02213 863 641 /0978240366 | hungyen@nso.gov.vn

Tình hình kinh tế - xã hội tháng 5 năm 2026

27/10/2026 08:48

I. TÌNH HÌNH KINH TẾ

1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản

Tháng Năm, nhiệm vụ trọng tâm trong sản xuất nông nghiệp của tỉnh là tập trung chăm sóc lúa và cây rau màu vụ xuân cuối vụ; chủ động phòng trừ sâu bệnh, chuẩn bị phương án thu hoạch lúa xuân; chống nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt cho cây trồng, vật nuôi và nuôi trồng thủy sản. Cụ thể như sau:

a) Nông nghiệp

Trồng trọt

Cây hằng năm

Sơ bộ diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ xuân năm 2026 đạt 115.202 ha, giảm 2,1%, tương ứng giảm 2.468 ha so với năm 2025. Trong cơ cấu cây trồng, diện tích lúa vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất với 94.859 ha, giảm 2%, tương ứng giảm 1.951 ha. Diện tích gieo trồng lúa và cây rau màu vụ xuân giảm chủ yếu do chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang xây dựng các công trình giao thông, mở rộng các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn tỉnh (giảm khoảng 2.466 ha); chuyển sang trồng cây lâu năm khoảng 123 ha; chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản 18,52 ha, bỏ hoang khoảng 328 ha.

Hiện nay, lúa xuân đại trà đang ở giai đoạn trỗ bông đến chín sữa, diện tích lúa cấy sớm bắt đầu cho thu hoạch. Đến ngày 20/5/2026, toàn tỉnh đã thu hoạch được 7.500 ha lúa xuân, tập trung chủ yếu ở các xã: Hưng Hà, Thần Khê, Bắc Đông Hưng. Nhìn chung, vụ xuân năm nay, thời tiết thuận lợi cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, năng suất dự kiến ổn định.

Những ngày qua, khu vực Bắc Bộ, trong đó có tỉnh Hưng Yên, xảy ra nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, làm ảnh hưởng tới đời sống và sản xuất. Nông dân các địa phương cần theo dõi sát sao dự báo thời tiết để chủ động trong công tác chống nóng cho cây trồng nhằm hạn chế thiệt hại, bảo vệ thành quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro bằng các biện pháp như: tưới nước cho cây trồng vào buổi sáng sớm hoặc chiều tối khi nhiệt độ không quá cao; sử dụng màng phủ đất giúp giữ ẩm, giảm sự bay hơi nước, ngăn chặn cỏ dại và bảo vệ rễ cây khỏi tác động của nhiệt độ cao; tưới phun sương;...    

Cây lâu năm

Trong tháng Năm, hoạt động sản xuất cây ăn quả trên địa bàn tỉnh Hưng Yên diễn ra tương đối thuận lợi. Các loại cây ăn quả chủ lực như nhãn, vải, chuối, cam, bưởi tiếp tục được người dân chú trọng chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh nhằm bảo đảm năng suất và chất lượng sản phẩm. Đối với cây nhãn - cây trồng đặc sản của tỉnh, phần lớn diện tích đang trong giai đoạn phát triển quả. Các nhà vườn cần tập trung thực hiện các biện pháp chăm sóc như tỉa cành, tạo tán, bón phân, tưới nước và phòng trừ sâu bệnh nhằm nâng cao chất lượng quả. Đối với cây vải, từ giữa tháng Năm, tại các thôn trên địa bàn xã Tống Trân, Đoàn Đào, Tiên Tiến, Nguyễn Trãi, nông dân đang bước vào cao điểm thu hoạch vải lai chín sớm và vải trứng Hưng Yên. Năm nay, do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi trong giai đoạn ra hoa, đậu quả nên tỷ lệ đậu quả thấp hơn mọi năm, sản lượng vải dự báo giảm so với vụ trước. Mặc dù sản lượng vải giảm, song chất lượng quả nhìn chung vẫn bảo đảm, mẫu mã đẹp, quả ngọt và được thị trường tiêu thụ khá ổn định.

Chăn nuôi

Tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm trong tháng cơ bản ổn định, không có địa phương nào báo cáo xuất hiện trường hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được ngành chức năng và các địa phương triển khai chặt chẽ. Toàn tỉnh đã hoàn thành “Tháng tổng vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường trong chăn nuôi” đợt 1 năm 2026 với khối lượng thực hiện 51.519 lít hóa chất và 368.692 kg vôi bột, góp phần bảo đảm an toàn dịch bệnh và ổn định sản xuất chăn nuôi trên địa bàn.

Trước tình hình thời tiết nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, công tác chống nóng cho đàn vật nuôi cần được đặc biệt chú trọng bằng các biện pháp như: sử dụng hệ thống quạt thông gió, phun nước lên mái chuồng, phun sương trong chuồng làm mát nhằm giảm nhiệt độ chuồng trại; sử dụng phên, lưới, bạt để che chắn chống nắng; khơi thông rãnh thoát nước thải và xử lý chất thải theo đúng quy định; bổ sung chất điện giải, vitamin vào khẩu phần ăn của vật nuôi để tăng sức đề kháng cho vật nuôi trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt;...

Ước tính tại thời điểm 31/05/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.156 con, giảm 6,64%; đàn bò 77.504 con, giảm 6,13%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 998.222 con, tăng 2,32%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.342 nghìn con, tăng 1,11% (trong đó: đàn gà đạt 17.403 nghìn con, tăng 2,22%) so với cùng thời điểm năm trước.

b) Lâm nghiệp

Trong tháng Năm, sản xuất lâm nghiệp trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không có biến động lớn, các hoạt động chủ yếu diễn ra ổn định. Trong kỳ báo cáo, không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng, phá rừng; công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được duy trì tốt.

 Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Năm ước đạt 291 m³, giảm 0,68% so với cùng kỳ năm trước; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 214 nghìn cây, tăng 0,49%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 1.836 m³, tăng 0,03%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán 727 nghìn cây, tăng 0,73% so với cùng kỳ năm 2025.

c) Sản xuất thủy sản

Sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên trong tháng Năm tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao chất lượng hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh.

Trong điều kiện thời tiết nắng nóng gay gắt và đặc biệt gay gắt, các hộ nuôi trồng thủy sản đã triển khai nhiều giải pháp chống nóng cho diện tích nuôi trồng thủy sản như: thường xuyên kiểm tra các chỉ số môi trường nước, sử dụng chế phẩm sinh học nhằm ổn định môi trường ao nuôi, hạn chế dịch bệnh phát sinh; duy trì mực nước trong ao từ 1,5 – 2 m trong suốt mùa hè, đồng thời thả bèo tây trên mặt ao chiếm khoảng 1/3 diện tích để làm chỗ trú cho thủy sản; thời điểm cho thủy sản ăn cũng được điều chỉnh vào sáng sớm và chiều mát để tránh hiện tượng sốc nhiệt; bổ sung khoáng chất, vitamin tăng sức đề kháng cho thủy sản nuôi;...

Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Năm toàn tỉnh ước đạt 9.927 tấn, tăng 3,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.042 tấn, tăng 3,71%; tôm 121 tấn, tăng 3,42%; thủy sản khác 3.764 tấn, tăng 3,83%. Ước tính năm tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển toàn tỉnh ước đạt 47.463 tấn, tăng 3,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 29.532 tấn, tăng 3,72%; tôm 646 tấn, tăng 3,69%; thủy sản khác 17.285 tấn, tăng 3,50%.

Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Năm trên địa bàn tỉnh ước đạt 18.720 tấn, tăng 3,34% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 8.442 tấn, tăng 3,46%; tôm 586 tấn, tăng 2,99%; thủy sản khác 9.692 tấn, tăng 3,26%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh ước đạt 95.921 tấn, tăng 3,59% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 41.569 tấn, tăng 3,61%; tôm 1.494 tấn, tăng 3,23%; thủy sản khác 52.858 tấn, tăng 3,59%.

