02213 863 641 /0978240366 | hungyen@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 4 năm 2026

27/10/2026 08:43

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản

Tình hình sản xuất nông nghiệp tháng Tư năm 2026 của các địa phương trong tỉnh là tập trung chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây lúa và rau màu vụ xuân; đồng thời chủ động phòng, chống sâu bệnh hại trên cây ăn quả. Bên cạnh đó, các địa phương tăng cường các biện pháp bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm trước những diễn biến của thời tiết và nguy cơ phát sinh dịch bệnh trong thời điểm giao mùa. Trong tháng, thời tiết diễn biến tương đối thuận lợi, nhiệt độ ổn định, ít xảy ra mưa lớn, tạo điều kiện cho cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt; trên đàn gia súc, gia cầm chưa phát sinh dịch bệnh lớn.

Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau:                

a) Nông nghiệp

Trồng trọt

Cây hằng năm

Đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh cơ bản hoàn thành gieo trồng lúa và cây rau màu vụ Xuân theo đúng khung thời vụ. Tổng diện tích gieo trồng đạt khoảng 95.500 ha lúa đông xuân, giảm 1,35% so với cùng kỳ năm trước và khoảng 24.500 ha cây rau màu vụ Xuân. Diện tích gieo trồng lúa và cây rau màu giảm do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang xây dựng các công trình giao thông, mở rộng khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Đây là xu hướng phù hợp với quá trình công nghiệp hóa, tuy nhiên cũng đặt ra yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng diện tích canh tác còn lại.

Thời điểm này, cây lúa đang trong giai đoạn cuối đẻ nhánh - đứng cái làm đòng, lúa cấy sớm giai đoạn đòng già - trỗ. Tính đến ngày 20/4/2026, toàn tỉnh có 2.265 ha lúa đã trỗ bông. Nông dân các xã trong toàn tỉnh đã chấp hành tốt lịch phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ và các đối tượng sâu bệnh hại khác trên lúa từ ngày 10-15/4/2026 của ngành chuyên môn đưa ra. Theo dự báo, từ nay đến cuối tháng sẽ có mưa, nền nhiệt độ giảm, đây là điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh đạo ôn cổ bông xâm nhập, gây hại. Ước toàn tỉnh có trên 20.000 ha lúa trỗ bông trong tháng 4 phải được phun phòng bệnh đạo ôn cổ bông 2 lần.

 Tiến độ gieo trồng một số cây trồng chính đến ngày 20/4/2026 như sau: cây ngô 3.733 ha ( tăng 2,71%); cây đậu tương 533 ha ( giảm 6,79%); cây khoai lang 692 ha (giảm 1,92%); rau các loại 15.264 ha (tăng 2,37%);... Diện tích tăng ở cây ngô và rau màu do có thị trường tiêu thụ ổn định, hiệu quả kinh tế cao hơn một số cây trồng truyền thống. Diện tích đậu tương và khoai lang giảm do hiệu quả thấp, chi phí sản xuất cao và khó cạnh tranh trên thị trường.

Hoạt động tiêu thụ nông sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên nhìn chung ổn định, một số mặt hàng có xu hướng tăng giá nhẹ so với cùng kỳ và tháng trước, góp phần cải thiện thu nhập cho người sản xuất. Giá rau màu các loại (rau ăn lá, cà chua, dưa chuột…) giữ giá và có tăng nhẹ so với tháng trước.

Cây lâu năm

Đến thời điểm hiện tại, các loại cây ăn quả chủ lực trên địa bàn tỉnh sinh trưởng và phát triển tốt, điều kiện thời tiết tương đối thuận lợi cho quá trình ra hoa, đậu quả. Đối với cây nhãn và vải đang trong giai đoạn ra hoa - đậu quả non, đây là giai đoạn quyết định đến năng suất và sản lượng cả vụ.

Chăn nuôi

Trong tháng qua, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm gia cầm tăng khá, chăn nuôi lợn từng bước phục hồi, đàn trâu, bò cơ bản ổn định.

Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ổn định, không có địa phương nào báo cáo có trường hợp hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trong tháng, toàn tỉnh đã cấp phát các liều vắc xin trị bệnh tụ huyết trùng, lở mồm long móng, viêm da nổi cục,...đồng thời, các xã, phường đã hoàn thành phun khử trùng tiêu độc tại các cơ sở chăn nuôi. Hiện giá bán thịt lợn hơi trên thị trường bình vẫn giữ ở mức khá cao, khoảng 68.000 - 69.000 đồng/kg, đã tạo tâm lý cho người dân yên tâm sản xuất và tái đàn. Vì vậy, tổng đàn lợn dự báo tiếp tục duy trì tốt trong thời gian tới.

Ước tính tại thời điểm 30/04/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.997 con, tăng 0,27%; đàn bò 83.424 con, tăng 0,51%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 997.530 con, tăng 1,91%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.665 nghìn con, tăng 2,07% (trong đó: đàn gà đạt 17.419 nghìn con, tăng 2,46%) so với cùng thời điểm năm trước.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Tư, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không có biến động lớn, các hoạt động chủ yếu diễn ra ổn định. Trong kỳ báo cáo, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng, phá rừng; công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được duy trì tốt.

 Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Tư năm 2026 ước đạt 282 m³, giảm 0,35%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 213 nghìn cây, tăng 1,38% so với cùng kỳ năm trước. Bốn tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.545 m³, tăng 0,16%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 716 nghìn cây, tăng 1,02% so với cùng kỳ năm 2025.

c) Sản xuất thủy sản

Sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên trong tháng Tư năm 2026 tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh.

Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Tư ước đạt 9.753 tấn, tăng 2,94% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.205 tấn, tăng 2,97%; tôm 124 tấn, tăng 3,33%; thủy sản khác 3.424 tấn, tăng 2,88%. Ước tính bốn tháng đầu năm 2026 sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 37.536 tấn, tăng 3,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 23.490 tấn, tăng 3,72%; tôm 525 tấn, tăng 3,75%; thủy sản khác 13.521 tấn, tăng 3,40%.

Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức sản xuất. Thời tiết trong tháng cơ bản thuận lợi, môi trường nước tương đối ổn định, tạo điều kiện cho thủy sản sinh trưởng, phát triển tốt. Người nuôi từng bước áp dụng tiến bộ kỹ thuật, nâng cao chất lượng con giống và quản lý chăm sóc, góp phần tăng năng suất và sản lượng.

Công tác chỉ đạo, quản lý của các địa phương được tăng cường, đặc biệt tại các vùng nuôi tập trung và khu vực nuôi cá lồng trên các tuyến sông lớn như sông Hồng, sông Luộc, sông Trà Lý, sông Tiên Hưng, góp phần kiểm soát môi trường và hạn chế dịch bệnh. Các mô hình nuôi tiếp tục được đa dạng hóa về đối tượng (cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, hàu,...) và hình thức sản xuất (nuôi ao, nuôi lồng, nuôi bè), nâng cao hiệu quả khai thác diện tích mặt nước. Toàn tỉnh có 1.024 lồng nuôi cá trên sông, trong đó có 952 lồng thực nuôi. Các đối tượng nuôi trong lồng bao gồm: cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, chép giòn, ngạnh, trắm đen. Phát triển nuôi hàu cửa sông đạt 3.576 bè thuộc cửa sông trên địa bàn xã Hưng Phú, Đông Thụy Anh.

Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Tư ước đạt 18.592 tấn, tăng 3,15% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.370 tấn, tăng 3,08%; tôm 582 tấn, tăng 3,56%; thủy sản khác 9.640 tấn, tăng 3,19%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 77.201 tấn, tăng 3,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 33.127 tấn, tăng 3,65%; tôm 908 tấn, tăng 3,43%; thủy sản khác 43.166 tấn, tăng 3,66%.

2. Sản xuất công nghiệp

a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Tư và bốn tháng năm 2026 như sau:

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Tư tăng 1,77%, trong đó: khai khoáng giảm 0,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,45%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,54%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 26,89%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: mạch in khác tăng 51,16%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 44,58%; tôm đông lạnh tăng 27,45%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 12,14%; điện sản xuất tăng 10,24%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 9,25%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 9,06%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 7,75%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 17,80%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 10,3%; thức ăn cho gia cầm giảm 8,5%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 5,51%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 3,96%; quần áo các loại giảm 3,45%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 3,21%;...

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Tư tăng 15,11%, trong đó: khai khoáng tăng 6,97%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,01%; sản xuất và phân phối điện tăng 7,95%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10,22%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng gấp 145,39%; nước khoáng không có ga tăng 57,41%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 55,13%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 45,94%; mạch điện tử tích hợp tăng 32,61%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 19,37%; điện thương phẩm tăng 17,46%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 16,30%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 14,07%;....

Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 29,09%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 28,02%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 8,81%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 8,50%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 8,20%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt giảm 4,13%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu tăng 1,41%;...

Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,66% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó:

Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 9,85%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 4,57%; khai khoáng khác tăng 9,85%.

Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,24%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 90,22%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 31,78%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 25,03%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 24,54%; ản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 23,04%; sản xuất trang phục tăng 20,29%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 17,92%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 17,08%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 15,69%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 16,26%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 6,84%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 3,72%; sản xuất xe có động cơ tăng 1,38%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,94%;……

Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong Bốn tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 110,72%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 40,88%; mạch điện tử tích hợp tăng 37,49 nước khoáng không có ga tăng 33,90%; quần áo các loại tăng 19,13%; thức ăn cho gia cầm tăng 17,03%; mạch in khác tăng 16,02%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 13,61%;.... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 21,06%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 18,49%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 8,33%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 8,24%;....

Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). ). Trong tháng Tư, ngành có sự tăng trưởng cao do 2 Nhà máy nhiệt điện sản xuất ổn định đáp ứng nhu cầu phụ tải cho Tập đoàn điện lực Việt Nam.

Năm 2026, PC Hưng Yên đề ra nhiều mục tiêu cụ thể nhằm triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hiệu quả, bảo đảm hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu mà Tổng Công ty Điện lực miền Bắc giao. Trong đó, Công ty phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện; cung cấp điện an toàn, ổn định, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.

Với tình hình như trên, sản lượng điện sản xuất và phân phối trong tháng 4/2026 có tăng trưởng khá so với cùng kỳ, do sản lượng điện sản xuất và phân phối đều tăng. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện tháng 4 tăng 7,95% so với cùng kỳ, ước tổng sản lượng điện sản xuất đạt 1.112 triệu Kwh tăng 4,43% so với cùng kỳ và điện thương phẩm đạt 993 triệu Kwh tăng 17,46% so với cùng kỳ.

Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải bốn tháng đầu năm 2026 tăng 7,36% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 8,14%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 11,20%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 7,27%.

b) Chỉ số sử dụng lao động

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Tư toàn ngành tăng 4,16% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 1,0%. cộng dồn 4 tháng tăng 4,27% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tháng Tư tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện rất ổn định và có sự phát triển khá. Có những ngành, những doanh nghiệp gặp thuận lợi phát triển tốt trong sản xuất kinh doanh và ngược lại, do đó chỉ số sử dụng lao động có biến động rất lớn giữa các ngành.

Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong bốn tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 38,44%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 25,74%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,71%; sản xuất đồ uống tăng 19,37%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,13%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 15,17%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 14,48%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 7,40%; dệt giảm 4,86%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,33%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,31%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,30%;...

3. Hoạt động đầu tư

a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Trong tháng Tư, một số dự án giao thông trọng điểm được quán triệt quyết liệt, đẩy nhanh tiến độ giải phòng mặt bằng. Các ngành, các đơn vị và các địa phương liên quan tập trung cao, đẩy nhanh tiến độ triển khai, phấn đấu sớm hoàn thành dự án, góp phần thu hút các nhà đầu tư đến với tỉnh và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Tư năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 3.368 tỷ đồng, tăng 44,98%, tương ứng tăng 1.045 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.937 tỷ đồng, tăng 52,16%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.430 tỷ đồng, tăng 36,27%. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 10.970 tỷ đồng, tăng 24,34%, tương ứng tăng 2.147 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 25,49% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 6.289 tỷ đồng, tăng 31,44%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 4.681 tỷ đồng, tăng 15,92%.

b) Hoạt động đầu tư nước ngoài

Tính đến ngày 25/4/2026, toàn tỉnh có 979 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.513,84 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 25/4/2026, có 16 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 206,02 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 201 dự án, vốn đăng ký là 6.356,47 triệu USD, chiếm 36,29% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 374 dự án, vốn đăng ký 4.520,57 triệu USD, chiếm 25,81% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 213 dự án, vốn đăng ký 2.309,85 triệu USD, chiếm 13,19% tổng vốn đăng ký.

c) Phát triển doanh nghiệp

Tính từ ngày 22/3/2026 đến ngày 21/4/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 575 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.822 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 6.379 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 112 doanh nghiệp, sử dụng 801 lao động, vốn đăng ký 699 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 243 doanh nghiệp, sử dụng 1.107 lao động, vốn đăng ký 918 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 25 doanh nghiệp, sử dụng 132 lao động, vốn đăng ký 3.584 tỷ đồng; vận tải kho bãi 34 doanh nghiệp, sử dụng 111 lao động, vốn đăng ký 137 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 28 doanh nghiệp, sử dụng 149 lao động, vốn đăng ký 80 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 17 doanh nghiệp, sử dụng 69 lao động, vốn đăng ký 68 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 16 doanh nghiệp, sử dụng 58 lao động, vốn đăng ký 19 tỷ đồng;...

Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/4/2026, toàn tỉnh có 2.109 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 15.221 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 18.019 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 937 doanh nghiệp, sử dụng 3.694 lao động, vốn đăng ký đạt 3.169 tỷ đồng (chiếm 24,27% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 411 doanh nghiệp, sử dụng 7.879 lao động, vốn đăng ký đạt 3.712 tỷ đồng (chiếm 51,76%); xây dựng 187 doanh nghiệp, sử dụng 831 lao động, vốn đăng ký 1.272 tỷ đồng (chiếm 5,46%); hoạt động vận tải, kho bãi 148 doanh nghiệp, sử dụng 497 lao động, vốn đăng ký 787 tỷ đồng (chiếm 3,27%); giáo dục và đào tạo 41 doanh nghiệp, sử dụng 168 lao động, vốn đăng ký 63 tỷ đồng (chiếm 1,10%); kinh doanh bất động sản 77 doanh nghiệp, sử dụng 750 lao động, vốn đăng ký 7.612 tỷ đồng (chiếm 4,93%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 86 doanh nghiệp, sử dụng 361 lao động, vốn đăng ký 204 tỷ đồng (chiếm 2,37%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 63 doanh nghiệp, sử dụng 268 lao động, vốn đăng ký 192 tỷ đồng (chiếm 1,76%);...

