Tình hình kinh tế - xã hội tháng 3 và quý I năm 2026
Quý I năm 2026, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gia tăng rủi ro đối với ổn định kinh tế toàn cầu, tác động lớn đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng, ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam. Ở trong nước, việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng với mục tiêu phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 10% trong giai đoạn tới đặt ra yêu cầu rất cao đối với công tác điều hành vĩ mô, vừa đạt mức tăng trưởng cao, vừa bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế và nâng cao đời sống của Nhân dân.
Đối với tỉnh Hưng Yên, kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức, song bên cạnh đó, có những yếu tố tác động tích cực như kết cấu hạ tầng giao thông kết nối tiếp tục được đầu tư hoàn thiện; các dự án đầu tư trong Khu kinh tế, khu, cụm công nghiệp được đẩy nhanh tiến độ đưa vào hoạt động phát huy hiệu quả; tiếp tục rà soát, tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn về cơ chế, chính sách và khơi thông các nguồn lực của tỉnh; các cơ chế hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đã ban hành tạo động lực mới cho tăng trưởng của các lĩnh vực;... Với quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, cùng với sự cố gắng nỗ lực của các cấp, các ngành, các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và Nhân dân, tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026 của tỉnh đạt được nhiều kết quả tích cực, cụ thể như sau:
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản
Quý I năm 2026, nông dân trong tỉnh tập trung thu hoạch nhanh gọn cây rau màu vụ đông, hoàn thành gieo cấy lúa và chăm sóc cây rau màu vụ xuân; chủ động phòng trừ sâu bệnh trên cây ăn quả. Đồng thời, chăm sóc, bảo vệ an toàn đàn gia súc, gia cầm phục vụ nhân dân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ và những tháng đầu năm. Nhìn chung, quý I năm 2026, diễn biến thời tiết cơ bản thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng và phát triển, chưa xảy ra dịch bệnh lớn trên đàn gia súc gia cầm.
a) Nông nghiệp
Trồng trọt
Tỉnh đã tập trung quy hoạch, quy vùng, khắc phục sản xuất nhỏ lẻ, manh mún sang sản xuất tập trung, quy mô lớn chuyên canh, chuyển đổi đất trồng cây hiệu quả thấp sang trồng cây lâu năm, cây hàng năm kết hợp chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Lũy kế đến nay, toàn tỉnh đã chuyển đổi được trên 6.000 ha đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng các loại cây trồng khác như: cây ăn quả, dược liệu, hoa cây cảnh, rau các loại;... cho hiệu quả kinh tế cao hơn; chuyển đổi trên 300 ha diện tích trồng lúa hiệu quả thấp sang trồng lúa kết hợp nuôi trồng thủy sản trong ao bán nổi. Toàn tỉnh tổ chức xây dựng được 624 mô hình sản xuất lúa tập trung (từ 05 ha trở lên) với tổng diện tích 25.005 ha; diện tích xây dựng các cánh đồng liên kết trong sản xuất lúa và rau màu 10.073,2 ha (trong đó lúa 9.453,2 ha; cây rau màu 620 ha); tổng diện tích đất tập trung nông nghiệp 6.980,98ha (trong đó dưới 2 ha 278,23 ha; từ 2-5ha 1.893,94 ha; từ 5-10 ha 1.728,32 ha; từ 10-20 ha 1.225,67 ha; trên 20 ha 559,79 ha). Nhiều vùng sản xuất tập trung đối với cây lúa chất lượng cao, cây rau màu, cây ăn quả đặc sản được duy trì và mở rộng; mối liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản ngày càng chặt chẽ. Hiện toàn tỉnh có 118 “cánh đồng lớn” trồng lúa tại 39 xã.
- Cây hằng năm:
+ Sản xuất vụ đông: Tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông năm 2026 toàn tỉnh đạt 41.708 ha, giảm 3,04%, tương ứng giảm 1.310 ha so với cùng kỳ năm 2025. Diện tích gieo trồng và sản lượng thu hoạch một số loại cây hằng năm vụ đông như sau: ngô 6.306 ha, giảm 6,55% (giảm 442 ha), sản lượng ngô 38.525 tấn, giảm 5,27% (giảm 2.144 tấn); khoai lang 2.207 ha, tăng 2,87% (tăng 62 ha), sản lượng 28.321 tấn, tăng 4,81% (tăng 1.299 tấn); đậu tương 707 ha, tăng 13,51% ( tăng 84 ha); sản lượng 1.245 tấn, tăng 14,89% (tăng 161 tấn); rau các loại 26.750 ha, giảm 3,39% (giảm 940ha); sản lượng 652.104 tấn, giảm 4,46% (giảm 30.475 tấn);...
+ Sản xuất vụ xuân: Kế hoạch gieo trồng lúa Vụ xuân năm nay toàn tỉnh dự kiến 95.500 ha. Theo báo cáo của ngành chuyên môn, đến thời điểm 05/3 toàn tỉnh đã gieo cấy được 95.500 ha lúa xuân(đạt 100% kế hoạch đề ra). Hiện nay, lúa xuân bước vào giai đoạn đẻ nhánh, chuẩn bị làm đòng cũng là thời điểm chuột gây hại gia tăng tại nhiều địa phương trong tỉnh. Ngành chuyên môn đang phối hợp với các địa phương theo dõi chặt chẽ tình hình chuột gây hại để kịp thời đưa ra khuyến cáo giải pháp phòng, chống cho người dân.
Ngoài việc hoàn thành diện tích gieo cấy lúa, người dân các địa phương đã khẩn trương gieo trồng các loại rau, màu vụ xuân. Đến ngày 20/3/2026, toàn tỉnh đã gieo trồng 3.459 ha ngô (tăng 6,2%); 687 ha khoai lang (giảm 2,6%); 463 ha đậu tương (giảm 2,6%); 2.302 ha lạc (tăng 3,2%); 15.869 ha rau các loại (tăng 13,6%) so với thời điểm 2025.
- Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn duy trì ổn định. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm 2025 đạt 24.647 ha, tăng 1,91%, tương ứng tăng 461,26 ha so với cùng kỳ năm trước. Trong diện tích hiện có các loại cây lâu năm thì diện tích cây ăn quả chiếm chủ yếu - chiếm 85,33%.
Ước tính trong quý I năm 2026, sản lượng thu hoạch một số loại cây ăn quả của tỉnh so với cùng kỳ năm trước như sau: chuối 30.500 tấn, tăng 2,22%; cam 22.000 tấn, tăng 0,32%; táo 4.600 tấn, tăng 1,55%; ổi 3.000 tấn, tăng 0,23%;... Thời điểm này, các loại cây ăn quả như nhãn, vải và nhóm cây có múi đang ở thời kỳ phân hóa hoa, ra hoa, đậu quả non. Hiện nay, mặc dù thời tiết ấm, song độ ẩm không khí cao, thuận lợi cho một số loài sâu bệnh phát sinh và gây hại. Các nhà vườn cần đẩy mạnh áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm tăng tỷ lệ ra hoa, đậu quả, đồng thời chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây ăn quả, nhằm làm tăng sản lượng, chất lượng của cả vụ.