2. Sản xuất công nghiệp

a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)

Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất. Lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng Năm và năm tháng đầu năm 2026 như sau:

So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Năm tăng 0,91%, trong đó: khai khoáng tăng 0,24%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,00%; sản xuất và phân phối điện tăng 0,33%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,02%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 112,77%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 27,93%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 12,23%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 11,25%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 3,19%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăn 2,63%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 10,54%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 7,99%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 7,67%; thức ăn cho gia súc tăng 5,18%;....Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp so với tháng trước như: thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội giảm 24,17%; dây thép không gỉ giảm 26,06%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều giảm 3,0%; mạch điện tử tích hợp giảm 7,88%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 7,61%; sắt, thép các loại giảm 2,87%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 1,62%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa >10 kg vải khô một lần giặt giảm 0,5%; quần áo các loại tăng 0,38%; mạch in khác tăng 0,3%;......

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Năm tăng 14,18%, trong đó: khai khoáng giảm 6,90%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,70%; sản xuất và phân phối điện tăng 12,25%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,04%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: dây thép không gỉ tăng 61,68%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 25,87%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 37,45%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 21,64%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng tăng 55,33%; mạch điện tử tích hợp tăng 46,03%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 43,05%; mạch in khác tăng 29,43%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 24,10%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (vd: CD, DVD,...) tăng 23,08%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 18,57%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 18,62%;... Bên cạnh đó, có một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 7,65%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 8,50%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 7,43%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 7,07%; sắt, thép các loại giảm 4,34%; thức ăn cho gia súc giảm 3,8%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 1,96%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 4,28%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 34,82%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 8,23%;...

Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH thương mại và CN Mỹ Việt sản phẩm sản xuất (SPSX) tăng 19,72%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 26,15%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 19,87%; Công ty TNHH Kết cấu thép Cơ khí Xây dựng tăng 18,79%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 6,86%; Công Ty TNHH Đức Hạnh tăng 5,12%; Công ty Tôn Vikor tăng 186,26%; Công ty Formosa tăng 38,04%; Công ty TNHH Sản xuất Thương mại Hương Linh tăng 17,15%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 25,15%; Công ty TNHH Youngone Việt Nam tăng 16,51%; Công ty Cổ phần Bảo Hưng tăng 56,25%; Công ty Cổ phần Tiên Hưng tăng 54,82%; CN Công ty TNHH May Việt Thái tăng 25,87%; Công ty TNHH TAV tăng 3,98%; Công ty TNHH MXP tăng 61,06%; Công ty TNHH Ivory Việt Nam tăng 20,0 %; Công ty TNHH Tân Đệ - Chi nhánh Thái Bình tăng 137,93%; Công ty Cổ phần Tập đoàn May Đại Dương tăng 20,0%; Công ty TNHH P S Vina tăng 15,08%; Công ty TNHH Greenworks tăng 105,44%; Công ty Cổ phần Liên doanh Kangaroo quốc tế tăng 118,43%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 75,00%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 89,75%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 50,61%; Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam giảm 4,16%; Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 6,59%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen giảm 11,05%; Công ty TNHH Điện lạnh Hào Phát giảm 5,88%; Công ty TNHH Giấy và Bao bì Việt Hưng tăng 5,12%; Công ty TNHH Chung Phát tăng 127,24%; Công ty Cổ phần KOPAC tăng 36,76%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 32,44%; Công ty TNHH Jp corelex Việt Nam tăng 47,63%; Công ty TNHH Phúc Kiên tăng 48,59%; Công ty TNHH Dongyang E&p Việt Nam tăng 26,36%; Công ty TNHH Hsin Yue Hsing tăng 38,97%; Công ty TNHH INYANG ELECTRONICS VINA tăng 120,89%; Chi nhánh Công ty TNHH Ống thép Hoà Phát tăng 19,0%; Công ty Thép không gỉ Hà Anh tăng 37,45%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 33,17%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 120,26%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 25,87%; Công ty TNHH Dây thép Hoà Phát tăng 61,68%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 26,34%; Công ty TNHH LTD Đức Mạnh tăng 46,83%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 21,64%; Công ty TNHH MTV Thép Hào Phát tăng 0,97%; Công ty TNHH giầy Ngọc Tề tăng 3,5%.

Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Năm giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 26,61%; Công ty TNHH sao vàng - Chi Nhánh tại Quỳnh Phụ tăng 3,02%; Công ty TNHH Da giày xuất khẩu Thuận Phát giảm 22,19%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 91,64%; Công ty TNHH giày dép Thái Thuỵ giảm 0,78%; Công ty Cổ phần GREATWOOD Hưng Yên giảm 17,36%; Công ty TNHH vật liệu mới Nhuận Phát giảm 12,02%; Công ty TNHH Minh Long giảm 7,35%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,68% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó:

Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng tăng 6,48%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 6,37%; khai khoáng khác tăng 6,48%.

Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,71%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 75,75%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 37,30%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 33,24%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 24,62%; sản xuất trang phục tăng 22,70%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 20,64%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 20,47%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 18,76%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 18,28%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 6,28%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 5,98%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc, thiết bị tăng 2,87%;……

Sản lượng sản xuất một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong năm tháng đầu năm tăng so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 62,60%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 42,65%; mạch điện tử tích hợp tăng 36,13%; nước khoáng không có ga tăng 28,49%; quần áo các loại tăng 17,3%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 16,05%; mạch in khác tăng 14,90%; điện thương phẩm tăng 14,83%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 19,66%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 28,89%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 51,34%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 35,57%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 25,40%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 14,56%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 8,03%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 2,93%; thức ăn cho gia súc giảm 0,68%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 0,43%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 26,21%;....

Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Việc bảo đảm nguồn điện sản xuất và phân phối điện là một trong những yếu tố quan trọng để thúc đẩy phát triển công nghiệp, phục vụ tốt nhu cầu điện cho hoạt động sản xuất kinh doanh và sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Hưng Yên và khu vực miền Bắc là nhiệm vụ quan trọng của ngành điện tỉnh Hưng Yên. Trong tháng Năm, sản lượng điện sản xuất và phân phối có tăng trưởng khá so với cùng kỳ, do sản lượng điện sản xuất và phân phối đều tăng. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện tháng Năm tăng 12,25% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng 4,78% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: điện sản xuất tăng 1,46%; điện thương phẩm tăng 14,83%.

Cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải: Hoạt động cung cấp nước trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển do nhu cầu tiêu thụ nước sạch của hộ dân cư và doanh nghiệp ngày càng tăng. Các doanh nghiệp và nhà máy nước đã mở rộng nâng công suất và đầu tư xây dựng hệ thống cấp nước sạch bao phủ phần lớn các xã, phường, đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của khách hàng. Hoạt động xử lý rác thải, tái chế trên địa bàn tỉnh có xu hướng tăng dần sau thời gian dài tăng trưởng thấp, phần lớn là do Công ty TNHH Ngọc Thiên có hoạt động tái tế chì có giá trị sản xuất lớn, còn lại các cơ sở khác cơ bản sản xuất ổn định và phát triển. Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải năm tháng đầu năm 2026 tăng 14,14 % so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 6,09%; thoát nước và xử lý nước thải tăng 5,78%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 15,03%.

b) Chỉ số sử dụng lao động

Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Năm toàn ngành tăng 5,14% so với cùng kỳ năm trước; so với tháng trước tăng 0,97%; cộng dồn năm tháng tăng 4,40% so với cùng kỳ. Chỉ số sử dụng lao động tháng Năm tăng cao so với cùng kỳ năm trước cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện ổn định và có sự phát triển khá.

Năm tháng đầu năm 2026, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 38,84%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 25,70%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 21,76%; sản xuất đồ uống tăng 19,17%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,03%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 15,98%; ... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 7,34%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 7,01%; dệt giảm 5,14%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,34%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,95%;...