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Tư (tính từ ngày 22/3/2026 đến ngày 21/4/2026) là 58 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/4/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 377 doanh nghiệp.

Cũng từ ngày 22/3/2026 đến ngày 21/4/2026, số doanh nghiệp giải thể là 76 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 135 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/4/2026, toàn tỉnh có 340 doanh nghiệp giải thể và 1.081 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 73 doanh nghiệp giải thể và 263 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 21,47% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,33% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 106 doanh nghiệp giải thể và 375 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 31,18% và 34,69%; kinh doanh bất động sản có 22 doanh nghiệp giải thể và 23 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,47% và 2,13%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 14 doanh nghiệp giải thể và 49 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 4,12% và 4,53%; giáo dục và đào tạo có 40 doanh nghiệp giải thể và 21 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,76% và 1,94%;...

4. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Bố năm 2026 tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.457 tỷ đồng, giảm 3,19% so với tháng trước và tăng 16,51% so cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh ước đạt 99.256 tỷ đồng, tăng 16,48% so với cùng kỳ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội

tháng Tư và bốn tháng đầu năm 2026

(theo giá hiện hành)

                                                                      

T4.2026

4T.2026

T4.2026

 T4.2025

4T.2026

4T.2025

(Tỷ đồng)

(Tỷ đồng)

(%)

(%)

Tổng số

24.456

99.256

116,51

116,48

Thương nghiệp

12.659

49.603

117,25

117,80

DV lưu trú, ăn uống

1.276

4.951

112,61

114,53

DV du lịch lữ hành

9

28

112,21

113,07

Dịch vụ khác

10.512

44.674

116,12

115,26

Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Tháng Tư năm 2026, bán lẻ hàng hóa trên địa bàn tỉnh phát triển ổn định với mức tăng trưởng đạt khá so với cùng kỳ và tiếp tục thể hiện vai trò là một trong các động lực tăng trưởng của tỉnh. Tỉnh Hưng Yên đã triển khai hiệu quả các chương trình kích cầu tiêu dùng, xúc tiến thương mại. Bên cạnh đó, công tác bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu tiếp tục được chú trọng, nhất là đối với mặt hàng xăng dầu. Các Sở, ngành cũng đã kịp thời tham mưu các giải pháp điều hành đồng bộ, góp phần giữ ổn định thị trường, đặc biệt trong các dịp lễ quan trọng trong tháng như: Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10/3 âm lịch; Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 01/5;... 

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Tư ước đạt 12.659 tỷ đồng, chiếm 51,76% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội, giảm 0,10% so với tháng trước và tăng 17,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 29,26%; hàng may mặc tăng 7,95%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 5,59%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 57,42%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 41,15%; xăng, dầu các loại tăng 27,54%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 36,14%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 27,48%; hàng hóa khác tăng 13,19%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 33,24%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng, thì cũng có nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm như: nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,52%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 7,13% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 49.603 tỷ đồng, tăng 17,80% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 26,26%; hàng may mặc tăng 17,54%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 6,60%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 35,44%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 3,79%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 21,72%; xăng dầu các loại tăng 23,01%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 28,93%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 41,16%; hàng hóa khác tăng 16,82%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 27,90%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Tư ước đạt 1.276 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 12,61% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 36 tỷ đồng, tăng 2,25% so với tháng trước và tăng 10,01% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.240 tỷ đồng, tăng 2,66% so với tháng trước và tăng 12,69% so với cùng kỳ năm trước. Tháng 4 năm 2026, hoạt động kinh doanh dịch vụ lưu trú, ăn uống ghi nhận mức tăng trưởng đáng kể so với tháng trước cũng như cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu là do trùng vào thời điểm diễn ra các kỳ nghỉ lễ dài: Giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch); kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) và Ngày Quốc tế Lao động 01/5 nên nhu cầu của người dân đối với các hoạt động du lịch, nghỉ dưỡng và tụ họp gia đình, bạn bè tăng cao, từ đó kích thích mạnh mẽ nhu cầu tiêu dùng trong lĩnh vực dịch vụ.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 4.951 tỷ đồng, tăng 14,53% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 143 tỷ đồng, tăng 12,38% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 4.808 tỷ đồng, tăng 14,59% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Tư ước đạt 9 tỷ đồng, tăng 33,55% so với tháng trước và tăng 12,21% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng trưởng cao so với tháng trước chủ yếu do nhu cầu du lịch tăng mạnh trong các kỳ nghỉ lễ, cùng với điều kiện thời tiết thuận lợi. Tuy nhiên, giá xăng dầu tăng cũng tiếp tục là nguyên nhân tác động trực tiếp đến chi phí vận chuyển - yếu tố chiếm tỷ trọng lớn trong giá tour. Điều này khiến giá tour có xu hướng tăng nhẹ, ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu của một bộ phận khách hàng.

 Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 28 tỷ đồng, tăng 13,07% so cùng kỳ năm trước. Mức tăng này phản ánh xu hướng phục hồi và tăng trưởng dần của hoạt động du lịch trên địa bàn trong thời gian gần đây.

 Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Tư năm 2026 ước đạt 10.512 tỷ đồng, giảm 7,32% so với tháng trước và tăng 16,12% so cùng kỳ năm 2025. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.175 tỷ đồng giảm 8,38% so với tháng trước và tăng 16,20% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 485 tỷ đồng, tăng 3,09% so với tháng trước và tăng 12,51% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 200 tỷ đồng, tăng 2,02% so với tháng trước và tăng 17,17% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 259 tỷ đồng, tăng 0,04% so với tháng trước và tăng 19,33% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí 75 tỷ đồng, tăng 6,42% so với tháng trước và tăng 29,68% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 318 tỷ đồng, giảm 4,22% so với tháng trước và tăng 13,51% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 44.674 tỷ đồng, tăng 15,26% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành chiếm tỷ trọng cao nhất là ngành kinh doanh bất động sản - chiếm tới 88,35% tổng doanh thu các ngành dịch vụ và tăng 15,66% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 11,97%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 11,86%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 13,37%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 18,12%; dịch vụ khác tăng 11,18%. Mức tăng trưởng ngành bất động sản so với cùng kỳ năm trước cho thấy niềm tin của nhà đầu tư và nhu cầu thị trường vẫn ở mức khá. Một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như Vinhomes Ocean Park 2, Vinhomes Ocean Park 3, khu đô thị Ecopark, Alluvia City, Centerville,... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, các dự án nhà ở xã hội cũng đang được tỉnh đẩy mạnh triển khai nhằm đáp ứng nhu cầu nhà ở cho người thu nhập thấp và công nhân khu công nghiệp, qua đó góp phần mở rộng phân khúc thị trường và tăng khả năng hấp thụ chung. Hiện toàn tỉnh đang triển khai nhiều dự án nhà ở xã hội với quy mô hàng chục nghìn căn trong giai đoạn 2021-2030.

5. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Tư tăng 1,02%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá gảm 1,08%, các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,14%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,37%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,51%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,15%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,37%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,21%; thông tin và truyền thông tăng 0,40%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 1,15%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,60%.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

tháng Tư năm 2026

                                                                      

T4.2026

T3.2026

T4.2026

T4.2025

4T.2026

4T.2025

(%)

(%)

(%)

Chỉ số giá tiêu dùng chung

   101,02

   105,45

   103,61

Chỉ số vàng

   95,16

   161,56

   180,57

Chỉ số đô la Mỹ

    100,41

   102,34

   103,12

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,14%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,16%, do tháng Tư là giai đoạn giáp vụ nên nguồn cung giảm, nhu cầu xuất khẩu cao, chi phí vận chuyển tăng; chỉ số giá nhóm lương thực chế biến khác tăng 1,12% do do ảnh hưởng từ giá gạo tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,86% do: Nhóm thịt gia súc tăng 1,28% (trong đó nhóm thịt lợn tăng 1,05%; thịt bò tăng 1,88%; nội tạng động vật tăng 1,15%); nhóm thịt chế biến tăng 0,83%; nhóm trứng các loại tăng 1,49% do thời tiết thay đổi ảnh hưởng đến năng suất và chi phí chăn nuôi tăng; nhóm mỡ ăn và dầu thực vật tăng 1,55% do giá thịt hơi tăng, chi phí nhiên liệu đầu vào tăng; nhóm thủy sản tươi sống tăng 1,79%; nhóm thủy sản chế biển tăng 1,37%, do giá tôm, cá, cua, mực ... tăng.

Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,51%, nguyên nhân chủ yếu do chi phí nhân công, chi phí nguyên liệu vải, da có xu hướng tăng, nên đẩy giá bán lẻ tăng nhẹ.

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 2,15%, chủ yếu do: chỉ số giá gas tăng mạnh 34,96%, tăng vào ngày 01/4/2026 theo giá gas thế giới; giá dầu hỏa tăng mạnh 28,87% theo điều chỉnh giá của Bộ Công thương vào các ngày trong tháng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 4,42% tăng ở các mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền,... chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 2,51%.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,37% do chỉ số giá máy điều hòa nhiệt độ tăng 1,84%; giá tủ lạnh tăng 0,45%; giá máy giặt tăng 0,17%; giá máy hút bụi tăng 0,99%; giá quạt điện tăng 2,40%; giá giường tủ bàn ghế tăng 1,08%; giá đồ dùng kim loại tăng 0,77%; giá đồ nhựa và cao su tăng 0,58%; giá chiếu chăn màn gối tăng 1,27%; giá xà phòng và chất tẩy tăng 1,61%; giá công cụ làm vườn tăng 1,58%; giá sửa chữa thiết bị đồ dùng gia đình tăng 0,28%, chủ yếu do chi phí nguyên vật liệu sản xuất, vận chuyển và nhập khẩu tăng.

Chỉ số giá nhóm giao thông giảm 1,03%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong tháng được điều chỉnh 06 đợt vào các ngày 05/4; 07/04; 10/04; 11/04; 12/04 và 13/4. Theo đó giá xăng giảm 3,05%%; giá dầu diezel tăng 18,75%.

Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,40%, chủ yếu do giá một số dịch vụ viễn thông, truyền hình và dịch vụ internet tăng; giá máy in, máy chiếu tăng; giá pin điện thoại tăng.

Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,15%, chủ yếu do giá tạp chí các loại tăng 0,10%; giá bưu ảnh tăng 1,71%; giá dụng cụ thể thao tăng 0,32%; giá thiết bị thể dục thể thao tăng 1,08%; giá đồ chơi trẻ em tăng 0,55%; giá du lịch trong nước tăng 3,05%; giá du lịch nước ngoài tăng 1,56%; giá khách sạn, nhà khách tăng 1,09%. Giá hàng hóa, dịch vụ tăng theo chi phí đầu vào và nhu cầu thị trường, đặc biệt trong giai đoạn đầu mùa du lịch.

So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư tăng 3,61%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,37%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,68%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,23%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 3,43%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,04%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,28%; giao thông tăng 10,94%; thông tin và truyền thông tăng 1,00%; giáo dục tăng 0,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 2,28%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,81%.

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Tư tăng 5,45%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,41% (lương thực tăng 4,88%; thực phẩm tăng 6,38%; ăn uống ngoài gia đình tăng 7,63%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,58%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 3,12%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 7,14%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,53%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,36%; giao thông tăng 10,91%; thông tin và truyền thông tăng 1,25%; giáo dục tăng 1,31%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,52%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,55%.

Bình quân chung bốn tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,61% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,06%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,39%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,23%; giao thông tăng 2,90%; thông tin và truyền thông tăng 0,76%; giáo dục tăng 1,22%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,54%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,06%.

Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân Bốn tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,76% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,14% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,38% do giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo chi phí vận hành như tiền công lao động, chi phí thuê mặt bằng và chi phí nguyên liệu chế biến, trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, liên hoan tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,26% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà, chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, hoàn thiện nhà cửa tăng. Bên cạnh đó, giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với năm trước. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,23% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng này chủ yếu do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, trong khi giá thuốc chữa bệnh trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó một số bệnh viên tư nhân tăng giá khám chữa bệnh, đã tác động làm mặt bằng giá dịch vụ y tế cao hơn so với cùng kỳ, dẫn đến chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,59% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào giao mùa, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 3,54% so với cùng kỳ, do giá các loại như hoa tươi, cây cảnh, vật cảnh, giá vé xem phim ca nhạc và các trò chơi, giá vé du lịch trọn gói, giá khách sạn tăng. (6) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 2,90%, do giá xăng, dầu trong nước có các đợt điều chỉnh theo cơ chế điều hành của Nhà nước, bám sát diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm giá bán lẻ xăng, dầu bình quân trong kỳ tăng so với cùng kỳ. Việc tăng giá xăng, dầu đã kéo theo chi phí sử dụng phương tiện giao thông tăng, qua đó tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông tăng trong kỳ.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 4/2026 giảm 4,84% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 4/2026 giá vàng xấp xỉ 17.315.790 VNĐ/chỉ.

Tháng 4/2026, giá USD trong nước có xu hướng tăng. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế tăng, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định; bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD tăng nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 4/2026 tăng 0,41% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.338 VNĐ.

c) Chỉ số giá sản xuất

So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tư tăng 1,14%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,56%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 5,01%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 4,20%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,53%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 1,99%; đậu tương tăng 1,40%; dưa chuột tăng 2,94%; nấm trồng các loại tăng 0,57%; chanh thường tăng 7,38%; các loại quả có múi còn lại tăng 3,67%; sản phẩm cây chè tăng 2,57%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 1,60%; sản phẩm chăn nuôi trâu bò tăng 1,77%; sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 0,41%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 0,39%; dịch vụ nông nghieepk tăng 2,85%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 7,56%, sản phẩm thủy sản khai thác nọi địa tăng 1,70%; cá nuôi biển tăng 7,03%; tôm nuôi biển còn lại tăng 5,13%; cá nuôi nội địa tăng 1,25%; tôm nuôi nội địa tăng 4,70%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 4,85%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: rau muống giảm 0,17%; bắp cải giảm 0,44%; cà chua giảm 4,88%; hoa các loại giảm 1,53%; sản phẩm cây gia vị hàng năm giảm 0,19%; sản phẩm cây ăn quả giảm 0,60%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 5,01%;...