Quý I năm 2026, sản lượng cây cảnh thu hoạch vào dịp Tết Nguyên đán tăng khá so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cây quất cảnh 3.055 nghìn cây, tăng 18,77%; cây hoa đào 984 nghìn cây, tăng 4,07%. Sản lượng thu hoạch cây cảnh quý 1 năm nay tăng cao so với cùng kỳ năm trước do tháng 9 năm 2024, cơn bão số 3 (bão Yagi) và mưa, lũ sau bão đã gây ảnh hưởng lớn tới sản xuất nông nghiệp, khiến sản lượng cây cảnh thu hoạch trong quý I năm 2025 giảm mạnh.
Chăn nuôi
Cơ cấu giống vật nuôi của tỉnh đã và đang chuyển biến theo hướng tích cực, chăn nuôi giống vật nuôi có năng suất, chất lượng cao, hệ số vòng quay ngắn được đưa vào sản xuất: Đàn lợn đang được nuôi các giống cao sản với mức tăng khối lượng cao (750 - 950 gram/con/ngày), tỷ lệ nạc đạt trên 54%. Hiện nay, ước tính đàn lợn thịt cao sản đạt khoảng trên 90%. Chất lượng đàn lợn nái sinh sản được tăng lên, đàn lợn thịt với thời gian nuôi 150-155 ngày đạt trung bình khoảng 120 kg/con. Các giống gia cầm cao sản được người dân chăn nuôi nhiều là các giống cao sản, thời gian nuôi ngắn ngày, tăng trọng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp. Đối với gà có các giống là tổ hợp lai gà lông màu 2 máu và 3 máu có thời gian nuôi phổ biến 3- 3,5 tháng, tiêu tốn thức ăn thấp 2.8-3.0kgTA/P tăng trọng, khối lượng lượng trung bình đạt 2,5kg/con. Trong chăn nuôi thủy cầm: Giống vịt cao sản của các hãng Grimaud, hãng vịt Cherry; tổ hợp lai vịt hướng thịt cao sản thời gian nuôi 37- 40 ngày đạt 2,5-2,9kg/con; 47- 49 ngày khối lượng đạt trung bình 3-3,5 kg/con; giống Ngan R71 nuôi 70 ngày tuổi đạt khối lượng 3,5 kg,... Đàn bò của tỉnh đã và đang cải tạo thông qua công tác phối giống nhân tạo theo hướng lai nhóm bò Zebu (chủ yếu là giống Brahman), số ít là giống bò Senepol, Angus, Droughtmaster, BBB. Thể vóc, khối lượng, năng suất đàn bò sinh sản và bò thương phẩm cao hơn so với trước, phần lớn bò sinh sản có khối lượng đạt khoảng 250-300kg/con, cá biệt có bò đạt 450-500 kg/con (xã Hưng Hà, Quỳnh Phụ); khối lượng trâu, bò xuất chuồng trung bình đạt 320-350 kg/con.
Quý I năm 2026 tình hình chăn nuôi trên địa bàn tỉnh phát triển tương đối ổn định; không có địa phương nào báo cáo có trường hợp hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Tỉnh đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi trâu, bò thịt, đem lại hiệu quả kinh tế cao cho nông dân, cung ứng sản lượng thịt đáng kể cho hoạt động chế biến tại các thị trường trong và ngoài tỉnh.
Ước tính tại thời điểm 31/03/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.978 con, tăng 0,15%; đàn bò 84.472 con, tăng 1,90%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 999.592 con, tăng 2,33%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.607 nghìn con, tăng 2,71% (trong đó: đàn gà 17.493 nghìn con, tăng 2,90%) so với cùng thời điểm năm trước. Ước tính sản lượng thịt hơi xuất chuồng trong quý I năm 2026 như sau: thịt trâu 383 tấn, tăng 3,23% so với cùng kỳ năm trước; thịt bò 3.995 tấn, tăng 4,64%; thịt lợn 74.055 tấn, tăng 5,77%; thịt gia cầm (gà, vịt, ngan) 28.000 tấn, tăng 4,50% (trong đó: thịt gà 21.356 tấn, tăng 4,75%). Quý I năm 2026, sản lượng trứng gia cầm (gà, vịt, ngan) ước đạt 299.222 nghìn quả, tăng 5,76% (trong đó: sản lượng trứng gà 127.341 nghìn quả, tăng 5,04%; sản lượng sữa bò tươi 2.370 tấn, giảm 0,42% so với cùng kỳ năm trước.
b) Lâm nghiệp
Từ đầu năm đến nay, tình hình sản xuất lâm nghiệp của Hưng Yên không có biến động lớn. Diện tích rừng trồng mới tập trung, số vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá không phát sinh trong kỳ báo cáo.
Tháng Ba năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh ước đạt 474 nghìn cây, giảm 1,05% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng gỗ khai thác 564 m³, tăng 1,62%. Quý I năm 2026, số cây lâm nghiệp trồng phân tán toàn tỉnh ước đạt khoảng 493 nghìn cây, giảm 1,11% so với cùng kỳ năm trước. Cây lâm nghiệp trồng phân tán trên địa bàn tỉnh chủ yếu là cây lấy gỗ như bạch đàn, xoan và cây làm bóng mát như: keo, cây hoa sữa, cây sấu,... Bên cạnh đó, một số địa phương trong tỉnh đã thu hoạch gỗ và củi với sản lượng không đáng kể. Ước tính thu được: gỗ 1.495 m3, tăng 0,34%; củi 1.480 ste, giảm 0,80%.
c) Sản xuất thủy sản
Hiện nay, nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh phát triển mạnh trên cả 3 loại hình nước mặn, nước lợ, nước ngọt với đa dạng các phương thức (bãi triều, lồng bè, ao hồ), hình thức (bán thâm canh, thâm canh) và đối tượng nuôi mới, có giá trị kinh tế như: tôm thẻ chân trắng, tôm sú Moana, cá song, cá hồng Mỹ, cá lăng,... Trong đó, tôm sú, tôm thẻ là đối tượng nuôi chủ lực, ngao được xác định là đối tượng nuôi chính của tỉnh. Phương thức nuôi trồng thủy sản chuyển dịch mạnh từ quảng canh cải tiến sang thâm canh, bán thâm canh; trong đó trên 100 ha nuôi tôm thẻ chân trắng công nghệ cao và 4.000 ha nuôi thâm canh các đối tượng nước ngọt, nước lợ có giá trị kinh tế cao, kiểm soát dịch bệnh. Nuôi cá lồng trên sông tiếp tục được mở rộng và phát triển với nhiều đối tượng nuôi có giá trị kinh tế như cá lăng, chép, diêu hồng. Tỉnh đã làm chủ được quy trình, công nghệ các đối tượng như ngao, hàu, tôm sú, cua xanh, rô phi, cá truyền thống và một số loài cá đặc sản khác
Tổng sản lượng thủy sản quý I năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 87.387 tấn, tăng 3,77% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 42.846 tấn, tăng 3,82%; tôm 793 tấn, tăng 3,04%; thủy sản khác 43.747 tấn, tăng 3,73% so với cùng kỳ năm trước.
Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Ba ước đạt 9.907 tấn, tăng 3,71% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 6.082 tấn, tăng 3,63%; tôm 145 tấn, tăng 2,84%; thủy sản khác 3.680 tấn, tăng 3,87%. Ước tính quý I năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 27.782 tấn, tăng 3,83% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 17.284 tấn, tăng 3,98%; tôm 401 tấn, tăng 3,89%; thủy sản khác 10.097 tấn, tăng 3,58%.