3. Hoạt động đầu tư

a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý

Trong bối cảnh Hưng Yên đang bước vào giai đoạn tăng tốc phát triển công nghiệp, việc đẩy nhanh giải phóng mặt bằng, chủ động tạo quỹ đất sạch và hoàn thiện hạ tầng được xem là yếu tố then chốt để chuyển hóa tiềm năng thành tăng trưởng thực tế, tiếp tục nâng cao vị thế của tỉnh trên bản đồ thu hút đầu tư khu vực phía Bắc. Tính đến đầu tháng Năm, công tác giải phóng mặt bằng tại nhiều khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh đang được tập trung triển khai nhằm sớm đưa quỹ đất vào khai thác, phục vụ thu hút đầu tư. Trong đó, Khu công nghiệp số 1 tại hai xã Yên Mỹ và Xuân Trúc do Công ty Cổ phần Viglacera Hưng Yên làm chủ đầu tư đang ghi nhận tiến độ tích cực. Dự án có quy mô gần 217 ha, tổng mức đầu tư hơn 2.300 tỷ đồng. Đến nay, công tác giải phóng mặt bằng đã hoàn thành 100% tại xã Xuân Trúc. Tại xã Yên Mỹ, các đơn vị đang tiếp tục tập trung đẩy nhanh tiến độ để sớm bàn giao mặt bằng sạch cho chủ đầu tư. Dự án đã hoàn thành 3 đợt chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng cho các hộ dân thuộc phạm vi dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng Khu công nghiệp số 1 tại hai xã với tổng kinh phí khoảng 126 tỷ đồng và nhận được sự đồng thuận cao của người dân.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Năm năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 3.723 tỷ đồng, tăng 47,95%, tương ứng tăng 1.207 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.200 tỷ đồng, tăng 63,94%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.523 tỷ đồng, tăng 29,67%. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 13.833 tỷ đồng, tăng 21,99%, tương ứng tăng 2.494 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 32,14% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 7.989 tỷ đồng, tăng 30,40%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 5.844 tỷ đồng, tăng 21,11%.

b) Hoạt động đầu tư nước ngoài

Tính đến ngày 26/5/2026, toàn tỉnh có 984 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.550,729 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/5/2026, có 19 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 227,02 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 202 dự án, vốn đăng ký là 6.367,34 triệu USD, chiếm 36,28% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 376 dự án, vốn đăng ký 4.535,44 triệu USD, chiếm 25,84% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 215 dự án, vốn đăng ký 2.315,75 triệu USD, chiếm 13,19% tổng vốn đăng ký.

c) Phát triển doanh nghiệp

Tính từ ngày 22/4/2026 đến ngày 21/5/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 461 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 2.891 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 5.216 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 92 doanh nghiệp, sử dụng 1.407 lao động, vốn đăng ký 979 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 168 doanh nghiệp, sử dụng 587 lao động, vốn đăng ký 652 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 15 doanh nghiệp, sử dụng 89 lao động, vốn đăng ký 2.809 tỷ đồng; vận tải kho bãi 49 doanh nghiệp, sử dụng 262 lao động, vốn đăng ký 156 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 25 doanh nghiệp, sử dụng 129 lao động, vốn đăng ký 91 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 18 doanh nghiệp, sử dụng 62 lao động, vốn đăng ký 84 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 5 doanh nghiệp, sử dụng 20 lao động, vốn đăng ký 5 tỷ đồng;...

Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh có 2.570 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 18.112 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 23.235 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.105 doanh nghiệp, sử dụng 4.281 lao động, vốn đăng ký đạt 3.821 tỷ đồng (chiếm 16,44% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 503 doanh nghiệp, sử dụng 9.286 lao động, vốn đăng ký đạt 4.692 tỷ đồng (chiếm 20,19%); xây dựng 234 doanh nghiệp, sử dụng 1.026 lao động, vốn đăng ký 1.509 tỷ đồng (chiếm 6,50%); hoạt động vận tải, kho bãi 197 doanh nghiệp, sử dụng 759 lao động, vốn đăng ký 943 tỷ đồng (chiếm 4,06%); giáo dục và đào tạo 46 doanh nghiệp, sử dụng 188 lao động, vốn đăng ký 68 tỷ đồng (chiếm 0,29%); kinh doanh bất động sản 92 doanh nghiệp, sử dụng 839 lao động, vốn đăng ký 10.421 tỷ đồng (chiếm 44,85%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 111 doanh nghiệp, sử dụng 490 lao động, vốn đăng ký 295 tỷ đồng (chiếm 1,27%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 81 doanh nghiệp, sử dụng 330 lao động, vốn đăng ký 276 tỷ đồng (chiếm 1,19%);...

Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Năm (tính từ ngày 22/4/2026 đến ngày 21/5/2026) là 51 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/5/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 428 doanh nghiệp.

Cũng từ ngày 22/4/2026 đến ngày 21/5/2026, số doanh nghiệp giải thể là 62 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 96 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/5/2026, toàn tỉnh có 402 doanh nghiệp giải thể và 1.177 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 84 doanh nghiệp giải thể và 281 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 20,90% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 23,87% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 132 doanh nghiệp giải thể và 412 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 32,84% và 35,0%; kinh doanh bất động sản có 23 doanh nghiệp giải thể và 25 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 5,72% và 2,12%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 16 doanh nghiệp giải thể và 52 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,98% và 4,42%; giáo dục và đào tạo có 40 doanh nghiệp giải thể và 21 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 11,76% và 1,94%;...

4. Thương mại, dịch vụ

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Năm năm 2026 tỉnh Hưng Yên ước đạt 24.536 tỷ đồng, tăng 1,0% so với tháng trước và tăng 17,75% so cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 123.631 tỷ đồng, tăng 16,57% so với cùng kỳ năm trước.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội

tháng Năm và năm tháng đầu năm 2026

(theo giá hiện hành)

                                                                      

T5.2026

5T.2026

T5.2026

 T5.2025

5T.2026

5T.2025

(Tỷ đồng)

(Tỷ đồng)

(%)

(%)

Tổng số

24.536

123.631

117,75

116,57

Thương nghiệp

12.811

62.414

118,76

117,99

DV lưu trú, ăn uống

1.284

6.236

111,75

113,97

DV du lịch lữ hành

10

39

110,69

113,43

Dịch vụ khác

10.431

54.941

117,30

115,30

Diễn biến tăng, giảm tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng của một số nhóm ngành chính như sau:

Doanh thu bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Năm ước đạt 12.811 tỷ đồng, chiếm 52,21% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội, tăng 1,20% so với tháng trước và tăng 18,76% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 24,87%; hàng may mặc tăng 12,47%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 12,17%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 92,74%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 48,01%; xăng, dầu các loại tăng 32,36%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 47,74%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 31,29%; hàng hóa khác tăng 18,93%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 42,47%. Bên cạnh các nhóm hàng có doanh thu bán lẻ tăng, thì có hai nhóm hàng có doanh thu bán lẻ giảm như: nhóm gỗ và vật liệu xây dựng giảm 2,85%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 20,96% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 62.414 tỷ đồng, tăng 17,99% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 25,74%; hàng may mặc tăng 17,58%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 7,46%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 44,65%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 2,66%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 26,19%; xăng dầu các loại tăng 25,44%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 32,78%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 38,83%; hàng hóa khác tăng 17,96%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 30,89%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Năm ước đạt 1.284 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước và tăng 11,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú ước đạt 37 tỷ đồng, tăng 0,47% so với tháng trước và tăng 11,03% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống ước đạt 1.247 tỷ đồng, tăng 0,45% so với tháng trước và tăng 11,77% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 6.236 tỷ đồng, tăng 13,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 180 tỷ đồng, tăng 12,34% so với cùng kỳ năm trước; doanh thu dịch vụ ăn uống 6.056 tỷ đồng, tăng 14,02% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Năm ước đạt 10,4 tỷ đồng, tăng 11,57% so với tháng trước và tăng 10,69% so với cùng kỳ năm trước. Tháng qua, hoạt động du lịch và lữ hành tiếp tục tăng trưởng khá nhờ nhu cầu du lịch trong nước tăng mạnh vào dịp nghỉ lễ và thời điểm bắt đầu mùa du lịch hè. Các chương trình kích cầu du lịch, tour ngắn ngày và du lịch trải nghiệm tiếp tục thu hút khách hàng. Tuy nhiên, giá nhiên liệu tăng do tác động từ biến động chính trị và kinh tế thế giới đã làm chi phí vận chuyển, lưu trú và giá tour tăng nhẹ, ảnh hưởng nhất định đến nhu cầu chi tiêu của một bộ phận khách du lịch. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 39 tỷ đồng, tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước.

Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Năm ước đạt 10.431 tỷ đồng, tăng 0,80% so với tháng trước và tăng 17,30% so cùng kỳ năm 2025. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 9.103 tỷ đồng, tăng 1,05% so với tháng trước và tăng 17,59% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ 476 tỷ đồng, giảm 2,0% so với tháng trước và tăng 15,28% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo 192 tỷ đồng, giảm 4,12% so với tháng trước và tăng 13,43% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội 261 tỷ đồng, tăng 0,67% so với tháng trước và tăng 21,06% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí 81 tỷ đồng, tăng 7,31% so với tháng trước và tăng 13,05% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ khác 317 tỷ đồng, giảm 0,47% so với tháng trước và tăng 12,95% so với cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 54.941 tỷ đồng, tăng 15,30% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành chiếm tỷ trọng cao nhất là ngành kinh doanh bất động sản - chiếm tới 88,11% tổng doanh thu các ngành dịch vụ và tăng 15,62% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,66%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 12,22%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,93%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 17,01%; dịch vụ khác tăng 11,55%. Hoạt động kinh doanh bất động sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên trong thời gian qua duy trì xu hướng phục hồi tích cực. Nhu cầu giao dịch, đầu tư và triển khai các dự án nhà ở, khu đô thị tiếp tục tăng, nhất là tại các khu vực có hạ tầng phát triển và gần các khu công nghiệp. Bên cạnh đó, biến động giá nhiên liệu và vật liệu xây dựng do tác động từ thị trường thế giới tiếp tục làm gia tăng chi phí đầu vào của các dự án bất động sản. Tuy nhiên, thị trường vẫn được hỗ trợ bởi nhu cầu nhà ở thực tế, các dự án quy mô lớn đang triển khai và chính sách thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội.

5. Chỉ số giá

a) Chỉ số giá tiêu dùng

So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Năm tăng 0,27%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 02 nhóm hàng có chỉ số giá giảm và 09 nhóm hàng có chỉ số giá tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,08%. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: đồ uống và thuốc lá tăng 0,06%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,06%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,02%; giao thông tăng 0,59%; thông tin và truyền thông tăng 0,13%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,73%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%.

Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ

tháng Năm năm 2026

                                                                      

T5.2026

T4.2026

T5.2026

T5.2025

5T.2026

5T.2025

(%)

(%)

(%)

Chỉ số giá tiêu dùng chung

   100,27

   105,89

   104,06

Chỉ số vàng

   95,67

   137,72

   171,05

Chỉ số đô la Mỹ

    100,03

   101,49

   102,79

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:

Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,33%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 0,11%, do nguồn cung vụ Đông Xuân tăng mạnh, giá gạo xuất khẩu đầu năm 2026 của nước ta giảm nên giá bán giảm theo. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,43% do: Nhóm thịt gia súc giảm 1,22% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 1,76%; nội tạng động vật giảm 0,11%; mỡ nội tạng giảm 0,76%) do giá thịt lợn hơi giảm dẫn đến giá thịt thành phẩm giảm, do một số nơi đã xuất hiện dịch tả lợn Châu Phi, bên cạnh đó thịt nhập khẩu giá rẻ và chi phí thức ăn chăn nuôi hạ nhiệt. Nhóm thịt gia cầm giảm 0,76% do thị trường cung vượt cầu, người chăn nuôi tăng đàn mạnh từ cuối năm 2025 nhưng sau Tết sức mua giảm; nhóm trứng các loại giảm 1,10% do nguồn cung dồi dào, sức mua giảm; nhóm quả tươi chế biến giảm 2,63% do một số loại trái cây vào vụ thu hoạch như cam, xoài, dứa,... làm giá bán giảm.

Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,06%, chủ yếu do: chỉ số giá điện sinh hoạt tăng 2,92%; chỉ số giá nước sinh hoạt tăng 0,49% do thời tiết nắng nóng, nhu cầu sử dụng điện, nước cho sản xuất và sinh hoạt tăng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,54%, tăng ở các mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền,... chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 1,50%.

Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,30%, do một số mặt hàng thiết yếu tăng giá như: máy điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, quạt điện, máy ép sinh tố, giường, tủ, bàn ghế, đồ nhôm,… do chi phí nguyên vật liệu đầu vào tăng giá.

Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 0,59%, chủ yếu do giá xăng, dầu trong tháng được điều chỉnh theo diễn biến giá thế giới. Theo đó giá xăng tăng 1,81%; giá dầu mỡ nhờn tăng 4,76%; giá dầu diezel giảm 16,42%.

Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,73%, chủ yếu do giá cờ bài các loại tăng 0,85%; giá chó, mèo cảnh tăng 0,29%; giá vé du lịch trong nước tăng 0,40%; giá nhà khách tăng 1,80%.

Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,28%, chủ yếu do giá một số dịch vụ cá nhân tăng như: dịch vụ chăm sóc cá nhân, đồ dùng cá nhân và các dịch vụ phục vụ chăm sóc cơ thể tăng 1,20%; giá dịch vụ chăm sóc người già tăng 1,39%; giá vật dụng về hỉ tăng 0,13%; giá vật dụng về hiếu tăng 0,29%; giá dịch vụ môi giới tăng 0,87%.

So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm tăng 3,89%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,03%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,74%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 1,15%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,54%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,35%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,29%; giao thông tăng 11,59%; thông tin và truyền thông tăng 1,12%; giáo dục tăng 0,20%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,03%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,10%.

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Năm tăng 5,89%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 6,58% (lương thực tăng 5,50%; thực phẩm tăng 6,57%; ăn uống ngoài gia đình tăng 7,21%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,61%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,66%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,33%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,79%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,34%; giao thông tăng 12,14%; thông tin và truyền thông tăng 1,38%; giáo dục tăng 1,35%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 4,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,57%.

Bình quân chung năm tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,06% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,12%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,17%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,44%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,87%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,64%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,26%; giao thông tăng 4,68%; thông tin và truyền thông tăng 0,88%; giáo dục tăng 1,24%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,79%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,16%.

Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân năm tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 5,42% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 6,55% do giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo chi phí vận hành như tiền công lao động, chi phí thuê mặt bằng và chi phí nguyên liệu chế biến, trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, liên hoan tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,87% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà, chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, hoàn thiện nhà cửa tăng. Bên cạnh đó, giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với năm trước. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,26% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng này chủ yếu do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, trong khi giá thuốc chữa bệnh trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó một số bệnh viên tư nhân tăng giá khám chữa bệnh, đã tác động làm mặt bằng giá dịch vụ y tế cao hơn so với cùng kỳ, dẫn đến chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 5,21% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào giao mùa, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,17%, do giá dầu tăng kéo theo chi phí vận chuyển, chi phí sản xuất tăng dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (6) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 4,68%, do giá xăng, dầu trong nước có các đợt điều chỉnh theo cơ chế điều hành của Nhà nước, bám sát diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm giá bán lẻ xăng, dầu bình quân trong kỳ tăng so với cùng kỳ. Việc tăng giá xăng, dầu đã kéo theo chi phí sử dụng phương tiện giao thông tăng, qua đó tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông tăng trong kỳ.

b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ

Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 5/2026 giảm 4,33% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 5/2026 giá vàng xấp xỉ 16.598.280 VNĐ/chỉ.

Tháng 5/2026, giá đô la Mỹ (USD) có xu hướng tăng so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế tăng, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định. Bên cạnh đó, chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD tăng nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 5/2026 tăng 0,03% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 26.339 VNĐ.

c) Chỉ số giá sản xuất

So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Năm tăng 0,02%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp giảm 0,01%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 5,90%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,65%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: thóc khô giảm 0,19%; ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác giảm 0,45%; khoai tây giảm 0,48%; rau lấy lá còn lại giảm 0,88%; rau lấy quả giảm 0,68%; hoa các loại giảm 0,78%; sản phẩm cây gia vị hàng năm giảm 0,43%; hồng xiêm giảm 0,54%; chuối giảm 1,75%; nhãn giảm 1,07%; sản phẩm cây chè giảm 0,85%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò giảm 0,18%; gà giảm 0,25%; sản phẩm lâm sản khai thác khác giảm 5,90%; cá khai thác nội địa giảm 0,19%; cá trắm nuôi nội địa giảm 0,56%; ... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: khoai lang tươi tăng 0,49%; mía cây tươi tăng 0,89%; lạc tăng 0,12%; dưa lấy quả tăng 3,07%; cà chua tăng 2,97%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 0,22%; xoài tăng 5,74%; mít tăng 3,73%; ổi tăng 3,15%; chanh thường tăng 3,65%; vải tăng 14,96%; sản phẩm chăn nuôi lợn và giống lợn tăng 0,25%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 1,40%; tôm nuôi biển còn lại tăng 2,42%; tôm nuôi nội địa tăng 1,34%; ...

