 lao động, vốn đăng ký 1.095 tỷ đồng (chiếm 3,94%); giáo dục và đào tạo 53 doanh nghiệp, sử dụng 203 lao động, vốn đăng ký 95 tỷ đồng (chiếm 0,34%); kinh doanh bất động sản 103 doanh nghiệp, sử dụng 1.002 lao động, vốn đăng ký 11.553 tỷ đồng (chiếm 41,58%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 134 doanh nghiệp, sử dụng 599 lao động, vốn đăng ký 330 tỷ đồng (chiếm 1,19%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 98 doanh nghiệp, sử dụng 413 lao động, vốn đăng ký 318 tỷ đồng (chiếm 1,19%);...

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Sáu (tính từ ngày 22/5/2026 đến ngày 21/6/2026) là 53 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/6/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 481 doanh nghiệp.

Cũng từ ngày 22/5/2026 đến ngày 21/6/2026, số doanh nghiệp giải thể là 78 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 146 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/6/2026, toàn tỉnh có 480 doanh nghiệp giải thể và 1.323 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 99 doanh nghiệp giải thể và 318 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,63% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,04% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 164 doanh nghiệp giải thể và 458 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 34,17% và 34,62%; kinh doanh bất động sản có 27 doanh nghiệp giải thể và 29 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,63% và 2,19%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 18 doanh nghiệp giải thể và 55 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,75% và 4,16%; giáo dục và đào tạo có 56 doanh nghiệp giải thể và 27 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,67% và 2,04%;...

5. Thương mại, dịch vụ


Từ đầu năm đến nay, hoạt động lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh diễn ra ổn định; việc cung ứng hàng hóa phục vụ nhu cầu mua sắm của nhân dân thuận lợi, nhất là trong dịp Tết; công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, đặc biệt là đối với hàng hóa thiết yếu, xăng dầu,... được tăng cường. Tỉnh đã ban hành Kế hoạch thực hiện Chiến lược “Phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh, ban hành Quy định một số nội dung về phát triển và quản lý chợ trên địa bàn tỉnh. Các hoạt động xúc tiến thương mại, khuyến công, khuyến thương, thúc đẩy tiêu dùng,... được tổ chức linh hoạt, hiệu quả như: Tham gia Hội chợ Mùa Xuân, Hội chợ EXPO, Hội chợ Hùng Vương tại Phú Thọ; khu trưng bày các sản phẩm đặc trưng của tỉnh Hưng Yên tại Hội nghị kết nối Hưng Yên - Nhật Bản. Tổ chức thành công Lễ phát động hưởng ứng Ngày Quyền của Người tiêu dùng Việt Nam trên địa bàn; tổ chức triển khai thực hiện Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”;...

a)    Bán lẻ hàng hóa và dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Sáu ước đạt 24.909 tỷ đồng, tăng 2,18% so với tháng trước và tăng 20,79% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn 6 tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 148.381 tỷ đồng, tăng 17,13% (quý I tăng 16,47%; quý II tăng 17,82%) so cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội

tháng Sáu và sáu tháng đầu năm 2026

(Theo giá hiện hành)

                                                                      

Quý II.2026

6T.2026

QII.2026

QII.2025

6T.2026

6T.2025

(Tỷ đồng)

(Tỷ đồng)

(%)

(%)

Tổng số

73.582

148.381

117,82

117,13

Thương nghiệp

37.298

74.242

118,23

118,11

Lưu trú, ăn uống

3.865

7.538

112,82

113,97

Du lịch

32

52

112,75

113,02

Dịch vụ

32.387

66.549

117,99

116,43

Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau:

Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Sáu ước đạt 12.338 tỷ đồng, chiếm 49,53% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 0,30% so với tháng trước và tăng 23,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 20,33%; hàng may mặc tăng 23,68%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 42,38%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 109,34%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 6,94%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 31,38%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 22,19%; xăng, dầu các loại tăng 13,48%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 59,38%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 9,62%; hàng hóa khác tăng 27,12%. Một số doanh nghiệp hoạt động trong tháng đã nhận được nhiều đơn hàng với mức tăng trưởng khá như: Công ty Cổ phần Đầu tư Phát triển Tân Long; Công ty TNHH Nông sản Gia Huy (nhóm hàng lương thực thực phẩm); Công ty Cổ phần 5S Fashion (nhóm hàng may mặc); Công ty Quốc Tế Long Anh; Công ty Cổ phần Việt Phúc Hưng Yên (nhóm hàng đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình); Công ty TNHH Toyota Hưng Yên, Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Hoàng Hiền (nhóm hàng ô tô con);...

Tính chung 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 74.242 tỷ đồng, tăng 18,11% (quý I tăng 17,99%; quý II tăng 18,11%) so với cùng kỳ năm trước. Có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 23,15%; hàng may mặc tăng 18,51%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 18,23%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 53,10%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,09%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 24,94%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 0,29%; xăng dầu các loại tăng 19,47%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 37,16%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 26,35%; hàng hóa khác tăng 18,96.

Dịch vụ lưu trú và ăn uống có doanh thu trong tháng Sáu ước đạt 1.302 tỷ đồng, tăng 1,37% so với tháng trước và tăng 13,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 37 tỷ tăng 0,96% so với tháng trước và tăng 14,88% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.265 tỷ đồng, tăng 1,38% so với tháng trước và tăng 13,87% so với cùng kỳ năm trước. Tháng Sáu, hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động nhờ nhiều hoạt động văn hóa, thương mại và du lịch được tổ chức, tạo sức hút đối với người dân và du khách. Đặc biệt, Tuần lễ quảng bá, giới thiệu sản phẩm OCOP, văn hóa đọc và ẩm thực phường Phố Hiến năm 2026 được tổ chức tại phố đi bộ Nam Hòa từ ngày 06/6 đến ngày 13/6/2026 đã góp phần quảng bá các giá trị văn hóa, ẩm thực đặc trưng của địa phương, thu hút đông đảo người dân và du khách tham quan, trải nghiệm, qua đó góp phần kích thích nhu cầu tiêu dùng và thúc đẩy doanh thu của ngành dịch vụ ăn uống trên địa bàn. Đồng thời, tháng Sáu bước vào mùa du lịch hè, nhu cầu nghỉ dưỡng, lưu trú của người dân và du khách tăng lên, góp phần nâng cao công suất sử dụng phòng tại các cơ sở lưu trú trên địa bàn.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 7.538 tỷ đồng, tăng 13,97% (quý I tăng 15,21%; quý II tăng 12,82%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú ước đạt 217 tỷ đồng, tăng 12,78%; dịch vụ ăn uống 7.321 tỷ đồng, tăng 14,0%. Trong sáu tháng đầu năm, ngành dịch vụ lưu trú ăn uống duy trì mức tăng trưởng khá nhờ sự phục hồi của hoạt động thương mại, du lịch và các hoạt động văn hóa trên địa bàn. Một số doanh nghiệp chủ lực đạt kết quả kinh doanh tích cực, đóng góp đáng kể vào mức tăng chung của toàn ngành, như: Công ty TNHH Xây dựng và Dịch vụ Khu công nghiệp Phố Nối tăng 47,05%; Công ty Cổ phần Lam Sơn GLOBAL tăng 103,66% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Sáu ước đạt 12,52 tỷ đồng, tăng 18,93% so với tháng trước và tăng 10,76% so với cùng kỳ năm trước. Tháng Sáu đã bước vào mùa du lịch hè, hoạt động du lịch và lữ hành trên địa bàn tỉnh Hưng Yên diễn ra sôi động hơn khi nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng của người dân tăng cao, các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch, lữ hành trên địa bàn tỉnh tiếp tục đẩy mạnh khai thác các chương trình du lịch hè, tập trung vào các tour ngắn ngày và các tuyến du lịch biển. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đã chủ động liên kết với các đơn vị vận tải, lưu trú và các điểm tham quan để đa dạng hóa sản phẩm du lịch, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 52 tỷ đồng, tăng 13,02% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả trên cho thấy hoạt động của các doanh nghiệp lữ hành trên địa bàn duy trì đà tăng trưởng tích cực trong nửa đầu năm 2026, trong đó các chương trình du lịch hè và việc mở rộng các tuyến du lịch ngắn ngày đã đóng góp đáng kể vào mức tăng trưởng chung của toàn ngành.

Doanh thu dịch vụ khác: Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Sáu ước đạt 11.257 tỷ đồng, tăng 4,40% so với tháng trước và tăng 18,43% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 10.016 tỷ đồng, tăng 5,53% so với tháng trước và tăng 18,88% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 489 tỷ đồng, tăng 3,12% so với tháng trước và tăng 14,11% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 122 tỷ đồng, giảm 37,73% so với tháng trước và tăng 14,01% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 247 tỷ đồng, tăng 2,11% so với tháng trước và tăng 18,87% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 308 tỷ đồng, tăng 0,81% so với tháng trước và tăng 13,22% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 66.549 tỷ đồng, tăng 16,43% (quý I tăng 15,00%; quý II tăng 17,99%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,37% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,93% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,86%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,79%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,02%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 14,96%; dịch vụ khác tăng 11,18%. Thị trường bất động sản trong nửa đầu năm 2026 trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá, phản ánh hiệu quả từ quá trình phát triển đô thị, thu hút đầu tư và mở rộng các khu công nghiệp, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường.