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Tư năm 2026 tăng 2,66%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lượng thực có hạt tăng 1,77%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 5,08%; mía cây tươi tăng 5,09%; thuốc lá, thuốc lào tăng 3,78%; đậu tương tăng 7,38%; rau lấy lá tăng 7,03%; rau họ đậu tăng 5,43%; rau lấy quả tăng 8,65%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 15,38%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 7,00%; sản phẩm cây hàng năm khác tăng 10,87%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 13,59%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 6,57%; sản phẩm chè tăng 9,73%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,31%; sản phẩm chăn nuôi gia cầm tăng 6,12%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 37,83%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 12,34%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 3,21%; cá nuôi biển tăng 4,23%; tôm nuôi biển còn lại tăng 5,13%; cá nuôi nội địa tăng 4,60%; tôm nuôi nội địa tăng 7,77% ... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 1,83%; quả na giảm 2,49%; mít giảm 1,93%; quýt giảm 11,96%; nhãn, vải, chôm chôm giảm 13,93%; sản phẩm cây lâu năm khác còn lại giảm 2,54%; lợn giảm 1,68%; tôm khai thác nội địa giảm 0,62%;...

So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tư năm 2026 tăng 0,86%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,91%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 0,09%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,10%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,98%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,14%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 2,72%; mỳ ống, mỳ sợi và các sản phẩm tương tự tăng 2,59%; thức ăn cho gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,84%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 7,48%; đồ gỗ xây dựng tăng 2,29%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 5,03%; sản phẩm từ plastic tăng 2,33%; sản phẩm xi măng, vôi và thạch cao tăng 4,72%; sản phẩm gang, sắt, thép tăng 2,24%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 4,05%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 3,63%; mô tô, xe máy tăng 4,38%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 4,44%; dịch vụ sửa chữa, bải dưỡng phương tiện vận tải tăng 3,48%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 7,91%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 0,95%; sản phẩm may trang phục giảm 1,34%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 0,49%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 2,36%; mô tơ, máy phát giảm 1,84%; pin và ắc quy giảm 1,72%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ giảm 2,74%; điện sản xuất giảm 3,98%; điện mặt trời giảm 6,29%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 1,75%;…

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Tư năm 2026 tăng 2,75%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 2,86%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 0,69%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,59%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 4,89%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,63%; thực phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 6,64%; đồ uống tăng 4,80%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 3,04%; sản phẩm dệt sẵn tăng 3,63%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 6,24%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,43%; gỗ dán, gỗ lạng tăng 6,36%; dịch vụ liên quan đến in tăng 14,44%; hóa chất cơ bản tăng 7,68%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,94%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại chưa được phân vào đâu tăng 10,61%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 31,53%; pin và ắc quy tăng 8,12%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 36,11%; mô tô, xe máy tăng 13,63%; đồ kim hoàn và chi tiết có liên quan tăng 5,58%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,74%; điện sản xuất tăng 5,71%; điện mặt trời tăng 5,14%; nước tự nhiên khai thác tăng 4,10%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 1,21%; trang phục dệt, kim, đan móc giảm 1,84%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,18%; sản phẩm khác từ cao su giảm 5,97%; mô tơ, máy phát giảm 1,15%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,55%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,10%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 9,94%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,56%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 2,91%;...

6. Hoạt động vận tải

Trong thời gian qua, hoạt động vận tải chịu tác động mạnh bởi rủi ro địa chính trị làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu, gia tăng chi phí logistics và vận tải biển. Trong nước, cũng như trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hạ tầng giao thông, biến động giá nhiên liệu, thời tiết cực đoan và nhu cầu xuất nhập khẩu biến động là các yếu tố chính ảnh hưởng đến chi phí và hiệu quả vận tải. Các doanh nghiệp đang chịu áp lực lớn trong việc điều chỉnh chi phí, thay đổi công ty giao nhận và tối ưu hóa quy trình để ứng phó với các yếu tố bất lợi này. Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tư năm 2026 ước đạt 2.372 tỷ đồng, tăng 0,54% so với tháng trước và tăng 16,12% so với cùng kỳ năm trước. Bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 9.624 tỷ đồng, tăng 17,81% so cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:

a) Hoạt động vận tải hành khách

Vận tải hành khách tháng Tư năm 2026 ước đạt 6 triệu lượt người vận chuyển và 550 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 4,20% về lượt người vận chuyển, tăng 5,16% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,75% về lượt người vận chuyển, tăng 12,50% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 428 tỷ đồng, tăng 2,62% so với tháng trước và tăng 15,14% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 23,89 triệu lượt người vận chuyển và 2.180 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 13,02% về lượt người vận chuyển và tăng 12,68% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.696 tỷ đồng, tăng 14,49% so với cùng kỳ năm trước.

b) Hoạt động vận tải hàng hoá

Vận tải hàng hoá tháng Tư năm 2026 ước đạt 6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.684 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt giảm 2,83% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 3,94% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 4,98 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,83% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.717 tỷ đồng, giảm 0,3% so với tháng trước và tăng 17,10% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 25,86 triệu tấn vận chuyển và 7.066 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 13,51% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 15,54% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 7.053 tỷ đồng, tăng 19,49% so với cùng kỳ năm trước.

c) Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Tư năm 2026 ước đạt 197 tỷ đồng, tăng 3,08% so với tháng trước và tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 764 tỷ đồng, tăng 8,61% so với cùng kỳ năm trước.

 Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng tư năm 2026 ước đạt 29 tỷ đồng, tăng 3,61% so với tháng trước và tăng 40,23% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 111 tỷ đồng, tăng 35,56% so với cùng kỳ năm trước.

7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

a) Thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước tháng Tư ước đạt 6.745 tỷ đồng, giảm 57,18% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 6.115 tỷ đồng, giảm 59,69%; thuế xuất nhập khẩu 630 tỷ đồng, tăng 8,27%. Phần lớn các khoản thu trong tháng đều giảm so với cùng kỳ năm trước như: thu từ doanh nghiệp nhà nước 155 tỷ đồng, tăng 15,03%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 456 tỷ đồng, giảm 18,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.936 tỷ đồng, giảm 56,39%; thu thuế thu nhập cá nhân 310 tỷ đồng, giảm 23,02%; các khoản thu về đất 3.011 tỷ đồng, giảm 67,50%;...

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh

tháng Tư và bốn tháng đầu năm 2026

T04.2026

(Tỷ đồng)

4T.2026

(Tỷ đồng)

T4.2026

T4.2025

(%)

4T.2026

4T.2025

(%)

Tổng số

6.745

25.366

42,82

81,68

Thu nội địa

6.115

23.188

40,31

79,81

Tr. đó: Thu từ đất

3.012

8.655

32,50

61,79

Thu Hải quan

630

2.178

108,27

108,84

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 25.366 tỷ đồng, giảm 18,32% so với cùng kỳ năm trước và đạt 30,11% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 23.188 tỷ đồng, giảm 20,19%; thuế xuất nhập khẩu 2.178 tỷ đồng, tăng 8,84%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 914 tỷ đồng, tăng 121,04%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.953 tỷ đồng, tăng 7,36%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 8.933 tỷ đồng, giảm 13,29%; thu lệ phí trước bạ 642 tỷ đồng, tăng 24,11%; thuế thu nhập cá nhân 1.439 tỷ đồng, tăng 6,59%; các khoản thu về đất 8.655 tỷ đồng, giảm 38,21%.

b) Chi ngân sách nhà nước địa phương

Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Tư ước đạt 4.260 tỷ đồng, giảm 7,20% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.370 tỷ đồng, giảm 45,26%; chi thường xuyên 2.890 tỷ đồng, tăng 38,43%.

Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 24.773 tỷ đồng, tăng 21,65% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 15.601 tỷ đồng, tăng 17,11%; chi thường xuyên 9.172 tỷ đồng, tăng 30,22%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 3.109 tỷ đồng, tăng 4,31%; chi sự nghiệp y tế 783 tỷ đồng, tăng 7,21%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 86 tỷ đồng, giảm 27,51%; chi đảm bảo xã hội 2.301 tỷ đồng, tăng 186,44%; chi quản lý hành chính 1.984 tỷ đồng, tăng 16,42%.

c) Hoạt động ngân hàng

Ước tính đến 30/4/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 315.500 tỷ đồng, tăng 2,0% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 311.000 tỷ đồng, tăng 1,23% và chiếm 98,57% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,43%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 30/4/2026 đạt 269.100 tỷ đồng, tăng 1,58% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 191.000 tỷ đồng, giảm 1,39%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 78.100 tỷ đồng, tăng 6,75%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 261.000 tỷ đồng, tăng 0,95%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 8.100 tỷ đồng, tăng 27,06%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 174.430 tỷ đồng, tăng 1,41% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 114.200 tỷ đồng, tăng 1,60%; xuất khẩu 1.710 tỷ đồng, tăng 5,56%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.100 tỷ đồng, tăng 1,24%; công nghiệp hỗ trợ 5.420 tỷ đồng, tăng 1,50%.

Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 30/4/2026 ước tính là 1.850 tỷ đồng (chiếm 0,69% dư nợ tín dụng), giảm 1,75% so với với thời điểm 31/12/2025.

d) Bảo hiểm xã hội

Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 3 năm 2026 là 626.765 người, giảm 5.293 người, tương ứng giảm 0,01% so với tháng trước; tăng 53.123 người, tương ứng tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 50% so với lực lượng lao động. Trong đó: BHXH bắt buộc 546.004 người, giảm 5.655 người (giảm 1%) so với tháng trước, tăng 48.155 người (tăng 9,7%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 80.761 người, tăng 362 người (tăng 0,5%) so với tháng trước, tăng 4.968 người (tăng 6,6%) so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/3/2026 là 526.825 người, giảm 6.401 người (giảm 1,2%) so với tháng trước, tăng 47.893 người (tăng 10%) so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia BHYT là 2.799.369 người, tăng 6.595 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 20.453 người (tăng 0,7%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 95,1%. Số người tham gia BHXH bắt buộc, BHTN giảm do số lao động tham gia tại khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài giảm.

Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 3/2026 là 3.760,5 tỷ đồng, tăng 2.952,4 tỷ đồng (tăng 78,5%) so với tháng trước, tăng 215,7 tỷ đồng (tăng 5,7%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 21,3% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 3/2026 đạt 1.031 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi BHXH 2.989,8 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 841,7 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 2.148,1 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 3/2026 là 80,3 tỷ đồng.

Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 3/2026 là 335,46 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi phí khám chữa bệnh BHYT là 837,34 tỷ đồng, tăng 4,93% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 339,78 tỷ đồng; chi KCB nội trú 497,56 tỷ đồng.

II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội

Đời sống dân cư: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 4 năm 2026 phát triển ổn định. Toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn. Tạo lập đồng bộ các yếu tố nền tảng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại, đô thị văn minh, kinh tế biển mạnh. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội; nâng cao toàn diện chất lượng cuộc sống nhân dân.

Lao động việc làm: Trong tháng Tư, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.300 lao động, trong đó có 680 lao động đi làm việc ở nước ngoài; ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 779 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 3.000 lượt người. Tổ chức hội nghị kết nối cung ứng lao động, ký kết hợp tác với doanh nghiệp và các tỉnh Lào Cai, Lai Châu với mục tiêu bình quân mỗi năm tỉnh Hưng Yên tiếp nhận từ 4.000 lao động trở lên đến làm việc tại các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh. Tính chung bốn tháng đầu năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm 20.620 người, trong đó xuất khẩu lao động là 1.970 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 2.814 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho 9.300 người.

Tỉnh tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 2.400 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 1.707 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 681 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 140 lượt doanh nghiệp. Xác nhận cho 323 lượt doanh nghiệp sử dụng 2.049 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 26 lượt doanh nghiệp với 8.607 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 44 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.

Công tác người có công: Tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Toàn tỉnh đã tặng 222.634 suất quà cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 137.249 triệu đồng, trong đó: có 106.413 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 32.650 triệu đồng; 116.221 suất quà của Tỉnh cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 104.599 triệu đồng. Tham mưu cho các Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà 07 cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh; 150 người có công, thân nhân liệt sĩ tại gia đình và các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công.

Việc thực hiện chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được tổ chức kịp thời. Trong tháng 4 năm 2026, đã tiếp nhận khoảng 1.100 lượt hồ sơ và tham mưu giải quyết khoảng 1.200 lượt hồ sơ. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, tiếp nhận khoảng 3.579 lượt hồ sơ, giải quyết khoảng 3.800 lượt hồ sơ. 100% hồ sơ được giải quyết trước hạn và đúng hạn. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%. Ban hành quyết định điều dưỡng cho 22.080 người có công và thân nhân (73,1 tỷ đồng); cấp phương tiện trợ giúp cho 1.581 người (trên 2,3 tỷ đồng). Công tác chi trả trợ cấp qua tài khoản đạt khoảng 92%, góp phần minh bạch, hiện đại hóa quản lý.

2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch

a) Hoạt động văn hoá

Tỉnh tiếp tục triển khai “Đề án bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2025-2030”. Trong tháng 4 tổng lượt khách đến tham quan, chiêm bái tại các di tích ước đạt 5.000 lượt. Mở cửa trưng bày Bảo tàng phục vụ khách tham quan (ước 5.304 lượt khách); trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại 04 điểm trường; phối hợp với Bảo tàng Hải phòng trưng bày “Hải Phòng - Miền di sản”; lập danh mục các di tích, các đường phố liên quan đến các vị Khoa bảng tỉnh Hưng Yên.

Toàn tỉnh tổ chức các hoạt động tuyên truyền trực quan kỷ niệm các ngày lễ lớn, các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị triển khai mô hình “Xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư”. Phối hợp với Báo, Phát thanh và Truyền hình Hưng Yên tham gia Chương trình “Lưu giữ hồn quê”. Tham gia liên hoan tuyên truyền lưu động toàn quốc tổ chức tại tỉnh Bắc Ninh, Quảng Ninh, đạt được 01 giải A tiết mục hát múa chèo “Lê Quý Đôn - Tấm gương sáng mãi”, 02 giải B với các tiết mục: Bài hát “Khúc ca ngày hội lớn” và tiết mục độc tấu đàn nhị “Kể chuyện ngày mùa”. Xây dựng kế hoạch tổ chức Lớp tập huấn truyền dạy nghệ thuật Chèo. Hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá, câu lạc bộ tại cơ sở.