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Năm năm 2026 tăng 3,09%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lượng thực có hạt tăng 1,99%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 7,16%; mía cây tươi tăng 6,02%; thuốc lá, thuốc lào tăng 3,78%; đậu tương tăng 7,50%; rau lấy lá tăng 7,79%; dưa lấy quả tăng 8,91%; rau họ đậu tăng 6,52%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 13,65%; nấm trồng các loại tăng 9,29%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 7,49%; hoa hồng tăng 8,63%; sản phẩm cây hàng năm khác tăng 13,86%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 7,49%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 6,59%; sản phẩm cây chè tăng 8,80%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,87%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 7,16%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 28,92%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 14,73%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 2,26%; cá nuôi biển tăng 4,23%; cá nuôi nội địa tăng 4,20%; tôm nuôi nội địa tăng 8,02%,... Ngược lại, các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 1,28%; quả na giảm 2,49%; mít giảm 1,02%; quýt giảm 2,18%; bưởi giảm 0,40%; táo, mận và các loại quả có hạt như táo giảm 0,96%; nhãn, vải, chôm chôm giảm 13,98%; lợn giảm 0,65%;...

So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Năm năm 2026 tăng 0,61%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,63%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,27%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,18%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 1,06%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,39%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,25%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 0,51%; trang phục dệt kim, đan móc tăng 0,72%; plastic và cao su tổng hợp dạng nguyên sinh tăng 1,20%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu tăng 1,03%; sản phẩm gang, sắt thép tăng 1,69%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 6,37%; cấu kiện kim loại tăng 1,41%; mô tơ, máy phát tăng 2,63%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 0,54%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 3,29%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 1,94%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại tăng 1,11%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: mỳ ống, mỳ sợi và sản phẩm tương tự giảm 1,51%; cà phê giảm 0,61%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 0,82%; sản phẩm điện tử dân dụng giảm 0,74%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,17%; pin và ắc quy giảm 2,52%; thiết bị điện khác giảm 1,48%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 3,98%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 0,80%; điện sản xuất giảm 3,03%; điện mặt trời giảm 4,79%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 0,52%;...

So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Năm năm 2026 tăng 3,36%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 3,47%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,39%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,98%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,94%; thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,88%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 5,51%; thực phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 6,76%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 8,16%; sản phẩm may trang phục tăng 2,88%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 5,60%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,43%; đồ gỗ xây dựng tăng 4,40%; dịch vụ liên quan đến in tăng 9,77%; hóa chất cơ bản tăng 8,20%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,93%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 11,22%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 17,20%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 33,90%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 40,88%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 3,57%; mô tô, xe máy tăng 13,63%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,98%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 9,59%; điện sản xuất tăng 8,91%; điện mặt trời tăng 6,36%; nước tự nhiên khai thác tăng 4,50%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 10,00%; trang phục dệt, kim, đan móc giảm 1,13%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 6,63%; sản phẩm khác từ cao su giảm 3,77%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,66%; thiết bị điện khác giảm 0,74%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 3,98%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 3,55%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 5,04%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 7,16%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 2,27%;...

6. Hoạt động vận tải

Tình hình chiến sự ở các nước Trung Đông ngay từ tuần đầu tháng Ba đến nay đã gây ảnh hưởng mạnh đến giá xăng dầu trong nước, làm tác động trực tiếp đến chi phí vận tải cũng như doanh thu đối với hoạt động này trong thời gian qua. Các doanh nghiệp đang chịu áp lực lớn trong việc điều chỉnh chi phí, thay đổi công ty giao nhận và tối ưu hóa quy trình để ứng phó với các yếu tố bất lợi này.

Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Năm năm 2026 ước đạt 2.377 tỷ đồng, giảm 2,51% so với tháng trước và tăng 13,13% so với cùng kỳ năm trước. Năm tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 12.067 tỷ đồng, tăng 17,50% so cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:

a) Hoạt động vận tải hành khách

Vận tải hành khách tháng Năm năm 2026 ước đạt 5,5 triệu lượt người vận chuyển và 504 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 3,26% về lượt người vận chuyển, giảm 5,85% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 2,02% về lượt người vận chuyển, tăng 0,66% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 390 tỷ đồng, giảm 6,87% so với tháng trước và tăng 3,71% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 29 triệu lượt người vận chuyển và 2.669 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 9,61% về lượt người vận chuyển và tăng 9,60% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 2.077 tỷ đồng, tăng 11,81% so với cùng kỳ năm trước. Việc các địa phương tổ chức nhiều lễ hội văn hóa, du lịch đầu năm và các dịp nghỉ lễ tết kéo dài góp phần thúc đẩy nhu cầu di chuyển, đặc biệt là ở các tuyến liên tỉnh và nội tỉnh phục vụ du khách. Trong khi đó, hệ thống giao thông toàn tỉnh được nâng cấp, cải thiện hạ tầng bến bãi, tăng cường chất lượng phương tiện công cộng đáp ứng nhu cầu đi lại của người dân, góp phần vào mức tăng doanh thu đối với hoạt động vận tải trong năm tháng đầu năm 2026.

b) Hoạt động vận tải hàng hoá

Vận tải hàng hoá tháng Năm năm 2026 ước đạt 6 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.675 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt giảm 0,71% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 5,45% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 2,98 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 5,52% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.775 tỷ đồng, giảm 2,18% so với tháng trước và tăng 18,02% so cùng kỳ năm trước.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 32 triệu tấn vận chuyển và 8.829 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 11,60% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 14,61% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 8.925 tỷ đồng, tăng 20,50% so với cùng kỳ năm trước. Qua khảo sát tại nhiều cơ sở hoạt động vận tải cho biết, từ đầu năm đến nay, các cơ sở nhận được nhiều hợp đồng vận chuyển, các đầu xe thường chạy tối đa công suất nên doanh thu tăng tương đối so với cùng kỳ năm trước.

c) Dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát

Doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Năm năm 2026 ước đạt 189 tỷ đồng, tăng 2,88% so với tháng trước và giảm 5,36% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 939 tỷ đồng, tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước.

 Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Năm năm 2026 ước đạt 23 tỷ đồng, tăng 8,89% so với tháng trước và tăng 7,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung năm tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 127 tỷ đồng, tăng 22,35% so với cùng kỳ năm trước.

7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm

a) Thu ngân sách nhà nước

Thu ngân sách nhà nước tháng Năm ước đạt 6.470 tỷ đồng, giảm 17,51% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 5.873 tỷ đồng, giảm 19,44%; thuế xuất nhập khẩu 597 tỷ đồng, tăng 7,98%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 119 tỷ đồng, tăng 18,32%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 518 tỷ đồng, tăng 114,10%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.199 tỷ đồng, giảm 14,79%; thu thuế thu nhập cá nhân 215 tỷ đồng, giảm 39,76%; các khoản thu về đất 3.555 tỷ đồng, giảm 26,37%;...

Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh

tháng Năm và năm tháng đầu năm 2026

T5.2026

(Tỷ đồng)

5T.2026

(Tỷ đồng)

T5.2026

T5.2025

(%)

5T.2026

5T.2025

(%)

Tổng số

6.470

33.187

82,49

85,85

Thu nội địa

5.873

30.395

80,56

84,19

Tr. đó: Thu từ đất

3.555

12.930

73,63

68,65

Thu Hải quan

597

2.792

107,98

109,32

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 33.187 tỷ đồng, giảm 14,15% so với cùng kỳ năm trước và đạt 39,39% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 30.395 tỷ đồng, giảm 15,81%; thuế xuất nhập khẩu 2.792 tỷ đồng, tăng 9,32%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 571 tỷ đồng, tăng 110,35%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 2.593 tỷ đồng, tăng 25,81%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 11.026 tỷ đồng, giảm 5,83%; thu lệ phí trước bạ 748 tỷ đồng, tăng 14,25%; thuế thu nhập cá nhân 1.663 tỷ đồng, giảm 2,60%; các khoản thu về đất 12.930 tỷ đồng, giảm 31,35%.

b) Chi ngân sách nhà nước địa phương

Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Năm ước đạt 4.264 tỷ đồng, giảm 21,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.833 tỷ đồng, giảm 39,54%; chi thường xuyên 2.431 tỷ đồng, tăng 0,52%.

Tính chung năm tháng đầu năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 28.516 tỷ đồng, tăng 10,47% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 17.331 tỷ đồng, tăng 5,97%; chi thường xuyên 11.186 tỷ đồng, tăng 18,23%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 3.954 tỷ đồng, tăng 2,15%; chi sự nghiệp y tế 960 tỷ đồng, tăng 11,76%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 124 tỷ đồng, giảm 25,80%; chi đảm bảo xã hội 2.723 tỷ đồng, tăng 139,72%; chi quản lý hành chính 2.287 tỷ đồng, giảm 9,45%.

c) Hoạt động ngân hàng

Ước tính đến 31/5/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 319.000 tỷ đồng, tăng 3,13% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 314.500 tỷ đồng, tăng 2,37% và chiếm 98,59% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,41%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/5/2026 đạt 271.000 tỷ đồng, tăng 2,30% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.000 tỷ đồng, tăng 0,13%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 79.000 tỷ đồng, tăng 7,98%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 262.500 tỷ đồng, tăng 1,53%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 8.500 tỷ đồng, tăng 33,33%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 175.930 tỷ đồng, tăng 2,28% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 116.500 tỷ đồng, tăng 3,65%; xuất khẩu 1.710 tỷ đồng, tăng 5,56%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 52.300 tỷ đồng, giảm 0,29%; công nghiệp hỗ trợ 5.420 tỷ đồng, tăng 1,50%.

Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/5/2026 ước tính là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,65% dư nợ tín dụng), giảm 7,06% so với với thời điểm 31/12/2025.

d) Bảo hiểm xã hội

Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 4 năm 2026 là 638.517 người, tăng 11.752 người, tương ứng tăng 1,9% so với tháng trước; tăng 57.309 người, tương ứng tăng 9,9% so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 50,36% so với lực lượng lao động. Trong đó: BHXH bắt buộc 558.302 người, tăng 12.298 người (tăng 2,3%) so với tháng trước; tăng 53.525 người (tăng 10,6%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 80.215 người, giảm 546 người (giảm 0,7%) so với tháng trước, tăng 3.784 người (tăng 5%) so với cùng kỳ năm trước.

Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 30/4/2026 là 536.573 người, tăng 9.748 người (tăng 1,9%) so với tháng trước; tăng 50.866 người (tăng 10,5%) so với cùng kỳ năm trước. Số người tham gia BHYT là 2.809.158 người, tăng 9.789 người (tăng 0,3%) so với tháng trước, tăng 21.221 người (tăng 0,8%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 95,4%.

Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 4/2026 là 5.252,5 tỷ đồng, tăng 1.492 tỷ đồng (tăng 28,4%) so với tháng trước, tăng 439,2 tỷ đồng (tăng 9,1%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 29,7% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 4/2026 đạt 1.005,7 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi BHXH 3.995,5 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 1.119,4 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 2.876,1 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 4/2026 là 106,1 tỷ đồng.

Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 4/2026 là 339,7 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm chi phí khám chữa bệnh BHYT là 1.177,1 tỷ đồng, tăng 5,12% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 467,6 tỷ đồng; chi KCB nội trú 709,5 tỷ đồng.

II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI

1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội

Đời sống dân cư: Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng Năm năm 2026 phát triển ổn định. Toàn tỉnh đã và đang tích cực triển khai quyết liệt các nhiệm vụ, giải pháp, phát triển nhanh, bền vững hơn với tốc độ tăng trưởng kinh tế hai con số; đẩy mạnh cơ cấu lại thực chất, hiệu quả hơn nền kinh tế, các ngành, lĩnh vực, doanh nghiệp nhà nước, vốn đầu tư nhà nước tại doanh nghiệp gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và môi trường kinh doanh của nền kinh tế. Toàn tỉnh tiếp tục thực hiện có hiệu quả 7 Nghị quyết của Bộ Chính trị tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Xây dựng tỉnh Hưng Yên có nền kinh tế năng động, phát triển nhanh, bền vững dựa trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xã hội hài hòa; bản sắc văn hóa được bảo tồn và phát huy; môi trường sinh thái được bảo vệ an toàn. Tạo lập đồng bộ các yếu tố nền tảng cơ bản của nền công nghiệp hiện đại, đô thị văn minh, kinh tế biển mạnh. Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại; quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường. Chú trọng phát triển toàn diện các lĩnh vực xã hội; nâng cao chất lượng mọi mặt cuộc sống nhân dân.

Lao động việc làm: Trong tháng Năm, tỉnh giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 805 người, tư vấn giới thiệu việc làm cho 2.557 người; toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.100 lao động, trong đó có 650 lao động đi làm 2 việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Công tác an toàn, vệ sinh lao động tiếp tục được triển khai hiệu quả; tổ chức tập huấn cơ sở dữ liệu tai nạn lao động, ban hành 01 quyết định điều tra, kết luận điều tra 02 vụ tai nạn lao động và tiếp tục điều tra 13 vụ việc. Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn 960 lượt doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính; cấp giấy phép lao động và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 543 lao động nước ngoài; thu hồi 113 giấy phép lao động; hướng dẫn đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể cho 38 doanh nghiệp; xác nhận sử dụng 514 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động và tiếp nhận hồ sơ kiểm tra chất lượng hàng hóa nhập khẩu đối với 2.077 thiết bị; xác nhận bản cam kết cho 107 lao động đi làm việc tại Đài Loan của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group.

Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 25.720 lao động, trong đó có 2.620 lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; thực hiện trợ cấp thất nghiệp cho 3.619 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho gần 12.000 người; tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn trên 2.400 lượt doanh nghiệp thực hiện thủ tục hành chính; cấp giấy phép lao động và xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 2.250 lao động nước ngoài; hướng dẫn 718 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ; tiếp nhận đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể cho 186 doanh nghiệp; xác nhận sử dụng 2.563 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn lao động.

Công tác người có công: Tỉnh ban hành Kế hoạch số 155/KH UBND ngày 06/5/2026 về việc thực hiện xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng là con đẻ của người HĐKC bị nhiễm CĐHH trên địa bàn tỉnh; tổ chức các đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà đối với 96 người có công với cách mạng, thân nhân người có công với cách mạng nhân Kỷ niệm 51 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30/4/1975 - 30/4/2026) đang được nuôi dưỡng, chăm sóc tại các Trung tâm Điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công, Trung tâm Bảo trợ xã hội tổng hợp trên địa bàn tỉnh, với tổng kinh phí thăm, tặng là 86,4 triệu đồng. Tổ chức đưa 90 người có công đi điều dưỡng tại Trung tâm Điều dưỡng người có công Sầm Sơn (thuộc Bộ Nội vụ) và Trung tâm Điều dưỡng, Chăm sóc người có công tỉnh tổ chức điều dưỡng tập trung đợt 3 năm 2026 cho 450 người có công và thân nhân liệt sĩ. Việc thực hiện chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được tổ chức kịp thời.

Tình hình thiên tai: Tháng Năm, toàn tỉnh xảy ra 01 vụ thiên tai làm 01 người chết. Cụ thể: vào khoảng 14h30 phút ngày 17/5/2026, bà Nguyễn Thị Vòng, sinh năm 1968, thường trú tại phường Vũ Phúc bị sét đánh tử vong tại chỗ trong lúc đi làm đồng.