Nuôi trồng thủy sản: Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Ba ước đạt 18.130 tấn, tăng 3,72% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 6.082 tấn, tăng 3,79%; tôm 118 tấn, tăng 3,51%; thủy sản khác 11.930 tấn, tăng 3,69%. Tính chung quý I năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 58.609 tấn, tăng 3,81% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 24.757 tấn, tăng 3,84%; tôm 326 tấn, tăng 3,19%; thủy sản khác 33.526 tấn, tăng 3,79%.
2. Sản xuất công nghiệp
a) Chỉ số sản xuất công nghiệp
Tỉnh Hưng Yên luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh đầu tư phát triển sản xuất; lãnh đạo UBND tỉnh thường xuyên nắm bắt tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tổ chức hội nghị gặp gỡ doanh nghiệp, lắng nghe và giải quyết các vướng mắc, thủ tục hành chính của doanh nghiệp kịp thời. Kết quả sản xuất công nghiệp tháng 3 và quý I năm 2026 như sau:
So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Ba tăng 22,61%, trong đó: khai khoáng tăng 5,02%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 19,79%; sản xuất và phân phối điện tăng 55,48%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 30,92%. Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 111,28%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 82,72%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 79,21%; máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 71,02%; sắt, thép các loại tăng 68,14%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi tăng 66,95%; điện sản xuất tăng 64,2%; khí tự nhiên dạng khí tăng 60%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 50,66%; Sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 62,04%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 60,89%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác tăng 225,31%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 12,01%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 62,58%;... Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm hoặc tăng thấp so với tháng trước như: nước tinh khiết giảm 37,76%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 13,98%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 0,70%; mạch in khác tăng 0,51%; Dây thép không gỉ giảm 6,52%; Đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi (CD, DVD,...) giảm 1,07%;
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Ba tăng 16,97%, trong đó: khai khoáng tăng 10,38%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 18,36%; sản xuất và phân phối điện tăng 5,36%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 14,91%. Một số sản phẩm có khối lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng gấp hơn 2 lần; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 53,85%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 51,62%; nitơrat Amoni tăng 23,44%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 22,32%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 20,01%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da tăng 16,98%; quần áo các loại tăng 16,17%; điện thương phẩm tăng 13,38%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 12,33%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có khối lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) giảm 11,57%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm giảm 5,84%; nước khoáng không có ga giảm 4,88%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 4,19%; mạch điện tử tích hợp giảm 1,68%; thức ăn cho gia cầm giảm 1,21%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 7,76%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 6,54%; aắt, thép không hợp kim cán phẳng có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác tăng 15,06%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 11,72%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 46,14;...
Chỉ số sản xuất công nghiệp tháng 3 và quý I năm 2025
ĐVT: %
T03.2026
3T.2026
T03.2025
3T.2025
Chung toàn ngành CN
116,97
114,54
Khai khoáng
110,38
110,65
Công nghiệp chế biến, chế tạo
118,36
116,16
SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng
105,36
102,51
Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải
114,91
105,10
Tính chung quý I năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 14,54% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy sản xuất công nghiệp của tỉnh tiếp tục có sự phục hồi và phát triển mạnh mẽ. Trong đó: khai khoáng tăng 10,65%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,16%; sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước tăng 2,51%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải tăng 5,10%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 35,74%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 35,07%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 29,65%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 25,22%; sản xuất trang phục tăng 24,81%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 22,64%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 19,92%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,45%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 13,39%; sản xuất kim loại tăng 13,08%;... Bên cạnh đó, có một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm như: in, sao chép bản ghi các loại giảm 312,79%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác giảm 9,75%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 9,71%; sản xuất đồ uống giảm 1,54%;……
Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong quý I năm nay tăng so với cùng kỳ năm trước như: loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 131,83%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 34,98%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 34,88%; mạch điện tử tích hợp tăng 33,52%: bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 21,54%; quần áo các loại tăng 19,32%; thức ăn cho gia cầm tăng 18,01%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ tăng 14,35%; mạch in khác tăng 13,64%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 5,69%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 18,84%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 15,81%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 25,98%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 36,68%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn tăng 29,19%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 24,53%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 13,34%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 9,28%; nước khoáng không có ga giảm 8,27%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 6,82%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 2,24%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 0,92%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) giảm 0,86%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 8,81%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng có chiều rộng ≥ 600mm, được mạ hoặc tráng kẽm bằng phương pháp khác giảm 7,57%;...
Trong quý I năm 2026, nhiều doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH thương mại và CN Mỹ Việt sản phẩm sản xuất tăng 13,64%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 17,55%; Công ty Tôn Vikor tăng 173,38%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 2,5%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 49,48%; Công ty TNHH Kết cấu thép Cơ khí Xây dựng tăng 16,95%; Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu May Anh Vũ tăng 18,88%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 38,09%; Công ty Cổ phần May Hưng Việt tăng 35,75%; Công ty TNHH Foremart Việt Nam tăng 13,45%; Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 63,24%; Xí nghiệp May Thái Bình tăng 33,95%; Công ty TNHH TAV tăng 19,12%; Công ty TNHH P S Vina tăng 32,04%; Công ty TNHH May Niên Hsing Việt Nam tăng 62,79%; Công ty TNHH Ivory Việt Nam tăng 20,0 %; Công ty TNHH Tân Đệ - Chi nhánh Thái Bình tăng 32,25%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 19,46%; Công ty Cổ phần Thép Việt Ý tăng 7,29%; Công ty TNHH Thép Nhật Quang tăng 11,72%; Công ty TNHH Thép Gia Anh tăng 32,36%; Công ty TNHH Thép Chính Đại tăng 46,14%; Chi nhánh Ống thép Hoà Phát tăng 24,52%; Công ty Cổ phần Ống đồng Toàn Phát tăng 11,98%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 6,54%; TNHH LTD Đức Mạnh tăng 6,78%; Công ty TNHH Giấy và Bao bì Hưng Hà Hưng Yên tăng 29,46%; Công ty TNHH Chung Phát tăng 59,11%; Công ty Cổ phần Tập đoàn Minh Tâm tăng 14,84%; Công ty Cổ phần Ngọc Diệp tăng 5,92%; Công ty TNHH Phúc Kiên tăng 49,83%; Công ty TNHH Hsin Yue Hsing tăng 17,67%; Công ty Hà Phương tăng 16,67%; Công ty TNHH Bao bì Hương Sen tăng 6,43%; Công ty Cổ phần Liên doanh Kangaroo quốc tế tăng 60,59%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec tăng 25,0%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 30,42%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 19,83%; Công ty TNHH Greenworks tăng 58,13%; Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 8,99%; Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam - Chi nhánh Hưng Yên tăng 10,34%; Công ty TNHH Minh Hiếu tăng 9,37%; Công ty Cổ phần Mavin Austfeed tăng 22,22%; Công ty TNHH Lạc Hồng tăng 11,64%; Công ty TNHH Cargill Việt Nam tại Hưng Yên - Chi nhánh Hưng Yên tăng 16,65%; Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Quốc tế Đài Loan tăng 46,22%; Công ty TNHH Dây và Cáp điện Ngọc Khánh tăng 25,36%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 22,32%; Công ty TNHH Dây cáp điện Sumiden Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 10,82%; Công ty TNHH Sews - Components Việt Nam tăng 58,06%; Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát tăng 33,33%.