6. Hoạt động vận tải

Tình hình chiến sự ở các nước Trung Đông giữa liên minh Mỹ- Israel với Iran diễn ra từ đầu tháng Ba kéo dài đến nay đã gây ảnh hưởng mạnh đến giá xăng dầu trong nước, làm tác động trực tiếp đến chi phí vận tải cũng như doanh thu đối với hoạt động này trong thời gian qua. Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Sáu ước đạt 2.433 tỷ đồng, tăng 1,08% so với tháng trước và tăng 15,20% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 14.531 tỷ đồng, tăng 17,35% (quý I tăng 18,37%; quý II tăng 16,35%) so với cùng kỳ năm trước.

Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 5,72 triệu lượt người vận chuyển và 533 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 7,97% về lượt người vận chuyển, tăng 9,70% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 7,60% về lượt người vận chuyển, tăng 8,87% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng Sáu ước đạt 405 tỷ đồng, tăng 5,81% so với tháng trước và tăng 8,42% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 34,6 triệu lượt người vận chuyển và 3.183 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 8,62% về lượt người vận chuyển và tăng 8,84% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách 6 tháng ước đạt 2.473 tỷ đồng, tăng 10,89% (quý I tăng 14,27%; quý II tăng 7,55%) so cùng kỳ năm trước.

Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Sáu ước đạt 6,77 triệu tấn vận chuyển và 1.689 triệu tấn luân chuyển, lần lượt giảm 0,29% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 4,04% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,44% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 4,08% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.796 tỷ đồng, giảm 0,23% so với tháng trước và tăng 16,27% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026 vận tải hàng hóa ước đạt 39,5 triệu tấn vận chuyển và 10.603 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,57% về tấn hàng hóa vận chuyển và 13,70% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa 6 tháng ước đạt 10.746 tỷ đồng, tăng 20,06% (quý I tăng 20,28%; quý II tăng 19,84%) so cùng kỳ năm trước.

Hoạt động kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát: doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Sáu ước đạt 209 tỷ đồng, tăng 3,53% so với tháng trước và tăng 18,47% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.161 tỷ đồng, tăng 7,58% (quý I tăng 9,01%; quý II tăng 6,26%) so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Sáu ước đạt 24 tỷ đồng, tăng 3,77% so với tháng trước và tăng 31,54% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 150 tỷ đồng, tăng 23,31% (quý I tăng 34,00%; quý II tăng 12,31%) so với cùng kỳ năm trước.

II. ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ VÀ KIỀM CHẾ LẠM PHÁT

1. Hoạt động đầu tư

a) Thực hiện vốn đầu tư phát triển trên địa bàn

Trong sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực trong bối cảnh cả nước đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, phục hồi sản xuất kinh doanh và thu hút mạnh mẽ dòng vốn đầu tư ngoài nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh sáu tháng qua ước đạt 72.164 tỷ đồng, tăng 14,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, quý I đạt 32.134 tỷ đồng, tăng 10,03%; quý II ước thực hiện 40.030 tỷ đồng, tăng 18,16%. Phân theo nguồn vốn, ước tính sáu tháng đầu năm 2026, nguồn vốn nhà nước đạt 18.495 tỷ đồng, tăng 13,29%; vốn ngoài nhà nước 41.580 tỷ đồng, tăng 12,64%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 12.089 triệu đồng, tăng 22,81% so với cùng kỳ năm trước.

Phân theo khoản mục đầu tư, vốn đầu tư xây dựng cơ bản 6 tháng đầu năm 2026 ước đạt 56.168 tỷ đồng, chiếm 77,83% trong tổng vốn và tăng 37,08% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua xây dựng cơ bản ước đạt 3.839 tỷ đồng (chiếm 5,32%), giảm 63,33%; vốn đầu tư sửa chữa lớn và nâng cấp sản cố định đạt 10.024 tỷ đồng (chiếm 13,89%), giảm 1,20%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động đạt 2.104 tỷ đồng (chiếm 2,92%), tăng 42,41%; vốn đầu tư khác 29 tỷ đồng (chiếm 0,04%), tăng 98,92%.

Vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh

6 tháng đầu năm 2026 (tỷ đồng)

Thực hiện

6 tháng

năm 2025

Ước tính

6 tháng

năm 2026

So sánh

(%)

TỔNG SỐ


63.083

72.164

114,40

Vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước

14.603

16.713

114,45

Vốn trái phiếu Chính phủ

0

0

Vốn tín dụng đầu tư theo kế hoạch NN

3

26

988,27

Vốn vay từ các nguồn khác (của khu vực Nhà nước)

145

8

5,38

Vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước (Vốn tự có)

664

507

76,33

Vốn đầu tư của dân cư và tư nhân

36.914

41.580

112,64

Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

9.844

12.089

122,81

Vốn huy động khác

910

1.241

136,29

Một số dự án giao thông trọng điểm trên địa bàn tỉnh được thi công trong sáu tháng đầu năm 2026: Dự án đầu tư xây dựng đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình theo phương thức đối tác công tư (CT.08), vốn đầu tư 19.784 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 4.712 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng, vốn đầu tư 6.091 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng đạt 600 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên (nay là tuyến đường từ phường Thái Bình đến xã Hưng Hà), Vốn đầu tư 2.684 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng đạt 408 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế Thái Bình, vốn đầu tư 3.156 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 347 tỷ đồng; Dự án xây dựng tuyến đường Tân Phúc -Võng Phan (giao ĐT.378), tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 2.049 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng đạt 649 tỷ đồng; Dự án tuyến đường nối từ thành phố Thái Bình đến cầu Nghìn theo hình thức đầu tư công, vốn đầu tư 2.121 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 44 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng nút giao Phúc Khánh, vốn đầu tư 842 tỷ đồng, dự kiến 6 tháng năm 2026 đạt 344 tỷ đồng;...

b) Vốn đầu tư ngân sách địa phương

Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Sáu ước đạt 3.532 tỷ đồng, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 23,92% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương quản lý ước đạt 16.233 tỷ đồng, tăng 14,40% so với cùng kỳ năm trước, đạt 33,40% kế hoạch năm. Trong đó, quý I đạt 6.642 tỷ đồng, tăng 2,19%; quý II đạt 9.591 tỷ đồng, tăng 24,73%.

Vốn đầu tư phát triển thuộc NSNN do địa phương quản lý


6 tháng đầu năm 2026


                                                       

6T.2025

6T.2026

6T.2026 6T.2025

(Tỷ đồng)

(Tỷ đồng)

(%)

Tổng số

14.189

16.233

114,40

Vốn NS nhà nước cấp tỉnh

7.704

10.796

140,14

Vốn NS nhà nước cấp xã

6.485

5.437

83,83

Phân theo cấp quản lý, vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong 6 tháng đầu năm 2026 tăng mạnh ở cấp tỉnh, trong khi đó vốn cấp xã giảm. Cụ thể: cấp tỉnh ước đạt 10.796 tỷ đồng, tăng 40,14% so với cùng kỳ năm trước và đạt 28,14% kế hoạch năm; cấp xã đạt 5.437 tỷ đồng, giảm 16,17% và đạt 53,15% kế hoạch năm. Vốn đầu tư phát triển thuộc ngân sách nhà nước do địa phương quản lý cấp tỉnh tăng mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu do trong năm 2026, tỉnh tập trung triển khai nhiều dự án trọng điểm quy mô lớn, đặc biệt là các công trình hạ tầng giao thông kết nối liên vùng và các dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Đối với cấp xã, nguồn vốn tiếp tục được sử dụng chủ yếu cho các công trình hạ tầng thiết yếu như giao thông nông thôn, thủy lợi nội đồng, trường học, nhà văn hóa và các công trình phục vụ dân sinh. Tuy nhiên, tiến độ triển khai một số dự án còn chậm do vướng mắc trong công tác chuẩn bị đầu tư, năng lực tổ chức thực hiện ở một số địa phương còn hạn chế, cùng với tác động của biến động giá nguyên vật liệu xây dựng.

c) Hoạt động đầu tư nước ngoài

Tính đến 24/6/2026, toàn tỉnh có 997 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 18.055,77 triệu USD, trong đó từ đầu năm đến nay có 31 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký là 634,12 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 204 dự án, vốn đăng ký là 6.725,72 triệu USD, chiếm 37,25% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 381 dự án, vốn đăng ký 4.616,47 triệu USD, chiếm 25,57% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.327,75 triệu USD, chiếm 12,89% tổng số vốn đăng ký.

2. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

a) Thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước tháng Sáu trên địa bàn tỉnh ước đạt 7.304 tỷ đồng, giảm 58,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: thu nội địa 6.632 tỷ đồng, giảm 60,98%; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu 672 tỷ đồng, tăng 26,18%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 57 tỷ đồng, giảm 82,08%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 407 tỷ đồng, tăng 131,09%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.187 tỷ đồng, tăng 8,46%; thu thuế thu nhập cá nhân 317 tỷ đồng, tăng 8,16%; các khoản thu về đất 4.372 tỷ đồng, giảm 70,07%;...

 Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh

tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2026

T6.2026

(Tỷ đồng)

6T.2026

(Tỷ đồng)

T6.2026

T6.2025

(%)

6T.2026

6T.2025

(%)

Tổng số

7.304

43.847

41,67

78,04

Thu nội địa

6.632

40.361

39,02

76,01

Tr. đó: Thu từ đất

4.372

17.530

29,93

52,43

Thu Hải quan

672

3.486

126,18

112,95

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 43.847 tỷ đồng, giảm 21,96% so với cùng kỳ năm trước và đạt 52,04% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 40.631 tỷ đồng, giảm 23,99%, đạt 52,01% kế hoạch năm; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 3.486 tỷ đồng, tăng 12,95%, đạt 52,43% kế hoạch năm. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 630 tỷ đồng, tăng 6,44%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.000 tỷ đồng, tăng 34,10%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 15.300 tỷ đồng, tăng 19,50%; thu lệ phí trước bạ 900 tỷ đồng, tăng 9,24%; thuế thu nhập cá nhân 2.000 tỷ đồng, giảm 0,02%; các khoản thu về đất 17.530 tỷ đồng, giảm 47,57%.

b) Chi ngân sách nhà nước địa phương

Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Sáu ước đạt 7.919 tỷ đồng, giảm 20,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Chi đầu tư phát triển 5.334 tỷ đồng, giảm 16,67%; chi thường xuyên 2.584 tỷ đồng, giảm 27,25%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 189 tỷ đồng, giảm 9,69%; chi giáo dục, đào tạo 1.035 tỷ đồng, giảm 9,81%; chi sự nghiệp y tế 292 tỷ đồng, giảm 13,41%; chi sự nghiệp văn hóa, thông tin 33 tỷ đồng, giảm 45,25%; chi đảm bảo xã hội 524 tỷ đồng, tăng 9,10%; chi quản lý hành chính 392 tỷ đồng, giảm 64,97%;...

Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, tổng chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 36.452 tỷ đồng, tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 22.843 tỷ đồng, tăng 0,39%; chi thường xuyên 13.608 tỷ đồng, tăng 4,57%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 514 tỷ đồng, tăng 17,74%; chi giáo dục, đào tạo 4.840 tỷ đồng, giảm 3,56%; chi sự nghiệp y tế 1.296 tỷ đồng, tăng 8,29%; chi sự nghiệp văn hóa, thông tin 152 tỷ đồng, giảm 32,78%; chi đảm bảo xã hội 3.199 tỷ đồng, tăng 97,93%; chi quản lý hành chính 2.651 tỷ đồng, giảm 27,23%.

c) Hoạt động ngân hàng

Sáu tháng đầu năm 2026, hoạt động ngân hàng trên địa bàn tỉnh tập trung vào thực hiện các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro; về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; hội nhập quốc tế trong tình hình mới; đổi mới công tác xây dựng và thực thi pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; phát triển kinh tế tư nhân; cấp tín dụng cho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu trên địa bàn; tăng cường các giải pháp bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng và kinh doanh vàng. Thực hiện các giải pháp ổn định mặt bằng lãi suất, đẩy mạnh tín dụng phục vụ sản xuất, kinh doanh lúa gạo, các chương trình, chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, triển khai thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2035. Chủ động cân đối nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ lắp đặt điện mặt trời mái nhà và hệ thống lưu trữ năng lượng, phát triển các ngành công nghiệp văn hóa. Tích cực triển khai Chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ, chủ động tiếp cận, thẩm định và tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ đầu tư, người mua nhà được tiếp cận nguồn vốn tín dụng theo Chương trình kịp thời, đúng quy định,..

Ước tính tổng nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đến 30/6/2026 đạt 323.200 tỷ đồng, tăng 4,49% so với 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 318.600 tỷ đồng, tăng 3,70%; phát hành giấy tờ có giá 4.600 tỷ đồng, tăng 120,31%.

Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến 30/6/2026 đạt 275.500 tỷ đồng, tăng 1.993 tỷ đồng (tăng 4,0%) so với 31/12/2025. Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 197.400 tỷ đồng, tăng 2,95%; dư nợ cho vay trung, dài hạn đạt 78.100 tỷ đồng, tăng 6,75%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ đạt 266.900 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 96,88% tổng dư nợ và tăng 3,24%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ đạt 8.600 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 3,12% tổng dư nợ và tăng 34,90%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 178.440 tỷ đồng, tăng 3,74% so với thời điểm 31/12/2025, chia ra: nông nghiệp, nông thôn 117.500 tỷ đồng, tăng 4,54%; xuất khẩu 1.715 tỷ đồng, tăng 5,86%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.800 tỷ đồng, tăng 2,57%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%.

Về chất lượng tín dụng: Ước tính đến 30/6/2026, nợ xấu trên toàn địa bàn là 1.700 tỷ đồng, chiếm tỷ lệ 0,62% tổng dư nợ, giảm 183 tỷ đồng so với thời điểm 31/12/2025.

d) Bảo hiểm xã hội

Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 5/2026 là 648.160 người, tăng 9.643 người, tương ứng tăng 1,5% so với tháng trước; tăng 20.350 người, tương ứng tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 51,01% so với lực lượng lao động. Trong đó: BHXH bắt buộc 568.503 người, tăng 10.201 người (tăng 1,8%) so với tháng trước; tăng 58.364 người (tăng 11,4%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 79.657 người, giảm 558 người (giảm 0,7%) so với tháng trước, tăng 2.637 người (tăng 3,4%) so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/5/2026 là 545.397 người, tăng 8.824 người (tăng 1,9%) so với tháng trước; tăng 54.734 người (tăng 11,2%) so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia BHYT là 2.815.179 người, tăng 6.021 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 17.814 người (tăng 0,6%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 95,61%.

Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 5/2026 là 6.709,2 tỷ đồng, tăng 1.456,6 tỷ đồng (tăng 21,7%) so với tháng trước, tăng 675,3 tỷ đồng (tăng 11,2%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 37,9% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 5/2026 đạt 1.028,7 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi BHXH 5.024,1 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.396,7 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 3.627,4 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 5/2026 là 128,9 tỷ đồng.

Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 5/2026 là 329,2 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 1.506,3 tỷ đồng, tăng 5,29% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 597,9 tỷ đồng; chi KCB nội trú 908,4 tỷ đồng.

3. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng

Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới giảm, cùng với giá lương thực giảm là những nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 6/2026 giảm 0,33% so với tháng trước. So với tháng 12/2025, CPI tháng Sáu tăng 3,56% và tăng 5,10% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung sáu tháng đầu năm 2026, CPI tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước.

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Sáu giảm 0,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 05 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 06 nhóm hàng có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%; đồ uống và thuốc lá giảm 0,01%; may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,03%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,36%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông giảm 4,78%; thông tin và truyền thông giảm 0,02%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,72%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,17%.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

tháng Sáu năm 2026

                                                                      

T6.2026

T5.2026

T6.2026

T6.2025

6T.2026

6T.2025

(%)

(%)

(%)

Chỉ số giá tiêu dùng chung

    99,67

   105,10

   104,24

Chỉ số vàng

    90,48

   125,91

   162,53

Chỉ số đô la Mỹ

    99,92

   100,85

   102,47

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,23%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,38%, trong đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 1,83% so với tháng trước (gạo tẻ thường giảm 1,82%; gạo tẻ ngon giảm 1,87%; gạo nếp giảm 1,67%) do nguồn cung dồi dào, giá gạo xuất khẩu bình quân giảm dẫn đến giá bán trong nước giảm theo; chỉ số giá nhóm bún, phở, bánh đa giảm 0,17% do ảnh hưởng từ giá gạo giảm. (2) Chỉ số giá nhóm ăn uống ngoài gia đình giảm 0,74% do ảnh hưởng giảm giá từ tháng trước.

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,36%, chủ yếu do: chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 3,08%; chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,68%, do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt tăng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,30% tăng ở các mặt hàng các đen san lấp, cát vàng xây dựng,...