2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch

a) Hoạt động văn hoá

Toàn tỉnh tăng cường công tác thuyết minh, tuyên truyền và quảng bá giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kiến trúc nghệ thuật tại các di tích trọng điểm trên địa bàn tỉnh; thuyết minh, hướng dẫn cho khoảng 5.000 lượt khách đến tham quan, chiêm bái; tổ chức trưng bày chuyên đề “Hải Phòng - Miền di sản”, “Quốc Tử Giám Thăng Long với truyền thống hiếu học tỉnh Hưng Yên”; trưng bày lưu động chuyên đề “Hồ Chí Minh - Những nét phác họa chân dung” tại một số trường THCS; đón 6.101 lượt khách (trong đó có 04 khách nước ngoài) thăm quan Bảo tàng; đón 1.902 học sinh và thầy cô giáo thăm quan trưng bày lưu động; sưu tầm tài liệu hiện vật về danh nhân Lê Quý Đôn và làng nghề dệt đũi Nam Cao; bảo quản trị liệu 275 hiện vật giấy, 119 hiện vật kim loại, bảo quản phòng ngừa 02 hiện vật máy kéo, 500 hiện vật kim loại khác và 200 di vật khai quật tại khu di tích Tam Đường, xã Tiến Đức.

Tỉnh tổ chức 04 Hội nghị triển khai mô hình “Xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư” tại các xã: Minh Thọ, Tiên La, Khoái Châu, Tiên Hoa. Tổ chức, hướng dẫn tuyên truyền cổ động trực quan, lưu động bằng xe ô tô, loa phát thanh phục vụ các lễ lớn, sự kiện tiêu biểu của đất nước, của tỉnh. Tổ chức 10 Hội nghị truyền thông Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Giáo dục đạo đức lối sống trong gia đình, Bộ Tiêu chí ứng xử trong gia đình tại các xã; xây dựng Kế hoạch tổ chức các hoạt động hưởng ứng Tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình và Ngày gia đình Việt Nam; xây dựng Kế hoạch tham gia Ngày hội Gia đình tại Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam.

Về nghệ thuật biểu diễn: Nhà hát Chèo tỉnh đã tổ chức 09 buổi biểu diễn nghệ thuật phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của nhân dân trong và ngoài tỉnh.

Thư viện tỉnh tổ chức các hoạt động hưởng ứng Ngày sách và Văn hóa đọc Việt Nam 21/4; tổ chức Cuộc thi vẽ tranh theo sách; tham gia trưng bày, giới thiệu sách tại tỉnh Phú Thọ; sưu tầm, biên soạn 05 bài giới thiệu sách chuyên đề chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc, địa phương đăng tải lên website, fanpage, facebook của Thư viện tỉnh; phối hợp với Báo và Phát thanh - Truyền hình Hưng Yên tổ chức nói chuyện chuyên đề về văn hóa đọc trong thời đại số; phát hành Thư mục toàn văn về danh nhân văn hóa Lê Quý Đôn; sưu tầm, biên soạn thư mục 65 bài báo, tạp chí của Trung ương có nội dung viết về tỉnh Hưng Yên; tổ chức xe Thư viện lưu động tại 18 trường, với 11.743 học sinh tham gia, trên 13.000 lượt tài liệu luân chuyển; phục vụ 620 học sinh mầm non của 05 trường đến trải nghiệm tại Thư viện (cơ sở 2); cấp 342 thẻ bạn đọc, phục vụ 4.380 lượt bạn đọc, 6.343 lượt sách, báo được luân chuyển; số hóa 2.443 trang tài liệu (2.378 trang sách = 8 cuốn sách; 65 bài báo tạp chí Trung ương có nội dung viết về Hưng Yên); có 12.540 lượt bạn đọc truy cập Website và phần mềm Thư viện số.

Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 72 buổi chiếu phim (12 buổi lưu động, 60 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.

Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Tỉnh xây dựng Kế hoạch tổ chức cuộc thi sáng tác biểu trưng (logo) tỉnh Hưng Yên.

b) Hoạt động thể dục thể thao

Về thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh xây dựng kế hoạch tập huấn cho người hướng dẫn tập luyện môn Bơi, cứu đuối; lớp tập huấn cho người hướng dẫn Lân - Sư - Rồng. Quyết định cử Đoàn vận động viên Cầu lông gia đình tỉnh Hưng Yên tham gia giải Cầu lông gia đình toàn quốc. Tổ chức thành công 02 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh năm 2026. Thực hiện có hiệu quả công tác xã hội hóa trong tổ chức các hoạt động thể thao (chấp thuận cho 2 đơn vị tổ chức giải Pickleball và giải võ Karate).

Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Đoàn thể thao của tỉnh tham dự 05 giải thể thao quốc gia, 03 giải quốc tế, đạt tổng số 58 huy chương các loại, gồm: 13 HCV, 19 HCB, 26 HCĐ (trong đó 2 HCV, 3 HCB, 3 HCĐ quốc tế). Cụ thể: Giải Vô địch Wushu các CLB quốc gia năm 2026, tổ chức tại Lạng Sơn, đạt: 1 HCV, 3 HCB, 6 HCĐ; Giải vô địch Cầu lông các câu lạc bộ quốc gia năm 2026, tại Thái Nguyên, đạt: 1 HCV, 1 HCB; Giải vô địch các câu lạc bộ Vật cổ điển, Vật tự do quốc gia năm 2026, tại Thành phố Huế, đạt: 1 HCB, 4 HCĐ; Giải vô địch các lứa tuổi trẻ Jujitsu quốc gia năm 2026, tại Bắc Ninh, kết quả đạt: 9 HCV, 11 HCB, 13 HCĐ. Đặc biệt các vận động viên của tỉnh được triệu tập Đội tuyển quốc gia tham dự các giải thi đấu quốc tế, gồm: Giải vô địch Kickboxing thế giới “World Cup” năm 2026, tại Bangkok - Thái Lan, kết quả đạt 01 HCĐ; Giải Vô địch Vật Bãi biển Thế giới năm 2026, tổ chức tại TP.Đà Nẵng, kết quả đạt 1 HCĐ; Giải Vô địch Rowing Châu Á năm 2026, tại Hàn Quốc, đạt 2 HCV, 3 HCB, 1 HCĐ.

c) Hoạt động du lịch

Trong tháng Năm, lượng khách đến tham quan du lịch tại Hưng Yên đón khoảng 450.000 lượt khách, trong đó: khoảng 12.000 lượt khách QT; Doanh thu ước đạt trên 300 tỷ VNĐ. Toàn tỉnh hiện có khoảng hơn 600 cơ sở lưu trú du lịch, trong đó có khoảng 24 cơ sở lưu trú đạt tiêu chuẩn từ 1-3 sao; 01 khách sạn đạt hạng 4 sao và 01 khạch sạn 5 sao theo quy định.

Tỉnh hoàn thiện dự thảo “Đề án tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, định hướng đến 2035”. Tiến hành khảo sát địa điểm dựng biển quảng cáo tấm lớn về du lịch tại một số xã, phường trên địa bàn tỉnh; viết bài và đăng tải, đưa tin trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube của Trung tâm Xúc tiến du lịch (8 bài, 01 video livestream chia sẻ 40 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 15 link, 05 video từ Báo và PTTH tỉnh) thu hút hơn 3.000 lượt truy cập; biên tập, xuất bản Bản tin du lịch Hưng Yên số 02; tổ chức chương trình Khảo sát, học tập kinh nghiệm xúc tiến du lịch và liên kết phát triển tour “Hưng Yên với các tỉnh đồng bằng sông Hồng và phụ cận”; hoàn thiện 02 clip, 01 phim quảng bá du lịch Hưng Yên; phối hợp xây dựng kịch bản phim quảng bá du lịch Hưng Yên trên sóng truyền hình Quốc gia trong Chương trình “Vị Quê và Việt Nam hôm nay”; vận động doanh nghiệp, tham gia quảng bá xúc tiến du lịch tại Triển lãm Du lịch - Ẩm thực và phát động hưởng ứng kích cầu Du lịch “Tam Đảo - Điểm hẹn trên mây” năm 2026; tham gia khảo sát và tọa đàm xây dựng chương trình du lịch trải nghiệm “ Mùa quả chín xứ Đông”.