Một số doanh nghiệp có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 14,29%; Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 1,43%; Công ty TNHH Giày VICTORY Việt Nam giảm 0,85%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ giảm 0,71%; Công ty TNHH Sao Vàng -Chi nhánh tại Quỳnh Phụ Thái Bình tăng 49,82%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ tăng 3,26%; Công ty TNHH JEWELRY Khan giảm 27,93%; Công ty TNHH Kỹ thuật Hoạt hình FIRSTunion Việt Nam giảm 10,57%; Công ty TNHH Nhựa Cotec giảm 1,18%.
b) Chỉ số sử dụng lao động
Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Ba toàn ngành tăng 6,09% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 2,01%. cộng dồn 3 tháng tăng 5,29% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 2,01%. Chỉ số sử dụng lao động tháng 3 tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện rất ổn định và có sự phát triển khá. Có những ngành, những doanh nghiệp gặp thuận lợi phát triển tốt trong SXKD và ngược lại, do đó mà chỉ số sử dụng lao động có biến động rất lớn giữa các ngành.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong quý I năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 34,36%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 27,82%; công nghiệp chế biến, chế tạo khác tăng 26,86%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 24,34%; sản xuất đồ uống tăng 20,53%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 17,45%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 7,24%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 5,80%; dệt giảm 5,03%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 3,76%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 2,19%;...
c) Xu hướng sản xuất kinh doanh
Theo đánh giá của các doanh nghiệp ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD) quý I/2026 gặp khó khăn hơn so với quý IV/2025 với 21,22% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD sẽ tốt hơn; 48,84% ổn định và có tới 29,94% doanh nghiệp đánh giá khó khăn hơn. Dự báo tình hình SXKD quý II/2026 có nhiều thuận lợi so với quý I/20266, với 43,60% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD sẽ tốt hơn; có tới 42,15% đánh giá ổn định và chỉ có 14,24% doanh nghiệp đánh giá hoạt động SXKD khó khăn hơn.
3. Hoạt động đầu tư, xây dựng
a) Thực hiện vốn đầu tư
Sau hợp nhất hai tỉnh Hưng Yên cũ và tỉnh Thái Bình (ngày 01/7/2025), trọng tâm phát triển kinh tế của tỉnh trước hết là mở rộng không gian phát triển, coi hạ tầng đi trước một bước là điều kiện tiên quyết để khơi thông nguồn lực. Năm 2025, tỉnh khởi động hàng loạt dự án hạ tầng chiến lược, tạo nền móng cho giai đoạn 2025 - 2030 phát triển mạnh mẽ. Nổi bật, tuyến đường từ phường Thái Bình đi xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến được đầu tư, là trục giao thông chiến lược, liên kết các khu công nghiệp, khu đô thị và trung tâm kinh tế trọng điểm của tỉnh, rút ngắn khoảng cách địa lý và hình thành hành lang phát triển công nghiệp - logistics - dịch vụ mới. Cùng với đó, tuyến đường ven sông Hồng dài gần 56km, đạt tiêu chuẩn đường cấp II đồng bằng, đóng vai trò kết nối liên vùng Hà Nội - Hưng Yên - Ninh Bình, mở ra dư địa phát triển kinh tế, đô thị, dịch vụ và du lịch dọc trục sông, gia tăng khả năng liên kết vùng Thủ đô. Các dự án như Trump International Hưng Yên; Nhà máy Nhiệt điện LNG Thái Bình; cảng hàng lỏng Ba Lạt; sân golf Cồn Vành, tổ hợp sân vận động PVF sức chứa 60.000 chỗ;... được khởi công, góp phần định hình hệ sinh thái hạ tầng đồng bộ, đa lĩnh vực. Song song với đầu tư hạ tầng, tỉnh chuyển mạnh tư duy thu hút đầu tư từ số lượng sang chất lượng, coi hoàn thiện thể chế và môi trường đầu tư là khâu đột phá. Đặc biệt, ngày 13/3/2026, Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2025-2030 đã tổ chức Hội nghị và thống nhất thông qua Đề án thành lập Khu kinh tế tự do Hưng Yên. Đây được xem là bước đột phá quan trọng về thể chế, không gian và cơ chế phát triển, mở ra dư địa để thu hút các dòng vốn chất lượng cao, tạo động lực tăng trưởng mới.
Vốn đầu tư thực hiện trên địa bàn tỉnh quý I/2026
ĐVT: tỷ đồng
Quý I
năm 2025
Ước tính
quý I
năm 2026
So sánh QI/2026 với QI/2025
(%)
TỔNG SỐ
29.205
35.636
122,02
I. Phân theo nguồn vốn
1. Vốn nhà nước
7.497
8.920
118,98
2. Vốn ngoài nhà nước
16.947
20.797
122,72
3. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
4.761
5.919
124,32
II. Phân theo khoản mục đầu tư
1. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản
19.476
26.027
133,64
2. Vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua XDCB
4.512
1.674
37,10
3. Vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ
4.521
4.537
100,34
4. Vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động
691
3.398
491,70
5. Vốn đầu tư khác
5
0,12
2,31
Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội trên địa bàn tỉnh đạt 35.636 tỷ đồng, tăng 22,02% so với cùng kỳ năm trước. Phân theo nguồn vốn như sau: vốn nhà nước 8.920 tỷ đồng, tăng 18,98%; vốn ngoài nhà nước 20.797 tỷ đồng, tăng 22,72%; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài 5.919 tỷ đồng, tăng 24,32%. Phân theo khoản mục đầu tư: vốn đầu tư xây dựng cơ bản 26.027 tỷ đồng, tăng 33,64%; vốn đầu tư mua sắm tài sản cố định dùng cho sản xuất không qua XDCB 1.674 tỷ đồng, giảm 62,90%; vốn đầu tư sửa chữa lớn, nâng cấp TSCĐ 4.537 tỷ đồng, tăng 0,34%; vốn đầu tư bổ sung vốn lưu động 3.398 tỷ đồng, tăng 391,70%; vốn đầu tư khác 0,12 tỷ đồng, giảm 97,69%.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý tháng Ba năm 2026 ước đạt 3.210 tỷ đồng, tăng 43,69% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.898 tỷ đồng, tăng 51,50%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.312 tỷ đồng, tăng 33,73%. Quý I năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước do địa phương ước đạt 7.739 tỷ đồng, tăng 19,07% so với cùng kỳ năm trước và đạt 17,98% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 4.488 tỷ đồng, tăng 27,83%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 3.251 tỷ đồng, tăng 8,77%.