Tỉnh xây dựng Kế hoạch tham gia Ngày hội gia đình tại Làng Văn hoá - Du lịch các dân tộc Việt Nam năm 2026; ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị truyền thông Luật phòng, chống bạo lực gia đình; Giáo dục đạo đức, lối sống trong gia đình; Bộ tiêu chí ứng xử trong gia đình năm 2026. Thống kê, tổng hợp thông tin, phối hợp xây dựng Tổng đài điện thoại quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình. Theo dõi, nắm bắt tình hình bạo lực gia đình tại các xã, phường. Tổ chức Giải cầu lông gia đình tỉnh Hưng Yên năm 2026.

Tối ngày 25/4/2026 (tức ngày 9 tháng Ba âm lịch), tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh (phường Phố Hiến) đã diễn ra khai mạc Lễ hội Văn hóa dân gian Phố Hiến năm 2026. Lễ hội Văn hóa dân gian Phố Hiến năm 2026 diễn ra từ ngày 25 - 27/4/2026 (tức từ ngày 9 - 11 tháng Ba âm lịch) với nhiều hoạt động phong phú, đặc sắc. Đây là dịp quảng bá hình ảnh Hưng Yên - vùng đất giàu truyền thống văn hóa, thân thiện, năng động; đồng thời tăng cường giao lưu văn hóa, thúc đẩy phát triển du lịch giữa Hưng Yên với các địa phương trong cả nước. Thông qua lễ hội góp phần tạo không khí vui tươi, cổ vũ, động viên cán bộ, đảng viên và Nhân dân thi đua lao động, sản xuất, thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2026; đồng thời tuyên truyền, giáo dục truyền thống yêu nước, bồi đắp niềm tự hào dân tộc, nâng cao ý thức bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch, công nghiệp văn hóa của tỉnh.

Thư viện tỉnh: Tỉnh tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách với chủ đề “Hưng Yên trong em” hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4 (thu hút 204 học sinh tham gia); viết tin, bài tuyên truyền về hoạt động thư viện; sưu tầm, biên soạn 02 bài giới thiệu sách chuyên đề: Kỷ niệm ngày Quốc tế hạnh phúc 20/3; kỷ niệm 95 năm ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; tổ chức xe ôtô Thư viện lưu động phục vụ tại 19 điểm trường thuộc 07 xã, phường trong tỉnh; hoàn thành sưu tầm, biên soạn Thư mục toàn văn về Danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn chào mừng kỷ niệm 300 năm ngày sinh của Ông (02/8/1726-02/8/2026).

Về điện ảnh: Tỉnh tổ chức 70 buổi chiếu phim (10 buổi lưu động, 60 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.


b) Hoạt động thể dục thể thao

Về thể dục thể thao cho mọi người:

Tỉnh xây dựng Kế hoạch phát động toàn dân tập luyện môn bơi, phòng chống đuối nước năm 2026 và tổ chức lớp tập huấn phòng, chống đuối nước trẻ em; Kế hoạch mở lớp tập huấn Lân - Sư - Rồng năm 2026; hướng dẫn, kiểm tra các địa phương tổ chức Đại hội TDTT năm 2026; tổ chức thành công Giải Bóng bàn các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2025; ban hành Điều lệ giải Pickleball năm 2026.

Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Tập huấn, tham gia 10 giải thể thao quốc gia, đạt 111 huy chương các loại, trong đó: 27 HCV, 26 HCB, 58 HCĐ. Đặc biệt, vận động viên Hà Thế Anh (môn Kickboxing) được triệu tập vào Đội tuyển quốc gia tham dự Giải vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026 tổ chức tại Bangkok, Thái Lan và đã xuất sắc giành được 1 Huy chương Đồng.

c) Hoạt động du lịch

Tham gia Hội nghị xúc tiến, quảng bá du lịch Đồng bằng sông Cửu Long năm 2026 tại Hà Nội; tham gia Hội chợ VITM Hà Nội năm 2026 và tổ chức chương trình Hội nghị xúc tiến bên lề Hội chợ VITM Hà Nội; hoàn thành sửa chữa 02 biển quảng cáo du lịch Hưng Yên tại phường Sơn Nam và xã Đại Đồng; hoàn thiện 01 phim và 03 trailer quảng bá du lịch Hưng Yên: “Hưng Yên Miền di sản tâm linh và lễ hội”, “Hưng Yên - Vùng đất trải nghiệm, làng nghề và tinh hoa ẩm thực”, “Trải nghiệm Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung”; phim tổng hợp ẩm thực Hưng Yên; viết tin, bài và đăng tải lên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube của Trung tâm Xúc tiến du lịch (10 bài, 05 video livestream chia sẻ 35 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 15 link, 09 video từ Báo và Phát thanh, truyền hình Hưng Yên) thu hút hơn 3.000 lượt truy cập; tái bản ấn phẩm thông tin du lịch (Bản đồ du lịch Hưng Yên, chương trình du lịch Hưng Yên).

Toàn tỉnh tiếp tục phối hợp Công an tỉnh thực hiện hỗ trợ người dân ứng dụng dữ liệu dân cư định danh xác thực điện tử trong phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế số phát triển du lịch gắn với phát triển đặc sản vùng miền; hoàn thành việc ký hợp đồng với VNPT thuê dịch vụ Cổng thông tin du lịch thông minh; tiến hành nâng cấp giao diện website “Hungyentourism.com.vn”; tiếp tục thực hiện số hóa bản đồ du lịch tỉnh; thường xuyên viết tin, bài đăng trên Cổng du lịch thông minh; xây dựng Bản đồ du lịch và số hóa bản đồ du lịch của tỉnh; ấn phẩm số thông tin du lịch quảng du lịch.

3. Giáo dục, đào tạo

Toàn tỉnh đã công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục (KĐCLGD) cho 1.084/1.236 trường, trung tâm (đạt tỷ lệ 87,70%); công nhận đạt chuẩn quốc gia cho 1.071/1.218 trường mầm non, phổ thông (đạt tỷ lệ 87,93%). Cụ thể:

- Mầm non: công nhận đạt KĐCLGD 423/498 trường (đạt tỷ lệ: 84,93%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 413/498 trường (đạt tỷ lệ: 82,93 %).

- Tiểu học: công nhận đạt KĐCLGD 191/197 trường (đạt tỷ lệ: 96,95%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 193/197 trường (đạt tỷ lệ: 97,96%).

- THCS: công nhận đạt KĐCLGD 179/187 trường (đạt tỷ lệ: 95,72%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 179/187 trường (đạt tỷ lệ: 95,72 %). - THPT: công nhận đạt KĐCLGD 60/81 trường (đạt tỷ lệ: 74,07 %), công nhận đạt chuẩn quốc gia 60/81 trường (đạt tỷ lệ: 74,07%).

- Trường TH và THCS: công nhận đạt KĐCLGD 225/255 trường (đạt tỷ lệ: 88,23%), công nhận đạt chuẩn quốc gia 226/255 trường (đạt tỷ lệ: 88,62%).