Tỉnh hoàn thiện nâng cấp giao diện website: Hungyentourism.com.vn. Tiếp tục phối hợp Công an tỉnh thực hiện hỗ trợ người dân ứng dụng dữ liệu dân cư định danh xác thực điện tử trong phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế số phát triển du lịch gắn với phát triển đặc sản vùng miền. Tiếp tục thực hiện số hóa bản đồ du lịch tỉnh. Thường xuyên viết tin, bài đăng trên Cổng du lịch thông minh. Phối hợp với VNPT nâng cấp giao diện Cổng du lịch thông minh; bổ sung chuyên mục giới thiệu sản phẩm OCOP; cập nhật số hóa các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử.

3. Giáo dục, đào tạo

Toàn ngành tiếp tục duy trì ổn định quy mô mạng lưới trường lớp, học sinh, đảm bảo hoạt động cả về số lượng và chất lượng. Cụ thể toàn tỉnh hiện có: Cấp học mầm non: 503 trường (452 công lập, 51 tư thục), 6.117 lớp, 135.970 trẻ. Cấp tiểu học: 198 trường, 7.456 lớp, 153.943 học sinh. Cấp THCS: 187 trường THCS và 255 trường TH&THCS, với tổng cộng 5.489 lớp, 222.143 học sinh. Cấp THPT: 81 trường (55 công lập, 26 tư thục), 2.508 lớp, 109.841 học sinh. Giáo dục thường xuyên và Nghề nghiệp: 18 trung tâm GDTX-GDNN với 18.172 học sinh; 48 cơ sở giáo dục nghề nghiệp với các cấp trình độ cao đẳng, trung cấp và sơ cấp.

Toàn tỉnh đã công nhận đạt kiểm định chất lượng giáo dục cho 1.084/1.236 trường, trung tâm (đạt tỷ lệ 87,70%); công nhận đạt chuẩn quốc gia 2 cho 1.071/1.218 trường mầm non và phổ thông (đạt tỷ lệ 87,93%). Trong đó, cấp Tiểu học có tỷ lệ trường chuẩn quốc gia cao nhất đạt 97,96%, tiếp đến là THCS đạt 95,72%.

Tỉnh đã tổ chức kỳ tuyển dụng viên chức giáo viên vào làm việc tại các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông công lập năm học 2025-2026 với sự tham gia của 3.095 thí sinh. Học sinh Hưng Yên đạt nhiều thành tích xuất sắc. Nổi bật là Huy chương Vàng lĩnh vực Hóa Sinh tại Cuộc thi EUREKA WARSAW 2026 (Ba Lan) của học sinh Trường THPT Hưng Yên. Tại cuộc thi KHKT cấp quốc gia, tỉnh có 2 dự án đạt giải (1 giải Nhất, 1 giải Tư), trong đó dự án của THPT Yên Mỹ được chọn tham gia ISEF 2026 tại Hoa Kỳ. Tổ chức thành công Giải Điền kinh học sinh phổ thông với 1.760 vận động viên tham gia. Tại Hội thao GDQP-AN toàn quốc, đoàn Hưng Yên đạt 01 giải Nhất lý thuyết, 01 giải Ba đội ngũ và nhiều giải toàn năng, cá nhân xuất sắc.

Tỉnh hoàn thành các khâu tổ chức Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2026-2027: tập huấn Quy chế thi, các hướng dẫn về tổ chức Kỳ thi của Bộ Giáo dục và Đào tạo, hướng dẫn sử dụng Phần mềm quản lý thi cho tất cả cán bộ quản lý, cán bộ phụ trách công tác thi và cán bộ phụ trách phần mềm của các nhà trường có thí sinh dự thi; tổ chức cho các thí sinh ĐKDT theo hình thức trực tuyến trên phần mềm tuyển sinh đầu cấp; thành lập Hội đồng coi thi, Hội đồng ra đề, chuẩn bị các điều kiện tổ chức Kỳ thi vào ngày 24-26/5/2026. Kỳ thi có 56 Hội đồng coi thi, 42.944 thí sinh (THPT công lập không chuyên: 40.721 thí sinh: THPT chuyên: 2.223 thí sinh); 1.918 phòng thi (THPT công lập không chuyên: 1.816 phòng thi; THPT chuyên: 102 phòng thi).

Tỉnh tiếp tục thực hiện các khâu trong tổ chức thi tốt nghiệp THPT năm 2026 gồm: tổ chức họp Ban Chỉ đạo Kỳ thi; thành lập Hội đồng thi, Ban Thư ký Hội đồng thi. Kỳ thi tổ chức từ ngày 10-12/6/2026, 70 điểm thi, 43.666 thí sinh đăng ký dự thi, trong đó: 41.791 thí sinh học lớp 12; 1.875 thí sinh tự do (thí sinh tự do chưa tốt nghiệp: 51, thí sinh tự do đã tốt nghiệp: 1.824); 36.816 thí sinh học chương trình giáo dục THPT; 6.850 thí sinh học chương trình giáo dục thường xuyên: 6.850.

4. Hoạt động y tế

Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Sở Y tế đã chỉ đạo các đơn vị y tế trên địa bàn tỉnh thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Hè; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn. Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Tình hình bệnh truyền nhiễm trên địa bàn tỉnh trong năm tháng đầu năm 2026 như sau: Tay chân miệng 966 ca; Sởi 39 ca; Ho gà 09 ca; Covid-19 có 62 ca.

Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 04 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.568 người thuộc 104/104 xã, phường), có 01 người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.309 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Hoạt động điều trị nghiện chất: Tổng số bệnh nhân điều trị methadone tính đến 20/5/2026 là 1.517 người. Trong đó cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên đại bàn tỉnh Thái Bình cũ là: 1.049 bệnh nhân, Hưng Yên cũ là: 468 bệnh nhân.

5. Công tác vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ

Trong tháng Năm (từ ngày 23/4/2026 - 22/5/2026), trên địa bàn tỉnh không phát hiện vụ vi phạm môi trường nào, số vụ đã xử lý là 2 vụ. So với tháng trước, số vụ vi phạm giảm 11 vụ, giảm 100%; số vụ đã xử lý giảm 05 vụ, giảm 71,43%. So với tháng 5/2025, số vụ vi phạm giảm 14 vụ, giảm 100,0%; số vụ vi phạm đã xử lý giảm 03 vụ, giảm 60,0%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 23 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 35 vụ với số tiền xử phạt 3.019 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 64 vụ, tương ứng giảm 73,56%; số vụ đã xử lý giảm 26 vụ, giảm 42,62%; số tiền xử phạt giảm 716 triệu đồng, giảm 19,18%. Số vụ xử lý trong tháng qua còn thấp do một số vụ việc cần thêm thời gian xác minh, hoàn thiện hồ sơ và thực hiện các thủ tục theo quy định pháp luật trước khi ban hành quyết định xử lý.

Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/4/2026 đến ngày 14/5/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 03 vụ cháy (xã Hoàng Hoa Thám 01 vụ, xã Yên Mỹ 01 vụ, phường Sơn Nam 01 vụ), không có vụ nổ; không có thiệt hại về người; giá trị thiệt hại về tài sản là 141 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy nổ giảm 03 vụ, giảm 50,0%. Lũy kế năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 19 vụ cháy, nổ; làm chết 01 người; làm bị thương 02 người; giá trị thiệt hại về tài sản là 1.855 triệu đồng.

6. An toàn giao thông

Từ ngày 15/4/2026 đến 14/5/2026, toàn tỉnh xảy ra 31 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 27 người; làm bị thương 10 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 13,89%; số người chết giảm 01 người, giảm 3,57%; số người bị thương giảm 04 người, giảm 28,57%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 11 vụ, giảm 26,19%; số người chết tăng 03 người, tăng 12,50%; số người bị thương giảm 15 người, giảm 60,0%. Năm tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 203 vụ (đường bộ 201 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 01 vụ), làm chết 132 người (đường bộ 131 người, đường sắt 01 người), bị thương 120 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 32 vụ, giảm 13,62%; số người chết giảm 05 người, giảm 3,65%; số người bị thương giảm 27 người, giảm 18,37%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.