Hoạt động đầu tư nước ngoài: Tính đến ngày 27/3/2026, toàn tỉnh có 973 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký đạt 17.441 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: Thứ nhất là Nhật Bản có 200 dự án, vốn đăng ký là 6.315,31 triệu USD, chiếm 36,11% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 372 dự án, vốn đăng ký 4.502,45 triệu USD, chiếm 25,82% tổng vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 212 dự án, vốn đăng ký 2.303,23 triệu USD, chiếm 13,21% tổng số vốn đăng ký.
b) Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/02/2026 đến ngày 21/3/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 461 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 1.993 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 3.338 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 86 doanh nghiệp, sử dụng 488 lao động, vốn đăng ký 549 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 197 doanh nghiệp, sử dụng 713 lao động, vốn đăng ký 697 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 20 doanh nghiệp, sử dụng 114 lao động, vốn đăng ký 1.507 tỷ đồng; vận tải kho bãi 41 doanh nghiệp, sử dụng 147 lao động, vốn đăng ký 187 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 20 doanh nghiệp, sử dụng 91 lao động, vốn đăng ký 72 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 9 doanh nghiệp, sử dụng 33 lao động, vốn đăng ký 25 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 7 doanh nghiệp, sử dụng 33 lao động, vốn đăng ký 10 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/3/2026, toàn tỉnh có 1.534 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 12.399 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 11.640 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 694 doanh nghiệp, sử dụng 2.587 lao động, vốn đăng ký đạt 2.251 tỷ đồng (chiếm 19,34% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 299 doanh nghiệp, sử dụng 7.078 lao động, vốn đăng ký đạt 3.013 tỷ đồng (chiếm 25,88%); xây dựng 128 doanh nghiệp, sử dụng 603 lao động, vốn đăng ký 814 tỷ đồng (chiếm 6,99%); hoạt động vận tải, kho bãi 114 doanh nghiệp, sử dụng 386 lao động, vốn đăng ký 650 tỷ đồng (chiếm 5,59%); giáo dục và đào tạo 25 doanh nghiệp, sử dụng 110 lao động, vốn đăng ký 45 tỷ đồng (chiếm 0,38%); kinh doanh bất động sản 52 doanh nghiệp, sử dụng 618 lao động, vốn đăng ký 4.028 tỷ đồng (chiếm 34,61%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 58 doanh nghiệp, sử dụng 212 lao động, vốn đăng ký 124 tỷ đồng (chiếm 1,07%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 46 doanh nghiệp, sử dụng 199 lao động, vốn đăng ký 124 tỷ đồng (chiếm 1,07%);...
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Ba (tính từ ngày 22/02/2026 đến ngày 21/3/2026) là 39 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/3/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 319 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/02/2026 đến ngày 21/3/2026, số doanh nghiệp giải thể là 76 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 73 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/3/2026, toàn tỉnh có 264 doanh nghiệp giải thể và 946 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 57 doanh nghiệp giải thể và 233 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 21,59% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,63% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 87 doanh nghiệp giải thể và 331 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 32,95% và 34,99%; kinh doanh bất động sản có 16 doanh nghiệp giải thể và 22 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,06% và 2,33%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 9 doanh nghiệp giải thể và 44 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,41% và 4,65%; giáo dục và đào tạo có 28 doanh nghiệp giải thể và 18 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 10,61% và 1,90%;...
c) Hoạt động xây dựng
Đầu năm 2026, tỉnh Hưng Yên có 23 khu công nghiệp (KCN) được thành lập với tổng diện tích gần 5.900 ha và quy hoạch thêm 114 cụm công nghiệp. Ngay từ những ngày đầu năm 2026, tỉnh đặt mục tiêu thành lập mới thêm 5 - 8 KCN và đẩy mạnh xây dựng hạ tầng kỹ. Hưng Yên phấn đấu thành lập mới từ 5 - 8 KCN và giải phóng mặt bằng tối thiểu 1.000 ha để thu hút đầu tư, tập trung phát triển công nghiệp xanh và công nghệ cao. Phần lớn các khu, cụm công nghiệp này được quy hoạch đồng bộ, hạ tầng kỹ thuật hiện đại, tích hợp các điều kiện thuận lợi về giao thông, từ đó tạo môi trường hấp dẫn thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến khảo sát và triển khai dự án sản xuất kinh doanh trên địa bàn tỉnh. Song song với phát triển hạ tầng công nghiệp, lĩnh vực phát triển nhà ở cũng ghi nhận nhiều chuyển biến tích cực. Thị trường bất động sản Hưng Yên bùng nổ với các dự án nhà ở lớn, tập trung vào phân khúc cao cấp và nhà ở xã hội (NOXH). Các dự án trọng điểm bao gồm: Masteri Era Landmark; Vinhomes Ocean Park 2&3; Khu đô thị Phố Nối; cùng các dự án NOXH mới tại Phố Hiến và các cụm công nghiệp;... Các dự án này đang trong quá trình đẩy mạnh thi công và đầu tư, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các khu đô thị hiện đại, góp phần chuyển dịch cơ cấu đô thị hóa và thúc đẩy phát triển ngành xây dựng tại địa phương.
Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng quý I/2026 (theo giá so sánh 2020) toàn tỉnh ước đạt 22.203 tỷ đồng, tăng 2.975 tỷ đồng (tăng 15,47%) so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công trình nhà ở 10.608 tỷ đồng, tăng 1.744 tỷ đồng (tăng 19,67%); công trình nhà không để ở 3.510 tỷ đồng, tăng 465 tỷ đồng (tăng 15,29%); công trình kỹ thuật dân dụng 6.629 tỷ đồng, tăng 593 tỷ đồng (tăng 9,83%); hoạt động xây dựng chuyên dụng 1.456 tỷ đồng, tăng 172 tỷ đồng (tăng 13,38%);...
Tổng giá trị sản xuất ngành xây dựng theo giá hiện hành quý I năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 29.901 tỷ đồng. Trong đó: công trình nhà ở 14.513 tỷ đồng; công trình nhà không để ở 4.802 tỷ đồng; công trình kỹ thuật dân dụng 9.069 tỷ đồng; hoạt động xây dựng chuyên dụng 1.515 tỷ đồng.
Các dự án trọng điểm được triển khai trong quý 1/2026 như sau: Dự án tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng (tại Hưng Yên) có tổng vốn đầu tư gần 9.300 tỷ đồng. Đây là dự án giao thông nhóm A, dài hơn 55 km, đi qua 13 xã, phường và được khởi công từ tháng 8/2025, dự kiến hoàn thành vào năm 2027. Đến đầu tháng 3/2026, dự án cơ bản hoàn thành giải phóng mặt bằng (GPMB) đất nông nghiệp, đất công ích, di chuyển mồ mả, đủ điều kiện bàn giao cho chủ đầu tư để tổ chức thi công với chiều dài tuyến 48,2km, diện tích 254,55ha.
Khu phức hợp đô thị, du lịch sinh thái, sân golf Khoái Châu (Hưng Yên) là siêu dự án trị giá hơn 1,5 tỷ USD ( 39.700 tỷ đồng), được đầu tư bởi Tập đoàn Trump (Trump Organization) và đối tác Việt Nam. Dự án có diện tích hơn 888-990 ha, tập trung tại các xã Châu Ninh, Khoái Châu, Chí Minh, Tứ Dân, Tân Châu, Đông Kết, Đông Ninh. Dự án được chia làm 4 tiểu khu, gồm: Khu dân cư sinh thái gắn với sân golf cao cấp (quy mô dân số 3.500 người); khu dân cư sinh thái gắn với sân golf sinh thái (quy mô dân số 1.800 người), khu đô thị thương mại dịch vụ (quy mô dân số 29.700 người); khu cây xanh, công viên chuyên đề.
Dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng khu công nghiệp Hưng Phú với diện tích 209,08 ha, tổng vốn đầu tư 1.940 tỷ đồng. Khu công nghiệp Hưng Phú nằm trong Khu kinh tế Thái Bình (cũ) có vị trí chiến lược với lợi thế kết nối vượt trội khi tiếp giáp với vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh; hệ thống hạ tầng giao thông kết nối thuận lợi với các tỉnh, thành phố lớn trong khu vực như: tuyến đường cao tốc CT.08, tuyến đường bộ ven biển từ Quảng Ninh đến Thanh Hóa. Vị trí này không chỉ giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận cảng biển lớn nhất miền Bắc và các sân bay quốc tế, mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương hàng hóa và phát triển dịch vụ logistics.