- Trung tâm GDTX, trung tâm GDNN-GDTX: công nhận đạt KĐCLGD 06/18 trung tâm (đạt tỷ lệ: 33,33%)

Tỉnh tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức giáo viên vào làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập tỉnh Hưng Yên, năm học 2025-2026, với 3.095 thí sinh tham dự. Tổ chức Hội giảng nhà giáo giáo dục nghề nghiệp với chủ đề “Đổi mới, sáng tạo trong giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Kết quả hội giảng cho thấy sự tiến bộ rõ rệt về chất 2 lượng chuyên môn, trên 85% bài giảng đạt từ 75 điểm trở lên, nhiều bài đạt trên 90 điểm; Cuộc thi nghiên cứu khoa học, kỹ thuật cấp quốc gia dành cho học sinh THCS và THPT năm học 2025 - 2026 Hưng Yên có 2/6 dự án của học sinh tham dự đạt giải, với 1 giải nhất và 1 giải tư, trong đó Dự án của nhóm học sinh Trường THPT Yên Mỹ được Bộ Giáo dục và Đào tạo chọn tham gia Hội thi Khoa học kỹ thuật quốc tế - ISEF 2026 tại Hoa Kỳ; Kỳ thi Olympic Tin học Miền Trung và Tây Nguyên tổ chức tại thành phố Đà Nẵng có 02 học sinh vượt qua vòng loại vào vòng chung kết; Cuộc thi "HSSV với ý tưởng Khởi nghiệp" cấp Toàn quốc năm 2026, Đoàn Hưng Yên đạt 02 giải Ba; vòng chung khảo cuộc thi học sinh với An ninh mạng tỉnh Hưng Yên có 8 học sinh tham dự; Cuộc thi khoa học, kỹ thuật, đổi mới và sáng tạo quốc tế EUREKA WARSAW - năm 2026 tại Ba Lan từ ngày 16/02/2026 đến ngày 17/02/2026. Trường THPT Hưng Yên có 05 học sinh và 01 giáo viên hướng dẫn tham gia cuộc thi với dự án “Nghiên cứu quy trình nuôi cấy nấm Cordyceps militaris trên hàu để hỗ trợ tăng cường hoocmon testosterone” đã xuất sắc đoạt Huy chương vàng lĩnh vực Hóa Sinh;

Giải Điền kinh học sinh phổ thông tỉnh Hưng Yên năm 2026 do Sở GDĐT tỉnh Hưng Yên tổ chức từ ngày 27/3 đến ngày 2/4/2026 tại Sân vận động Thái Bình, phường Thái Bình, thu hút sự tham gia của 1.760 vận động viên tranh tài ở 28 nội dung; Hội thao Giáo dục quốc phòng và an ninh học sinh THPT toàn quốc năm 2026 được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh, đoàn học sinh tỉnh Hưng Yên đã tham gia dự thi và đạt được nhiều thành tích nổi bật như: 01 giải Nhất phần thi lý thuyết, 01 giải Ba phần thi Đội ngũ, 01 giải Nhì và 01 giải Ba 3 Giải toàn năng, giải Tư phần thi lý thuyết + thực hành toàn đoàn, 07 giải cá nhân (gồm 01 giải Nhất, 03 giải Ba, 03 giải Khuyến khích), 01 huấn luyện viên của Hưng Yên đạt danh hiệu Huấn luyện viên xuất sắc.

4. Hoạt động y tế

Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Xuân - Hè, đặc biệt là thời điểm giao mùa; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 04: Tay chân miệng 304 ca; SXH 21 ca; Sởi 05 ca; Ho gà 02 ca; Lao phổi 33 ca; VGB 12 ca; VGC 02 ca; Bệnh do Adeno vi-rút: 13 ca; Cúm 1.802 ca; Lỵ 0 ca; Quai bị 10 ca; Thủy đậu 28 ca; Tiêu chảy 1095 ca; VG virut khác 9 ca; Covid 07 ca. Tình hình cụ thể như sau:

Bệnh sởi: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 33 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định.

Sốt xuất huyết Dengue: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 50 ca. (Duy trì giám sát phòng, chống dịch SXHD trên địa bàn xã, phường)

Bệnh tay chân miệng: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 643 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì.

Bệnh Covid-19: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 là 38 ca, toàn tỉnh duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo qui định.

Bệnh Ho gà: Lũy kế số ca mắc từ đầu năm đến nay ghi nhận 08 ca. Toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định.

Hội chứng cúm: Cập nhật 443 trường hợp mắc, chủ yếu các chủng gây bệnh là cúm A, cúm B thông thường. Không phát hiện các trường hợp mắc cúm nguy hiểm như cúm A H5N1, H7N9. Hoạt động giám sát, phát hiện, xử lý nhanh các chùm ca bệnh/ổ dịch; đặc biệt là các ổ dịch phát sinh tại nơi tập trung đông người như trường học, khu công nghiệp, khu du lịch... được duy trì.

Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh.

Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 03 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.565 người thuộc 104/104 xã, phường), có 02 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.310 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT; Số bệnh nhân hiện đang điều trị Methadone tại 13 cơ sở điều trị ngoại trú trong tỉnh là: 1.545 bệnh nhân (Trong đó cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên đại bàn tỉnh Thái Bình cũ là: 1.071 bệnh nhân, Hưng Yên cũ là: 474).


5. Công tác vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ


Trong tháng 4 năm 2026 (từ ngày 26/3/2026 đến ngày 25/4/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 07 vụ với số tiền xử phạt 1.804,02 triệu đồng. So với tháng 3/2026, số vụ vi phạm tăng 10 vụ, tăng gấp 10 lần so với tháng trước; số vụ đã xử lý giảm 04 vụ, giảm 36,36%; số tiền xử phạt tăng 1.412,02 triệu đồng, tăng 360,21%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ đã xử lý tăng 03 vụ, tăng 75,0%; số tiền xử phạt tăng 1.287,12 triệu đồng, tăng 249,01%. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026 đã phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường; giảm 50 vụ, giảm 68,49% so với cùng kỳ năm 2025. Số vụ đã xử lý vi phạm là 33 vụ, giảm 23 vụ, giảm 41,07% so với cùng kỳ năm 2025. Số tiền xử phạt là 3.019,02 triệu đồng, giảm 680,80 triệu đồng, giảm 18,40% so với cùng kỳ năm 2025. Các hành vi vi phạm chủ yếu về đổ chất thải trái phép ra môi trường, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,...

Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/3/2026 đến ngày 14/4/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Như Quỳnh xảy ra 01 vụ, xã Thượng Hồng xảy ra 01 vụ, xã Phụ Dực xảy ra 01 vụ), không có vụ nổ; không có người chết và làm bị thương 01 người. Giá trị thiệt hại về tài sản là 67 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy nổ tăng 01 vụ, số người bị thương giảm 01 người. Bốn tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 16 vụ cháy, nổ làm 01 người chết và 02 người bị thương; giá trị thiệt hại về tài sản là 1.714 triệu đồng.

6. An toàn giao thông

Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/3/2026 đến 14/4/2026, toàn tỉnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 35 vụ, đường sắt 01 vụ), làm chết 28 người (đường bộ 27 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 14 người (đường bộ). So với tháng 3 năm 2026, số vụ tai nạn tăng 01 vụ, tăng 2,86%; số người chết tăng 02 người, tăng 7,69%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 22,22%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 15 vụ, giảm 29,41%; số người chết tăng 02 người, tăng 7,69%; số người bị thương giảm 25 người, giảm 64,10%. Bốn tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 172 vụ (đường bộ 170 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 105 người (đường bộ 104 người, đường sắt 01 người), bị thương 110 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 21 vụ, giảm 10,88%; số người chết giảm 08 người, giảm 7,08%; số người bị thương giảm 12 người, giảm 9,84%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.