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,20%, chủ yếu do nhóm đồ dùng trong nhà tăng 0,13%, tăng ở các mặt hàng quạt điện, đèn điện thắp sáng, giường tủ, bàn ghế,… nhóm đồ dùng nấu ăn trong nhà tăng 0,28%; nhóm đồng hồ treo tường để bàn và gương tăng 0,58%; nhóm hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 0,25%; nhóm hàng dệt trong nhà tăng 0,49%; nhóm sửa chữa thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,74%, nguyên nhân do nhà sản xuất tăng giá, đẩy giá bán lẻ tăng theo.

Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 4,78%, chủ yếu do giá xăng, dầu giảm. Giá xăng, dầu trong tháng giảm theo các kỳ điều chỉnh, do ảnh hưởng của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới giảm. Trong kỳ giá tiêu dùng tháng 6/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 03 đợt vào các ngày 04/6; 11/6 và 18/6. Theo đó giá xăng giảm 9,49%; giá dầu diesel 0,05 giảm 9,40%.

Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,72%, chủ yếu do giá các dịch vụ du lịch trọn gói trong và ngoài nước tăng 2,01% do nhu cầu du lịch tăng vào mùa hè; chỉ số giá khách sạn, nhà khách tăng 2,07%; giá thiết bị, dụng cụ thể dục, thể thao, bóng rổ, vợt cầu lông,… tăng 0,27%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,17%, tăng chủ yếu ở nhóm hàng đồ trang sức (+7,61%); giá đồng hồ đeo tay (+0,85%); giá sửa đồng hồ (+0,02%); hiếu hỉ (+0,61%).

So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 3,56%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,79%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,73%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,12%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,92%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,55%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,31%; giao thông tăng 6,36%; thông tin và truyền thông tăng 1,11%; giáo dục tăng 0,26%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,27%.

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Sáu tăng 5,10%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,56% (lương thực tăng 4,86%; thực phẩm tăng 6,93%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,04%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,60%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,59%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,95%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,31%; giao thông tăng 4,75%; thông tin và truyền thông tăng 1,25%; giáo dục tăng 1,40%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 6,35%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,75%.

Bình quân quý II năm 2026 so với cùng kỳ năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tăng 5,48%. Trong đó, nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,52% (lương thực tăng 5,08%; thực phẩm tăng 6,63%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,96%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,60%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,79%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,50%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,75%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,34%; giao thông tăng 9,26%; thông tin và truyền thông tăng 1,30%; giáo dục tăng 1,35%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 5,21%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,62%.

Bình quân chung sáu tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,24% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,36%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,24%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,47%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 6,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,85%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,26%; giao thông tăng 4,71%; thông tin và truyền thông tăng 0,94%; giáo dục tăng 1,27%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,21%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,26%.

Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân 6 tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,67% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt lợn, thịt gia cầm, trứng các loại, thủy sản tươi sống và rau củ có xu hướng tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,46% chủ yếu do giá nguyên liệu thực phẩm, chi phí điện nước, nhân công, chi phí thuê mặt kinh doanh tăng; bên cạnh đó nhu cầu ăn uống, du lịch và vui chơi giải trí tăng cao trong mùa hè đã góp phần làm giá dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng. (2) Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,24% do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng; giá nguyên liệu sản xuất đồ uống như đường, sữa, cà phê, chè, hoa quả, malt, bao bì nhựa, thủy tinh và nhôm tăng; giá lá thuốc lá, giấy cuốn, đầu lọc và vật tư nhập khẩu tăng làm chi phí sản xuất tăng cao hơn. (3) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 6,06% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê và các loại nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,44%; giá các loại vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 13,92%, do giá vật liệu xây dựng, chi phí sửa chữa nhà ở tăng; bên cạnh đó nhu cầu xây dựng, cải tạo nhà ở và đầu tư cơ sở hạ tầng tăng cũng góp phần tạo áp lực tăng giá trong nhóm này. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 5,09% do nhu cầu sử dụng điện tăng cao trong mùa nắng nóng, cùng với tác động từ chi phí sản xuất, vận hành hệ thống điện, việc điều chỉnh giá điện theo biến động chi phí đầu vào cũng góp phần làm tăng mức giá điện bình quân. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,71% do giá dầu diezel tăng 36,48% so với cùng kỳ. Giá xăng, dầu biến động theo giá dầu thô thế giới và tỷ giá, làm tăng chí phí vận hành phương tiện cá nhân và vận tải hàng hóa, hành khách, khi chi phí nhiên liệu tăng, giá thành dịch vụ vận tải cũng tăng theo. (6) Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,21%, do thu nhập và mức sống của người dân được cải thiện nên nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, vui chơi giải trí tăng vào các dịp lễ, tết, kỳ nghỉ hè, nghỉ cuối tuần, lượng khách du lịch tăng cao dẫn đến giá nhiều dịch vụ du lịch tăng theo quy luật cung - cầu.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 6/2026 giảm 9,52% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến giảm của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 6/2026, giá vàng xấp xỉ 14.994.860 VNĐ/chỉ.

Tháng 6/2026, tỷ giá USD trong nước biến động giảm theo xu hướng giảm của đồng USD trên thị trường quốc tế. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 6/2026 giảm 0,08% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.322 VNĐ.

c) Chỉ số giá sản xuất

Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Sáu giảm nhẹ - giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 3,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,14% và tăng 2,79%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 7,17% và tăng 19,48%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 1,20% và tăng 7,16%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác giảm 0,98%; đậu tương giảm 0,32%; lạc giảm 0,59%; rau muống giảm 1,89%; rau lấy lá còn lại giảm 0,97%; rau họ đậu giảm 0,86%; hoa hồng giảm 1,11%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm giảm 0,43%; chuối giảm 1,47%; mít giảm 3,37%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò giảm 0,35%; sản phẩm chăn nuôi gia cầm giảm 0,79%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 7,17%; sản phẩm thủy sản khai thác biển giảm 3,03%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa giảm 0,17%; cá nuôi biển giảm 1,02%; cá nuôi nội địa giảm 0,21%; tôm nuôi nội địa giảm 0,35%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,00%; mía cây tươi tăng 0,47%; thuốc lào tăng 0,87%; vừng/mè tăng 1,07%; dưa chuột tăng 2,92%; cà chua tăng 4,77%; rau lấy củ, rễ hoặc lấy thân tăng 0,45%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 1,60%; các loại quả có múi còn lại tăng 1,64%; vải tăng 13,25%; lợn tăng 0,33%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,51%;...

Quý II năm 2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,43% so với quý trước và tăng 3,09% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 0,58% và tăng 2,23%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 4,19% và tăng 28,52%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 5,93% và tăng 7,43%. Chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu quý II năm 2026 so với quý trước như sau: thóc khô tăng 1,46%; sản phẩm cây lấy củ cso chất bột tăng 1,96%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 0,93%; rau các loại giảm 0,50%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 3,84%; xoài tăng 4,81%; thanh long tăng 2,38%; ổi tăng 4,99%; chanh thường tăng 14,34%; các loại quả có múi còn lại tăng 9,74%; vải tăng 14,39%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 2,08%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 10,40%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 1,77%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng biển tăng 3,55%; cá nuôi nội địa tăng 2,35%; tôm nuôi nội địa tăng 6,71%; giống thủy sản nội địa tăng 1,26%;...

Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Sáu năm 2026 tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,46% và tăng 3,75%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 1,05% và tăng 2,13%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,47% và tăng 1,17%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến , bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 3,24%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,39%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,29%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,40%; trang phục dệt kim, đan, móc tăng 2,03%; giày, dép tăng 1,13%; dịch vụ liên quan đến in tăng 2,49%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu tăng 3,72%; sản phẩm khác từ cao su tăng 3,49%; sản phẩm từ plastic tăng 2,06%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 2,01%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 3,60%; nước tự nhiên khai thác tăng 2,99%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: cà phê giảm 3,09%; hóa chất cơ bản giảm 2,94%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý giảm 1,23%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 5,32%; mô tơ, máy phát giảm 0,74%; pin và ắc quy giảm 2,53%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 8,00%; mô tô, xe máy giảm 2,20%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ giảm 0,62%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 1,18%; điện sản xuất giảm 0,13%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 2,62%;...

Quý II năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 1,77% so với quý trước và tăng 3,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,82% và tăng 3,36%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,91% và tăng 0,60%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,45% và tăng 0,90%. So với quý trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 3,24%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến và bảo quản tăng 7,29%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 4,57%; bánh làm từ tinh bột tăng 1,54%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 3,26%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 3,28%; giày dép tăng 1,72%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 12,91%; đồ gỗ xây dựng tăng 2,07%; dịch vụ liên quan đến in tăng 2,52%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 6,76%; sản phẩm từ plastic tăng 2,01%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại tăng 3,68%; sản phẩm kim loại tăng 4,48%; cấu kiện kim loại tăng 2,51%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 3,39%; pin và ắc quy tăng 11,94%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 11,03%; mô tô, xe máy tăng 3,61%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 6,49%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 4,41%; nước tự nhiên khai thác tăng 2,45%;...  Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 15,63%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 1,56%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 1,95%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 2,41%; thiết bị điện khác giảm 0,99%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 5,34%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác giảm 2,48%; điện sản xuất giảm 4,44%; điện mặt trời giảm 7,06%;...

III. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

1.    Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội

Đời sống dân cư: Sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số; đẩy mạnh cơ cấu lại thực chất, hiệu quả hơn nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và môi trường kinh doanh của nền kinh tế. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn; chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội. Nhờ vậy, đời sống nhân dân tiếp tục ổn định và từng bước được phát triển, nâng cao.

Lao động việc làm: Tỉnh triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp phát triển lực lượng lao động và đáp ứng nhu cầu nhân lực cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh như: tổ chức Hội nghị kết nối, cung ứng lao động cho các doanh nghiệp năm 2026; ký kết với tỉnh Lào Cai và Lai Châu bản ghi nhớ hợp tác về việc phối hợp cung ứng lao động cho các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên; tổ chức “Ngày hội tư vấn, định hướng nghề nghiệp và kết nối thị trường lao động năm 2026”. Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 4.000 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 2.732 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 821 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Xác nhận cho 506 lượt doanh nghiệp sử dụng 3.229 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 39 lượt doanh nghiệp với 10.716 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 62 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm. Trong 6 tháng đầu năm, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 30.920 người (đạt 51,5% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 3.320 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 4.530 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 16.500 người.

Công tác người có công: Công tác người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, đúng quy định. Các hoạt động đền ơn đáp nghĩa được tổ chức thiết thực, hiệu quả. Toàn tỉnh đã thực hiện trao tặng quà của Đảng, Nhà nước cho 100.791 người có công với cách mạng, thân nhân và người thờ cúng liệt sĩ; hoàn thành trao 106.413 suất quà của Chủ tịch nước với tổng kinh phí 32,65 tỷ đồng. Quà tặng của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh được trao với tổng kinh phí 104,58 tỷ đồng; các địa phương, tổ chức, cá nhân trao trên 15.000 suất quà, kinh phí trên 8,4 tỷ đồng. Đồng thời, tham mưu tổ chức các đoàn lãnh đạo tỉnh thăm, tặng quà người có công và thân nhân người có công tại gia đình, cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng trong và ngoài tỉnh.

Công tác nuôi dưỡng người có công được thực hiện đầy đủ, kịp thời theo quy định. Trung tâm Điều dưỡng, chăm sóc người có công đang nuôi dưỡng tập trung 21 thương binh, bệnh binh nặng, bảo đảm tốt điều kiện chăm sóc sức khỏe, đời sống vật chất và tinh thần. Đồng thời duy trì công tác vệ sinh, quản lý cơ sở vật chất, sử dụng hiệu quả trang thiết bị; đón tiếp chu đáo các đoàn, tổ chức, doanh nghiệp, nhà hảo tâm đến thăm, tặng quà nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2026. Trung tâm cũng đã thực hiện điều dưỡng luân phiên cho 2004 lượt người có công, đạt khoảng 40% kế hoạch năm 2026.

Thực hiện Kế hoạch số 155/KH-UBND ngày 06/5/2026 về hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học, qua rà soát có 105 trường hợp đủ điều kiện hỗ trợ và đang được thẩm định, trình cấp có thẩm quyền xem xét theo quy định.

Tình hình thiên tai: Tháng 6 năm 2026, toàn tỉnh không xảy ra thiên tai. Sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai làm 01 người chết: Vào khoảng 14h30 phút ngày 17/5/2026, bà Nguyễn Thị Vòng sinh năm 1968, thường trú tại Phường Vũ Phúc bị sét đánh tử vong tại chỗ trong lúc đi làm đồng.

2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch

a) Hoạt động văn hoá

Sáu tháng đầu năm 2026, tỉnh đã tổ chức thành công một số lễ hội tiêu biểu năm 2026 như: Lễ hội chùa Keo mùa xuân năm 2026; Lễ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập vương triều Trần và Lễ hội Đền Trần, xã Long Hưng; Lễ hội truyền thống đền Mây và đền Kim Đằng, phường Sơn Nam; Triển lãm thư pháp, hát ca trù và cho chữ đầu xuân tại Văn Miếu Xích Đằng. Phối hợp với Ban chuyên đề - khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện chương trình “Giải mã cuộc sống” với nội dung “Bộ sưu tập tượng đất tại chùa Nôm”. Giới thiệu tuyên truyền, hướng dẫn cho hơn 50 đoàn khách, với khoảng 3.000 người tại các di tích trọng điểm. Xuất bản cuốn sách “Lễ hội truyền thống khu di tích Phố Hiến”. Tổ chức trưng bày chuyên đề “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”, “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”, “Hội Báo Xuân và Không gian Chợ Tết Việt năm 2026”, “80 năm - Dấu ấn Quốc hội Việt Nam (1946 - 2026) chào mừng bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031; trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại 06 điểm trường. Sáu tháng đầu năm, Bảo tàng tỉnh đã đón 32.741 lượt khách tham quan.

Tỉnh đã tổ chức Chương trình nghệ thuật quần chúng “Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm (Đêm Giao thừa); Chương trình nghệ thuật tại Liên hoan Ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III, năm 2026; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa hát Chèo, Trống Quân, Ca Trù, Xẩm; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể hát Ca Trù tại Lễ hội Đền Trần năm 2026; Tham gia Liên hoan Tuyên truyền lưu động toàn quốc do Cục Văn hóa cơ sở, Gia đình và Thư viện tổ chức, kết quả đạt được: 01 giải A, 02 giải B; tham gia sáng tác tranh cổ động tuyên truyền kỷ niệm 115 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5/6/1911-5/6/2026). Tổ chức Lớp tập huấn truyền dạy nghệ thuật Chèo năm 2026; hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá - Câu lạc bộ tại cơ sở.

Về nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh chức 72 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh (đạt 60% kế hoạch) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026; chương trình chào mừng thành công bầu cử Quốc hội khóa XVI, bầu cử HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Thư viện tỉnh tổ chức 07 cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương; viết 01 bài viết về hoạt động xe ô tô thư viện đăng trên đặc san ngành; biên soạn 14 bài giới thiệu sách chuyên đề, 24 tin bài về hoạt động thư viện đăng tải lên đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; tổ chức hội nghị nói chuyện chuyên đề "Mở trang sách - nhận niềm vui" và phát động các hoạt động phục vụ thiếu nhi hè năm 2026 với sự tham gia của Tiến sĩ Giáo dục Nguyễn Thụy Anh và trên 300 giáo viên, phụ huynh, học sinh, bạn đọc tham gia. Biên soạn, phát hành Thư mục toàn văn Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn phục vụ các hoạt động tuyên truyền, tra cứu và tìm tin của bạn đọc trên nền tảng số. Tổ chức phục vụ xe ô tô Thư viện lưu động tại 25 Trường Tiểu học và THCS với 17.202 lượt học sinh tham gia, trên 34.401 lượt tài liệu được luân chuyển, tặng 862 bản sách cho học sinh.

Trung tâm văn hóa - Điện tảnh tỉnh tổ chức 318 buổi chiếu phim (68 buổi lưu động, 250 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.


Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm:

Tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

b) Hoạt động thể dục thể thao

Về thể dục thể thao cho mọi người:

Tỉnh tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành thể dục thể thao Việt Nam (27/3/1946 - 27/3/2026). Tổ chức thành công các giải: Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; vô địch trẻ Vật dân tộc, Vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; Bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; Pickleball cán bộ công chức cơ quan Văn phòng sở, các sở, ban, ngành của tỉnh; Hội thao nhân dịp chào mừng 80 năm ngày truyền thống ngành TDTT Việt Nam (27/3/1946 – 27/3/2026). Phối hợp Liên đoàn Cờ vua, Cờ tướng tổ chức giải vô địch Cờ tướng các câu lạc bộ tỉnh Hưng Yên năm 2026. Phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức giải Bóng chuyền hơi Cựu chiến binh tỉnh Hưng Yên năm 2026. Ban hành Kế hoạch tổ chức Lễ phát động phòng, chống đuối nước cho trẻ em và lớp tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Bơi, cứu đuối năm 2026; Kế hoạch tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Lân Sư Rồng năm 2026; chấp thuận cho hơn 10 đơn vị tổ chức các giải thi đấu thể thao cấp tỉnh; cấp 05 Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh hoạt động thể dục thể thao cho tổ chức, cá nhân.

Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tỉnh tổ chức triển khai kế hoạch đào tạo, huấn luyện, tham dự thi đấu năm 2026; huấn luyện 515 vận động viên ở 18 môn thể thao; xây dựng lực lượng, tổ chức tập huấn các đoàn vận động viên chuẩn bị tham gia thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026. Triển khai kế hoạch tập huấn, tham dự các giải thể thao quốc gia của 18 môn thể thao hiện có, gồm: Đua thuyền, Jujitsu, Pencak Silat, Điền kinh, Muay, Karate, Cầu lông, Wushu, Kickboxing, Boxing, Bóng chuyền nữ, Bóng bàn, Cử tạ, Võ cổ truyền, Bơi lặn, Taekwondo, Bóng đá nhi đồng, Vật. Tính đến nay, đã tổ chức tập huấn, tham dự thi đấu 25 giải thể thao quốc gia, 05 giải quốc tế, giành tổng số 205 huy chương các loại, trong đó có 48 HCV, 55 HCB và 102 HCĐ; các vận động viên của tỉnh được triệu tập đội tuyển quốc gia tham dự các giải quốc tế, gồm: Vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026 tại Bangkok - Thái Lan đạt 01 HCĐ; Vô địch Vật Bãi biển Thế giới năm 2026 tại Đà Nẵng đạt 1 HCĐ; Vô địch Rowing Châu Á năm 2026 tại Hàn Quốc đạt 2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ; vận động viên Nguyễn Thùy Duyên tham dự giải Jujitsu Vô địch Thế giới năm 2026 tại Antalya, Thổ Nhĩ Kỳ đạt 1 HCV, 1 HCB. Đội Bóng đá nhi đồng U11 tỉnh tham dự vòng đấu bảng giải Bóng đá nhi đồng toàn quốc năm 2026 tranh Cúp Nestlé MILO tại thành phố Hải Phòng, kết thúc vòng đấu bảng đội đạt được 01 trận thắng, 02 trận hòa và giành quyền tham dự Vòng Chung kết toàn quốc thi đấu tại tỉnh Đắk Lắk vào tháng 7, 8.

c) Hoạt động du lịch

Tỉnh tổ chức thành công Liên hoan ẩm thực tỉnh Hưng Yên lần thứ III năm 2026. Quyết định công nhận 03 điểm du lịch và 01 khu du lịch cấp tỉnh. Trong sáu tháng đầu năm, tổng lượng khách du lịch đến Hưng Yên ước đạt 2,8 triệu lượt khách, trong đó có khoảng 63.000 lượt khách quốc tế.

Xây dựng và đặt 14 bảng quét QRcode thông tin du lịch đặt tại các điểm trên địa bàn tỉnh; bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên; tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch Hưng Yên: Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam; lễ hội đền Phù Ủng; lễ hội đền Trần; lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung; hội chợ VITM Hà Nội và tổ chức chương trình Hội nghị xúc tiến bên lề hội chợ; tổ chức “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026” đợt I với chủ đề “Kết nối di sản, lan tỏa hào khí Đông A”; trưng bày quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh tại Chương trình “Kết nối Hưng Yên - Nhật Bản”; Ngày hội gia đình tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam; tham gia Chương trình khảo sát điểm đến và tọa đàm xây dựng chương trình du lịch trải nghiệm “Mùa quả chín xứ Đông”; phối hợp quảng bá Du lịch Hưng Yên trên Đài truyền hình Việt Nam: “Vị Quê và Việt Nam hôm nay”; Around Việt Nam - Phim: “Hành trình tâm linh - Một miền văn hoá”; Trung tâm Phát thanh truyền hình Quân đội sản xuất chương trình “Ký sự ẩm thực” tại tỉnh Hưng Yên;… Phối hợp với Xí nghiệp Đầu tư và Phát triển du lịch sông Hồng tổ chức đón và hướng dẫn đoàn khách tour du lịch sông Hồng; xây dựng Kế hoạch, tổ chức Workshop, Review điểm đến du lịch Hưng Yên thông qua nền tảng số; vận động doanh nghiệp, tham gia quảng bá xúc tiến du lịch tỉnh tại Triển lãm Du lịch - Ẩm thực và phát động hưởng ứng kích cầu Du lịch “Tam Đảo - Điểm hẹn trên mây” năm 2026; đón và hướng dẫn trên 1.000 khách về tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.

3. Giáo dục, đào tạo

Từ đầu năm 2026 đến nay, ngành giáo dục tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định quy mô giáo dục, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Cuối năm học 2025 - 2026, toàn tỉnh có: (1) cấp mầm non có 503 trường (452 công lập, 51 tư thục), 6.117 lớp, 135.970 học sinh; (2) cấp tiểu học có 198 trường tiểu học và 256 trường TH&THCS với 7.456 lớp, 153.943 học sinh; (3) cấp THCS có 187 trường THCS và 256 trường TH&THCS, với 5.489 lớp, 222.143 học sinh; (4)  cấp THPT có 81 trường (55 công lập, 26 tư thục) với 2.508 lớp, 109.841 học sinh; (5) giáo dục thường xuyên, nghề nghiệp và đại học có 18 trung tâm GDTX GDNN với 18.172 học sinh, 48 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, 04 trường đại học công lập đang hoạt động trên địa bàn. Toàn tỉnh duy trì 100% xã, phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục tiểu học và THCS mức độ 3, xóa mù chữ mức độ 2. Tỉnh hoàn thành tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức giáo viên mầm non, phổ thông công lập năm học 2025-2026 với 3.095 thí sinh tham dự, góp phần giải quyết tình trạng thiếu giáo viên.

Tiến độ xây dựng trường chuẩn quốc gia được bảo đảm. Toàn tỉnh đã công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cho 1.084/1.236 trường, trung tâm (đạt 87,70%). Tỷ lệ trường mầm non và phổ thông đạt chuẩn quốc gia là 1.071/1.218 trường (đạt 87,93%), trong đó cấp tiểu học dẫn đầu với 97,96%, tiếp đến là THCS đạt 95,72%.

Sáu tháng đầu năm 2026, ngành giáo dục của tỉnh ghi nhận nhiều thành tích xuất sắc, tiêu biểu như: Học sinh Trường THPT Hưng Yên đoạt Huy chương Vàng lĩnh vực Hóa Sinh tại Cuộc thi khoa học, kỹ thuật quốc tế EUREKA WARSAW 2026 (Ba Lan). Tại Cuộc thi KHKT cấp quốc gia, tỉnh có 02 dự án đoạt giải (1 giải nhất, 1 giải tư), trong đó dự án của THPT Yên Mỹ được tham gia Hội thi ISEF 2026 tại Hoa Kỳ. Tại kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT, Hưng Yên có 125 học sinh đoạt giải (16 giải Nhì, 32 giải Ba, 77 giải Khuyến khích).

Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2026-2027 tỉnh Hưng Yên diễn ra từ ngày 24 - 26/5/2026. Kỳ thi có 56 Hội đồng coi thi; 42.944 thí sinh (THPT công lập không chuyên: 40.721 thí sinh: THPT chuyên: 2.223 thí sinh); 1.918 phòng thi (THPT công lập không chuyên: 1.816 phòng thi; THPT chuyên: 102 phòng thi). Chiều ngày 24/5, thí sinh đến điểm thi làm thủ tục, nghe phổ biến quy chế. Ngày 25/5/2026: Sáng thi Ngữ văn, chiều thi Toán. Ngày 26/5/2026: Sáng thi Tiếng Anh; chiều thi môn chuyên (đối với thí sinh dự thi vào trường chuyên).

Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm học 2025-2026 diễn ra từ ngày 10-12/6/2026. Toàn tỉnh có 70 điểm thi, với 43.666 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: 41.791 thí sinh học lớp 12; 1.875 thí sinh tự do; số thí sinh học chương trình giáo dục THPT là 36.816; số thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên là 6.850.

4. Hoạt động y tế

Tình hình bệnh truyền nhiễm: Từ đầu năm 2026 đến nay, toàn tỉnh không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Các đơn vị chủ động theo dõi, bám sát tình hình dịch bệnh, bệnh Cúm, Sốt xuất huyết, Tay chân miệng, Covid-19 và các bệnh truyền nhiễm khác. Tăng cường công tác phòng chống dịch bệnh theo mùa. Công tác giám sát, báo cáo, thường trực phòng chống dịch được duy trì, kịp thời xử lý hiệu quả các ca bệnh/nghi bệnh/ổ dịch bệnh truyền nhiễm theo quy định. Tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong sáu tháng đầu năm 2026 như sau: bệnh tay chân miệng 1.096 ca; bệnh sởi 48 ca; bệnh sốt xuất huyết Dengue 103 ca; ho gà 11 ca; bệnh COVID-19 85 ca; hội chứng cúm: Không phát hiện các trường hợp mắc cúm nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9. Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu,... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh.