Dự án Nhà máy Nhiệt điện LNG Thái Bình là một dự án điện khí quy mô lớn, với tổng vốn đầu tư hơn 47.000 tỷ đồng. Dự án đã chính thức được khở công xây dựng vào quý III năm 2025 tại xã Thái Đô, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình (cũ) và vận hành thương mại trước năm 2030, có công suất 1.500MW, sử dụng LNG nhập khẩu làm nhiên liệu chính và dầu diesel làm nhiên liệu phụ. Dự án này không chỉ góp phần đảm bảo an ninh năng lượng cho miền Bắc mà còn là dự án FDI lớn nhất của tỉnh Thái Bình (cũ), thúc đầy phát triển kinh tế xã hội và thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Dự án hứa hẹn sẽ cung cấp nguồn năng lượng sạch và ổn định, góp phần vào sự phát triển bền vững của khu vực và đất nước.
Dự án xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình quy mô 1.200 giường, có thể mở rộng lên 1.500 giường, đã được khởi công vào ngày 19/8/2025, trên khu đất 12 ha tại khu Trung tâm Y tế tỉnh, phường Trần Lãm. Dự án bao gồm nhiều hạng mục công trình chính, phụ trợ và hạ tầng kỹ thuật, với tổng vốn đầu tư dự kiến ban đầu khoảng 2.733 tỷ đồng và có thể lên tới gần 4.700 tỷ đồng khi hoàn thiện đầy đủ cả trang thiết bị. Dự án này là một công trình y tế trọng điểm, nhằm giải quyết tình trạng quá tải, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe và góp phần hoàn thiện mạng lưới y tế tỉnh
Dự án tuyến đường từ thành phố Thái Bình (cũ) kết nối với trung tâm tỉnh Hưng Yên là dự án giao thông trọng điểm của tỉnh, góp phần hoàn thiện hạ tầng, thúc đẩy liên kết vùng, tạo hành lang kinh tế mới kết nối các khu công nghiệp, đô thị trong và ngoài tỉnh; Dự án này được triển khai trên địa bàn TP. Thái Bình, huyện Vũ Thư, huyện Đông Hưng và huyện Hưng Hà (nay là phường Thái Bình, xã Nam Tiên Hưng, xã Tiên Hưng, xã Hồng Minh, xã Hưng Hà, xã Tiên La và xã Ngự Thiên, tỉnh Hưng Yên).Tuyến có điểm đầu (Km0+00) tại nút giao giữa đường vào Khu công nghiệp TBS Sông Trà với Quốc lộ 10 (tuyến tránh S1), thuộc địa phận phường Thái Bình; điểm cuối Km24+800 tại đầu cầu vượt sông Luộc, thuộc địa phận xã Ngự Thiên với tổng chiều dài là 24,8 km. Tiến độ thực hiện Dự án là từ năm 2025 đến năm 2028 bằng nguồn Ngân sách trung ương hỗ trợ, ngân sách tỉnh.
Dự án đầu tư xây dựng khu Bến cảng hàng lỏng Ba Lạt, tổng vốn đầu tư 278 tỷ đồng. Được khởi công tháng 6/2025 tại xã Nam Phú huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình (cũ). Dự án bao gồm một bến chuyên dụng tiếp nhận tàu trọng tải đến 3.000 tấn, hệ thống kho bãi chứa hàng hóa lỏng như xăng dầu, hóa chất; hệ thống tiếp nhận, trung chuyển và đường ống công nghệ hiện đại, cùng các công trình kỹ thuật phụ trợ và hạ tầng giao thông kết nối trực tiếp với đường bộ ven biển và các khu công nghiệp trọng điểm. Dự án hoàn thành vào quý III/2026
4. Thương mại, dịch vụ
Quý I năm 2026, hoạt động thương mại, dịch vụ toàn tỉnh diễn ra sôi động do trong quý có Tết Nguyên đán Bính Ngọ. Hiện hàng hóa lưu thông qua kênh bán lẻ truyền thống như chợ và cửa hàng nhỏ lẻ vẫn chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, với xu hướng giảm dần số lượng chợ truyền thống, đồng thời các doanh nghiệp bán lẻ tiếp tục đầu tư mở rộng hệ thống siêu thị, cửa hàng tiện lợi, minimart và nền tảng thương mại điện tử thì dự báo các kênh bán lẻ hiện đại sẽ tăng mạnh trong thời gian tới. Tỉnh cũng đã triển khai đồng bộ các giải pháp bảo đảm chất lượng hàng hóa và dịch vụ, minh bạch thông tin thị trường, tăng cường bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống gian lận thương mại, khuyến khích tiêu dùng hàng Việt có giá trị gia tăng cao. Đồng thời, tập trung phát triển thương mại điện tử bền vững, gắn với tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn dữ liệu và quản lý giao dịch trực tuyến. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 03 năm 2026 tỉnh Hưng Yên ước đạt 27.899 tỷ đồng, tăng 1,95% so với tháng trước và tăng 17,97% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung quý I năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 82.942 tỷ đồng, tăng 16,65% so với cùng kỳ năm trước và tăng trưởng khá ở hầu hết các nhóm ngành, lĩnh vực. Cụ thể như sau:
Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội
tháng Ba và quý I năm 2026
(theo giá hiện hành)
T3.2026
Quý I.2026
T3.2026
T3.2025
Quý I.2026
Quý I.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
(%)
Tổng số
27.899
82.942
117,97
116,65
Thương nghiệp
15.203
44.878
116,86
117,52
DV lưu trú, ăn uống
1.250
3.681
116,34
115,41
DV du lịch lữ hành
6
19
107,50
111,52
Dịch vụ khác
11.440
34.364
119,67
115,68
Bán lẻ hàng hóa
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Ba ước đạt 15.203 tỷ đồng, chiếm 54,49% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội, tăng 1,15% so với tháng trước và tăng 16,86% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 28,69%; hàng may mặc tăng 13,04%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 6,61%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 41,82%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,22%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 26,73%; xăng, dầu các loại tăng 22,68%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 34,65%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 34,37%; hàng hóa khác tăng 18,52%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 35,19%. Bên cạnh các nhóm hàng tăng cũng có nhóm hàng giảm là nhóm phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) giảm 16,72%; gỗ và vật liệu xây dựng giảm 7,22% so cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 44.878 tỷ đồng, tăng 17,52% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 24,71%; hàng may mặc tăng 21,14%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 7,69%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 29,00%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 4,48%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 16,87%; xăng dầu các loại tăng 21,39%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 25,79%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 46,44%; hàng hóa khác tăng 18,15%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 26,86%.
Dịch vụ lưu trú, ăn uống
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Ba năm 2026 ước đạt 1.250 tỷ đồng, tăng 1,77% so với tháng trước và tăng 16,34% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 3.681 tỷ đồng, tăng 15,41% so cùng kỳ năm trước. Trong đó: dịch vụ lưu trú 107 tỷ đồng, tăng 13,51%; dịch vụ ăn uống 1.214 tỷ đồng, tăng 15,47%. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống trên địa bàn tỉnh trong ba tháng đầu năm tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng ổn định, tạo tiền đề thuận lợi cho các tháng tiếp theo khi nhu cầu du lịch và tham quan tiếp tục gia tăng.