An toàn vệ sinh thực phẩm: Tính đến 15/6/2026, trên địa bàn tỉnh xảy ra 02 vụ nghi ngộ độc thực phẩm:

+ Ngày 29/4/2026, xảy ra 01 vụ nghi ngộ độc thực phẩm do ăn tiết canh vịt (tiết vịt sống), có 31 người có triệu chứng nghi ngộ độc thực phẩm, 27 người điều trị tại bệnh viện, 4 người điều trị tại nhà, không có tử vong. Thực phẩm gây ngộ độc là tiết vịt sống; tác nhân gây ngộ độc thực phẩm: nghi nhiều do vi sinh vật.

+ Điều tra, xác minh thông tin nghi ngộ độc thực phẩm tại Bếp ăn tập thể Chi nhánh Công ty TNHH Toyoda Gosei Hải Phòng tại Thái Bình. Địa chỉ: KCN Tiền Hải, xã Ái Quốc, tỉnh Hưng Yên.

5. Vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Sáu (Từ ngày 23/5/2026 đến ngày 22/6/2026), toàn tỉnh phát hiện 22 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 22 vụ với số tiền xử phạt 345,40 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm tăng 22 vụ; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 20 vụ; số tiền xử phạt tăng 345,40 triệu đồng. So với tháng cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 5 vụ, giảm 18,52%; số vụ vi phạm đã xử lý tăng 11 vụ, tăng 100,0%; số tiền xử phạt tăng 33,36 triệu đồng, tăng 10,69%. Lũy kế sáu tháng đầu năm (từ ngày 23/12/2025 đến ngày 22/6/2026), toàn tỉnh phát hiện 45 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 57 vụ với số tiền xử phạt 3.364,42 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 69 vụ, tương ứng giảm 60,53%; số vụ đã xử lý giảm 15 vụ, tương ứng giảm 20,83%; số tiền xử phạt giảm 683 triệu đồng, giảm 16,88%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về đổ chất thải trái phép ra môi trường; xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,...

Từ ngày 15/5/2026 đến ngày 14/6/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 04 vụ cháy (xã Mỹ Hào 01 vụ, xã Phụ Dực 01 vụ, xã Như Quỳnh 01 vụ, xã Quỳnh An 01 vụ); không có vụ nổ; không có thiệt hại về người; giá trị thiệt hại về tài sản là 2.135 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ cháy tăng 01 vụ, tương ứng tăng 33,33%. So với tháng cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 03 vụ, tương ứng tăng 300,0%; số người bị thương giảm 05 người. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 23 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 02 người; giá trị thiệt hại về tài sản 3.990 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ cháy, nổ tăng 06 vụ, tăng 35,29%; số người chết tăng 01 người; số người bị thương giảm 05 người, tương ứng giảm 71,43%.

6. An toàn giao thông

Trong tháng Sáu (Từ ngày 15/5/2026 đến 14/6/2026), toàn tỉnh xảy ra 33 vụ tai nạn giao thông (đường bộ xảy ra 32 vụ, đường thủy nội địa xảy ra 01 vụ), làm chết 28 người (đường bộ); làm bị thương 06 người (đường bộ). So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 02 vụ, tăng 6,45%; số người chết tăng 01 người, tăng 3,70%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 40,0%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 10 vụ, giảm 23,26%; số người chết tăng 01 người, tăng 3,70%; số người bị thương giảm 22 người, giảm 78,57%. Lũy kế sáu tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 236 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 233 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy nội địa 02 vụ), làm chết 160 người (đường bộ 159 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 126 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 42 vụ, giảm 15,11%; số người chết giảm 04 người, giảm 2,44%; số người bị thương giảm 49 người, giảm 28,0%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng.

Đánh giá chung: Sáu tháng đầu năm 2026, trong bối cảnh tình hình kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức, ngay từ đầu năm, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quyết liệt, hiệu quả và kịp thời, trong đó, xây dựng chi tiết kịch bản điều hành và triển khai thực hiện quyết liệt, kịp thời các chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh về tăng trưởng kinh tế 2 con số, nhờ đó kinh tế của tỉnh đạt kết quả ấn tượng với tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 2 con số và vượt kịch bản đề ra. Các ngành, lĩnh vực chủ yếu của kinh tế duy trì đà tăng tích cực và hầu hết đạt và vượt kịch bản đề ra. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực; đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân tiếp tục được nâng lên; công tác bảo đảm an sinh xã hội, hỗ trợ người lao động, nhất là dịp lễ, Tết được thực hiện đúng, đủ, kịp thời; chất lượng giáo dục nâng cao và y tế bảo đảm; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững ổn định.

IV. KHÓ KHĂN, HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN

1. Khó khăn, hạn chế

Tăng trưởng ngành xây dựng chưa đạt kịch bản đề ra. Thực hiện một số nhiệm vụ đã có chỉ đạo, tiến độ triển khai một số dự án đầu tư công và công tác tác giải phóng mặt bằng ở một số xã, phường vẫn còn chậm; tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công còn thấp; số lượng doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường (tạm ngừng kinh doanh, giải thể) còn khá cao.

Việc xử lý đối với một số dự án tồn tại được chỉ đạo triển khai quyết liệt nhưng chưa dứt điểm. Việc xử lý tài sản công, trụ sở dôi dư sau sắp xếp còn gặp khó khăn do vướng mắc về quy hoạch, chuyển đổi công năng và thủ tục pháp lý. Công tác quản lý đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… ở một số địa phương còn hạn chế, vi phạm vẫn còn tiếp diễn và chưa xử lý dứt điểm.

Cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành, chuyển đổi số tại một số cơ quan, đơn vị chưa có sự chuyển biến rõ nét. Tỷ lệ người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến ở một số địa bàn còn thấp. Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho công dân còn chậm, chưa đạt yêu cầu. Quá trình giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế.

2. Nguyên nhân

Bên cạnh các nguyên nhân khách quan (tình hình thế giới diễn biến phức tạp, khó lường, nhất là xung đột quân sự tại Trung Đông ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của người dân và doanh nghiệp; thị trường tài chính, bất động sản tiềm ẩn nhiều rủi ro; giá nguyên liệu đầu vào (xăng, dầu…) tăng cao; hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn bất cập, thiếu đồng bộ, chậm được sửa đổi, bổ sung,...), một số nguyên nhân chủ quan vẫn chưa được khắc phục triệt để, cụ thể:

- Việc lãnh đạo, chỉ đạo của một số cơ quan, đơn vị thiếu quyết liệt, sâu sát; chưa linh hoạt, sáng tạo trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ. Tính chủ động, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc, nhất là những vấn đề khó, phức tạp còn hạn chế. Công tác dự báo, nắm bắt tình hình thực hiện nhiệm vụ của một số đơn vị chưa thực sự chủ động, kịp thời tham mưu giải quyết các vấn đề phát sinh.

- Một số chủ đầu tư còn thiếu chủ động, chưa linh hoạt trong triển khai các biện pháp đẩy nhanh tiến độ thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công. Một số dự án còn khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng, xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư; nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao, ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công; năng lực của một số nhà thầu còn hạn chế.

- Ý thức chấp hành quy định về đất đai, đê điều, xây dựng, môi trường… của một số người dân chưa cao. Nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính đôi lúc chưa thống nhất. Năng lực, trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ còn chưa đáp ứng được yêu cầu.

V. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM 6 THÁNG CUỐI NĂM 2026

Nắm bắt, tháo gỡ kịp thời các khó khăn vướng mắc, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ổn định, thúc đẩy hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh, phát triển thị trường tiêu thụ sản phẩm, sớm đưa các dự án vào khai thác, tạo năng lực sản xuất mới cho ngành công nghiệp; đẩy nhanh tiến độ chấp thuận chủ trương đầu tư, triển khai các dự án công nghiệp, nhất là dự án có quy mô lớn, quan trọng của tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước và Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của phía Bắc giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế, nhất là năng lượng sạch; nghiên cứu xây dựng Đề án xây dựng Hưng Yên trở thành trung tâm năng lượng vùng đồng bằng sông Hồng. Đẩy nhanh hoàn thiện Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên. Rà soát xây dựng phương án điều chỉnh ranh giới, điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế, Kế hoạch phát triển khu kinh tế 5 năm giai đoạn 2026-2030, cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế giai đoạn 2026-2030.

Khẩn trương rà soát, hoàn thiện công tác quy hoạch, bảo đảm tính đồng bộ, chất lượng và phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; đẩy nhanh tiến độ lập, phủ kín quy hoạch chung, quy hoạch phân khu các đô thị, quy hoạch chung đô thị, nông thôn, làm cơ sở để thu hút, mời gọi đầu tư các dự án theo quy định. Tổ chức lập Đề án xây dựng tỉnh trở thành đô thị loại I đến năm 2035 và thành phố trực thuộc Trung ương, thông minh, sinh thái đến năm 2045 và Kế hoạch phát triển các khu đô thị trung tâm của tỉnh. Theo dõi, đôn đốc tiến độ thực hiện các dự án, công trình xây dựng trên địa bàn; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong công tác quy hoạch, đầu tư, quản lý xây dựng, vật liệu xây dựng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng, chất lượng công trình và trật tự xây dựng.

Rà soát, lập danh mục chi tiết dự án đầu tư công theo từng địa phương, từng chủ đầu tư, đặc biệt là các dự án, công trình trọng điểm; lập đường găng tiến độ giải ngân cụ thể, khả thi, sát thực tiễn, phấn đấu đạt và vượt mức giải ngân trung bình của cả nước, tạo bứt phá rõ nét về tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công ngay trong Quý II/2026. Nghiên cứu triển khai phương án chấm điểm KPI việc thực hiện giải ngân vốn đầu tư công của các cơ quan, đơn vị, địa phương làm cơ sở để công khai, đánh giá kết quả giải ngân vốn đầu tư công của các đơn vị. Tiếp tục hoàn thiện Kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 sau khi Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ giao kế hoạch vốn cho tỉnh. Khẩn trương hoàn thành Đề án phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Tập trung chỉ đạo, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng, kiên quyết không để chậm tiến độ triển khai dự án đầu tư công do thiếu mặt bằng; đẩy nhanh tiến độ lập chủ trương đầu tư các dự án kết nối, tiến độ thi công các công trình, dự án, nhất là hạ tầng giao thông trọng điểm của tỉnh, có tính chất liên kết, kết nối vùng và hạ tầng kinh tế - xã hội khác.

Đẩy mạnh phát triển các hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt công tác khuyến công, khuyến thương và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thị trường, kết nối cung cầu, gắn kết giữa sản xuất với phân phối và tiêu dùng; phát triển mạnh thương mại điện tử. Thực hiện hiệu quả các giải pháp kích cầu tiêu dùng; đẩy mạnh cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Tiếp tục thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường; tăng cường phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả. Tận dụng các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), phát triển các thị trường xuất khẩu mới, mở rộng các thị trường xuất khẩu truyền thống.

Tập trung phát triển các sản phẩm chủ lực, từng bước xây dựng thương hiệu riêng của tỉnh đối với các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế như cây ăn quả, lúa chất lượng cao, thủy, hải sản. Xây dựng Đề án phát triển vùng sản xuất nông nghiệp tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao và Dự án cải tạo, nâng cao chất lượng, giá trị sản phẩm cây ăn quả đặc sản, chủ lực tỉnh Hưng Yên theo hướng bền vững phục vụ tái cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2026-2030. Thực hiện đạt kết quả cao Kế hoạch sản xuất trồng trọt, chuyển đổi cơ cấu cây trồng trên đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây có giá trị kinh tế cao; thực hiện tốt công tác phòng, chống dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi, thủy sản. Hoàn thành Đề án phát triển nuôi trồng thủy hải sản đặc sản trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026-2030. Duy trì tốt công tác quản lý, phát triển và bảo vệ rừng.

Tập trung đẩy nhanh tiến độ đo đạc, lập hồ sơ địa chính, đăng ký đất đai và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn toàn tỉnh. Chủ động hướng dẫn, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho các địa phương trong công tác quản lý đất đai, công tác giải phóng mặt bằng, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai, xây dựng, hành lang giao thông, thủy lợi, đê điều; kiên quyết ngăn chặn, xử lý tình trạng lấn chiếm, sử dụng đất sai mục đích.

Thực hiện đồng bộ, quyết liệt công tác thu ngân sách; rà soát đầy đủ các nguồn thu, mở rộng cơ sở thu, chống thất thu, chuyển giá và gian lận thuế bám sát các Bộ ngành. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thu, nâng cao chất lượng công tác dự báo, phân tích nguồn thu; quản lý hiệu quả các nguồn thu phát sinh từ các giao dịch thương mại điện tử, kinh doanh trên nền tảng số, kinh doanh qua mạng. Điều hành, quản lý chi ngân sách trong phạm vi dự toán được giao. Tăng cường quản lý chặt chẽ chi ngân sách nhà nước, đặc biệt là chi đầu tư công, bảo đảm phân bổ và sử dụng vốn đúng mục tiêu, đúng quy định, tránh dàn trải, thất thoát, lãng phí. Nghiên cứu tham mưu cấp có thẩm quyền đảm bảo bố trí tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước hằng năm cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.

Tăng cường thu hút đầu tư; tập trung xúc tiến, thu hút các dự án có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) có quy mô lớn, công nghệ cao, bảo vệ môi trường; cam kết đồng hành với nhà đầu tư, lắng nghe và trân trọng ý kiến đóng góp, tạo sự gắn kết và tin tưởng; kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư, cắt giảm thủ tục hành chính để đẩy nhanh tiến độ các dự án. Tập trung đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư ngoài ngân sách, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp, phát triển đô thị và kinh tế đô thị; tạo động lực thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Đẩy mạnh triển khai chuyển đổi số và thúc đẩy đổi mới sáng tạo theo hướng đồng bộ, hiệu quả, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin tại cơ quan, đơn vị, đặc biệt là Trung tâm phục vụ Hành chính công các cấp. Hỗ trợ tích cực người dân, doanh nghiệp chuyển đổi số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Ban hành Kế hoạch phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và Kế hoạch chuyển đổi số giai đoạn đến năm 2030, trong đó, cụ thể hóa theo từng năm để các cơ quan, đơn vị, địa phương bám sát, triển khai thực hiện.

Đẩy mạnh các hoạt động thông tin, tuyên truyền, cổ động trực quan, văn hóa, văn nghệ, thể thao phục vụ cho các nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn. Nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình, bảo đảm kịp thời, chính xác, đa dạng, phong phú và hấp dẫn; thực hiện đúng quy định về xử lý tin giả theo quy định. Tổ chức các sự kiện văn hóa, thể thao, du lịch tiêu biểu. Phê duyệt Đề án phát huy giá trị truyền thống văn hóa, con người trở thành động lực phát triển quan trọng của tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Quan tâm, ưu tiên nguồn lực bảo tồn, tôn tạo và phát huy các di sản văn hóa, di tích lịch sử.

Tiếp tục thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân. Nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; đảm bảo đủ thuốc, vật tư y tế chăm sóc và phục vụ Nhân dân. Theo dõi chặt chẽ tình hình dịch bệnh, tăng cường giám sát, phòng chống dịch bệnh (sốt xuất huyết, tay chân miệng...); đẩy mạnh phòng chống tác hại rượu bia, bệnh không lây nhiễm; triển khai các chương trình về dinh dưỡng, y tế trường học…

Chỉ đạo các cơ sở giáo dục tổ chức tổng kết năm học 2025-2026, xây dựng kế hoạch và triển khai thực hiện nhiệm vụ năm học mới 2026-2027; hướng dẫn và chuẩn bị công tác tuyển sinh vào các cơ sở giáo dục mầm non, lớp 1 và lớp 6 năm học 2026-2027; quản lý chặt chẽ việc dạy thêm, học thêm ở các cấp học. Tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên; bảo đảm công tác nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ đáp ứng yêu cầu của Chương trình Giáo dục mầm non. Tổ chức triển khai Đề án phát triển các trường THPT chuyên thuộc tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Đẩy mạnh phát triển giáo dục nghề nghiệp, hợp tác doanh nghiệp trong công tác tuyển sinh, tổ chức đào tạo và giải quyết việc làm.

Tiếp tục hoàn thiện chính sách thu hút, giữ chân lao động; triển khai các kế hoạch, chương trình về an toàn vệ sinh lao động, lao động - việc làm; tổ chức tập huấn, kiểm tra chuyên đề tại doanh nghiệp và hướng dẫn cơ sở, doanh nghiệp thực hiện các quy định pháp luật về lao động - việc làm. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chính sách đối với người có công và quan tâm, chăm lo người nghèo, các đối tượng yếu thế. Tiếp tục phối hợp triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát cho con đẻ người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học. Tập trung triển khai quyết liệt, bài bản “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Rà soát các hộ nghèo, phân nhóm, đề xuất cơ chế chính sách và xây dựng kế hoạch giảm nghèo năm 2026 hướng tới mục tiêu đến hết năm 2026 tỉnh không còn hộ nghèo. Bảo vệ, chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; kiểm soát và giảm số lượng trẻ em bị xâm hại, tai nạn, thương tích, bạo lực học đường, đuối nước, tai nạn giao thông...;

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự; đảm bảo phù hợp với năng lực thực tiễn của chính quyền cơ sở, giúp cơ sở chủ động trong công tác cán bộ. Tiếp tục thực hiện Đề án sắp xếp tổ chức bộ máy các đơn vị sự nghiệp công lập trên địa bàn tỉnh. Rà soát tổng thể chất lượng, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã; hoàn thiện tiêu chuẩn, tiêu chí theo yêu cầu vị trí việc làm theo quy định. Tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, công vụ.