Dịch vụ du lịch, lữ hành
Doanh thu dịch vụ du lịch và lữ hành tháng Ba ước đạt 6,4 tỷ đồng, tăng 0,56% so với tháng trước và tăng 7,50% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung quý I năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 19 tỷ đồng, tăng 11,52% so cùng kỳ năm trước. Các tháng đầu năm mới, hoạt động du lịch tâm linh diễn ra sôi động, khi lượng khách đến tham quan, lễ bái tại các chùa, đền, di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh tăng trong dịp đầu năm. Tuy nhiên, đặc thù du lịch tại Hưng Yên chủ yếu là khách đi về trong ngày, quy mô tour chưa lớn. Việc tỉnh chủ trương đẩy mạnh triển khai các định hướng phát triển du lịch, tăng cường quảng bá, xúc tiến du lịch văn hóa - tâm linh cũng góp phần thu hút khách và hỗ trợ hoạt động lữ hành.
Dịch vụ khác
Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Ba năm 2026 ước đạt 11.440 tỷ đồng, tăng 3,06% so với tháng trước và tăng 19,67% so cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 10.125 tỷ đồng tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 20,55% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 459 tỷ đồng, tăng 6,68% so với tháng trước và tăng 13,54% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 195 tỷ đồng, tăng 9,08% so với tháng trước và tăng 14,70% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 259 tỷ đồng, tăng 11,13% so với tháng trước và tăng 10,66% so với cùng kỳ; dịch vụ nghệ thuật vui chơi và giải trí ước đạt 68 tỷ đồng giảm 2,18% so với tháng trước và tăng 13,42%; dịch vụ khác ước đạt 332 tỷ đồng, tăng 1,32% so với tháng trước và tăng 14,28% so với cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2026 doanh thu dịch vụ khác ước đạt 34.364 tỷ đồng, tăng 15,68% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,78% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,31% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 10,86%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 10,01%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 11,35%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 13,92%; dịch vụ khác tăng 10,42%. Sau thời gian nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, các ngành dịch vụ và thị trường bất động sản đã hoạt động trở lại và có xu hướng tăng trưởng khá. Đặc biệt, đối với ngành kinh doanh bất động sản, các hoạt động giao dịch, giới thiệu sản phẩm và triển khai dự án đã dần sôi động hơn khi thị trường bước vào chu kỳ hoạt động bình thường, một số dự án quy mô lớn tiếp tục thu hút sự quan tâm như: Vinhomes Ocean Park 2; Vinhomes Ocean Park 3; khu đô thị Ecopark; Alluvia City; Centerville;... góp phần bổ sung nguồn cung và kích thích nhu cầu thị trường.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, đặc biệt xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông làm gia tăng rủi ro đối với ổn định kinh tế toàn cầu, tác động lớn đến giá năng lượng và chuỗi cung ứng. Giá xăng dầu tăng mạnh đã tác động làm tăng chi phí sản xuất, vận chuyển hàng hóa dẫn đến giá nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu tăng, góp phần làm chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng so với tháng trước và tăng so với cùng kỳ năm trước.
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Ba tăng 1,24%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%; đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,02%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,25%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,05%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,01%; giao thông tăng 13,60%; thông tin và truyền thông tăng 0,25%; giáo dục tăng 0,05%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,14%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,03%.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 0,17%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 0,61%, chủ yếu do chỉ số giá nhóm gạo tăng 0,90% so với tháng trước (gạo tẻ thường tăng 0,88%; gạo tẻ ngon tăng 1,07%; gạo nếp tăng 0,32%); chỉ số giá nhóm bún, phở, bánh đa tăng 0,33% do do ảnh hưởng từ giá gạo tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 0,06% do: Nhóm thịt gia súc tăng 1,00% (trong đó nhóm thịt lợn tăng 1,12%; thịt bò tăng 0,65%); nhóm thịt chế biến tăng 0,32%; nhóm dầu mỡ ăn và chất béo khác tăng 0,14% do giá thịt thương phẩm tăng.
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 0,30%, nguyên nhân chủ yếu do giá một số mặt hàng như nước khoáng có ga; nước quả ép; nước đóng chai; rượu mạnh; rượu vang; thuốc lá; thuốc lào tăng so với tháng trước do sự điều chỉnh giá của nhà sản xuất.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,25%, chủ yếu do: giá dầu hỏa tăng mạnh 63,63% theo điều chỉnh giá của Bộ Công thương vào các ngày trong tháng; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 1,23% tăng ở các mặt hàng các đen san lấp, cát vàng xây dựng,... giá điện sinh hoạt tăng 0,26%; giá nước sinh hoạt tăng 0,62%.
Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 13,60%, chủ yếu do nhóm phương tiện đi lại và giá xăng, dầu tăng mạnh. Giá xăng, dầu trong tháng tăng theo các kỳ điều chỉnh, do ảnh hưởng của giá nhiên liệu thế giới tăng. Việc giá xăng, dầu tăng mạnh đã tác động trực tiếp làm chi phí đi lại và vận chuyển hàng hóa tăng, dẫn đến chỉ số giá nhóm giao thông tăng so với tháng trước. Trong tháng 3/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 09 đợt vào các ngày 05/3; 10/3; 11/3; 12/3; 17/3; 19/3; 24/3; 25/3 và 27/3. Theo đó giá nhiên liệu tăng mạnh 25,15%; giá xăng tăng 25,37%; giá dầu diesel 0,05 tăng 63,91%.
Nhóm thông tin và truyền thông tăng 0,25%, chủ yếu do nhóm thiết bị thông tin tăng 0,26% (các mặt hàng ti vi, máy tính, máy chiếu,... tăng giá).
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,14%, chủ yếu do giá các dịch vụ du lịch trọn gói trong và ngoài nước tăng do nhu cầu đi du lịch tăng; chỉ số giá in ảnh, chụp ảnh tăng 3,69%; chỉ số giá thiết bị dụng cụ thể thao tăng 0,18%; chỉ số giá giải trí tăng 0,28%.
So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 2,57%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,20%; đồ uống và thuốc lá tăng 3,29%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,72%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,26%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,66%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,07%; giao thông tăng 12,15%; thông tin và truyền thông tăng 0,59%; giáo dục tăng 0,11%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 1,12%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,21%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Ba tăng 4,16%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,69% (lương thực tăng 0,73%; thực phẩm tăng 5,11%; ăn uống ngoài gia đình tăng 6,08%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,30%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,36%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 5,02%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,11%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,20%; giao thông tăng 10,78%; thông tin và truyền thông tăng 0,85%; giáo dục tăng 1,26%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,31%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,03%.
Bình quân chung quý I năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 3,00% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,22%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,89%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,14%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,65%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,96%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; giao thông tăng 0,36%; thông tin và truyền thông tăng 0,59%; giáo dục tăng 1,19%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,21%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,90%.
Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân quý I năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,72% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt, trứng, thủy sản và rau củ có xu hướng tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng phục hồi; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,96% do giá các loại lương thực, thực phẩm, chi phí điện nước, nhiên liệu, chi phí thuê nhân công, chi phí thuê mặt bằng tăng cao dẫn đến giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,65% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê và các loại nhà chủ sở hữu tính quy đổi tăng 5,26%; giá các loại vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 11,44% so với cùng kỳ. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước, do giá dịch vụ khám chữa bệnh được điều chỉnh theo lộ trình và khung giá quy định của Nhà nước nhằm từng bước tính đúng, tính đủ chi phí. Bên cạnh đó, chi phí đầu vào phục vụ hoạt động y tế như nhân công, trang thiết bị, vật tư y tế và chi phí vận hành cơ sở khám chữa bệnh tăng, góp phần làm giá dịch vụ y tế tăng so với cùng kỳ. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,83% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa đông, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 3,21% so với cùng kỳ, do giá các loại như hoa tươi, cây cảnh, vật cảnh, giá vé xem phim ca nhạc và các trò chơi, giá vé du lịch trọn gói, giá khách sạn tăng.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 3/2026 tăng 1,42% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá vàng thế giới. Trong nước, chênh lệch cung - cầu vàng miếng vẫn ở mức cao, cùng với tâm lý nắm giữ vàng của người dân tăng, khiến giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến chung của thị trường. Hiện giá vàng đang ở mức cao nhất trong mấy năm trở lại đây, bình quân tháng 3/2026 giá vàng xấp xỉ 18.143.000 VNĐ/chỉ.
Tháng 3/2026, tỷ giá USD trong nước biến động tăng theo xu hướng tăng của đồng USD trên thị trường quốc tế. Nguyên nhân chủ yếu do căng thẳng địa chính trị leo thang tại Trung Đông làm tăng nhu cầu trú ẩn an toàn vào USD, đồng thời giá năng lượng tăng mạnh gây áp lực lên tỷ giá USD. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 3/2026 tăng 0,93% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1USD xấp xỉ 26.230 VNĐ.
c) Chỉ số giá sản xuất
Chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Ba giảm 0,95% so với tháng trước và tăng 1,43% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan giảm 1,17% và tăng 0,99%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp giảm 8,04% và tăng 49,78%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 0,30% và tăng 3,50%. So với tháng trước, chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu tháng Ba năm 2026 như sau: thóc khô giảm 0,26%; ngô giảm 0,19%; khoai tây giảm 2,32%; lạc giảm 0,22%; rau lấy lá giảm 0,53%; rau họ đậu giảm 1,31%; rau lấy củ, lấy rễ, lấy thân giảm 0,82%; hoa các loại giảm 3,08%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới giảm 3,95%; cam, quýt và các loại quả có múi giảm 0,28%; nhãn, vải chôm chôm tăng 0,91%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 5,36%; sản phẩm chăn nuôi trâu bò giảm 0,26%; lợn giảm 2,96%; sản phẩm chăn nuôi gà giảm 0,51%; cá ngừ tăng 1,44%; cá thu tăng 1,71%; cá nục tăng 2,52%; tôm khai thác biển tăng 0,88%; cá khai thác nội địa giảm 0,25%; tôm khai thác nội địa tăng 0,90%;...
Quý I năm 2026, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 1,37% so với quý trước và tăng 0,97% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp và dịch vụ có liên quan tăng 1,21% và tăng 0,67%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 30,43% và tăng 40,75%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 2,03% và tăng 2,36%. Chỉ số giá một số mặt hàng chủ yếu quý I năm 2026 so với quý trước như sau: thóc khô tăng 0,39%; ngô tăng 1,32%; khoai tây giảm 2,93%; lạc tăng 1,46%; rau lấy lá giảm 1,65%; rau họ đậu tăng 1,01%; hoa các loại tăng 3,27%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 10,43%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 2,03%; lợn tăng 5,50%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 3,89%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 2,98%; cá khai thác nội địa tăng 0,67%; tôm khai thác nội địa tăng 1,34%; cá nuôi nội địa tăng 2,76%; tôm nuôi nội địa tăng 4,55%;...
Chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Ba năm 2026 tăng 0,57% so với tháng trước và tăng 1,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,56% và tăng 2,05%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,22% và giảm 3,00%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,08% và tăng 0,88%. So với tháng trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 0,91%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 0,77%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 1,00%; sản phẩm may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) tăng 1,96%; giày dép tăng 0,61%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 7,67%; dịch vụ liên quan đến in tăng 1,28%; sản phẩm vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 3,29%; sản phẩm gang, sắt thép tăng 1,28%; băng đĩa từ tính và quang học tăng 5,26%; pin và ắc quy tăng 22,29%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 4,26%; điện sản xuất tăng 3,35%; điện mặt trời tăng 5,29%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 2,21%;... Bên cạnh đó một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: cà phê giảm 9,23%; sợi giảm 0,85%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác giảm 1,68%; trang phục dệt, kim, đan, móc giảm 0,81%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 1,57%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 4,42%; plastic và cao su dạng tổng hợp nguyên sinh giảm 1,81%; sản phẩm hóa chất khác chưa phân vào đâu giảm 0,82%; sản phẩm điện tử dân dụng giảm 0,78%;...
Quý I năm 2026, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tăng 0,30% so với quý trước và tăng 1,91% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 0,28% và tăng 1,96%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,29% và tăng 0,61%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,36% và tăng 0,56%. So với quý trước, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,24%; thực phẩm khác chưa được phân vào đâu tăng 1,60%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,87%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 3,42%; dịch vụ liên quan đến in tăng 3,76%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 4,08%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 2,56%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 11,92%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 3,63%; pin và ắc quy tăng 10,43%; dây, cáp điện và điện tử tăng 18,63%; thiết bị dây dẫn điện các loại tăng 3,14%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,85%; mô tô, xe máy tăng 3,89%; điện sản xuất tăng 7,82%; điện mặt trời tăng 8,90%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 1,04%; nước tự nhiên khai thác tăng 2,58%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: đồ uống không cồn, nước khoáng giảm 0,79%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 3,13%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 1,87%; sản phẩm khác từ cao su giảm 3,2%; sản phẩm từ plastic giảm 3,18%; máy thông dụng khác giảm 1,05%; đồ giả kim hoàn và chi tiết có liên quan giảm 1,32%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 1,49%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 1,13%;...
6. Hoạt động vận tải, kho bãi
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Ba năm 2026 ước đạt 2.515 tỷ đồng, tăng 0,68% so với tháng trước và tăng 25,20% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 7.409 tỷ đồng, tăng 20,92% so cùng kỳ năm trước. Qua khảo sát tại nhiều cơ sở hoạt động vận tải cho thấy, từ đầu năm đến nay, các cơ sở nhận được nhiều hợp đồng vận chuyển, các đầu xe thường chạy tối đa công suất nên doanh thu quý I năm nay tăng tương đối khá so với các kỳ trước. Bên cạnh đó, tình hình chiến sự ở các nước Trung Đông ngay từ tuần đầu tháng Ba đã gây ảnh hưởng mạnh đến giá xăng dầu trong nước, làm tác động trực tiếp đến chi phí vận tải cũng như doanh thu đối với hoạt động này trong thời gian qua. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:
a) Hoạt động vận tải hành khách
Vận tải hành khách tháng Ba năm 2026 ước đạt 6,6 triệu lượt người vận chuyển và 601 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 2,68% về lượt người vận chuyển, tăng 2,22% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 25,37 về lượt người vận chuyển, tăng 25,64% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 467 tỷ đồng, tăng 4,75% so với tháng trước và tăng 27,69% so cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 18,77 triệu lượt người vận chuyển và 1.707 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 19,04% về lượt người vận chuyển và tăng 18,14% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 1.317 tỷ đồng, tăng 18,74% so với cùng kỳ năm trước.
b) Hoạt động vận tải hàng hoá
Vận tải hàng hoá tháng Ba năm 2026 ước đạt 6,8 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.851 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt giảm 1,97% về tấn hàng hóa vận chuyển, giảm 3,05% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 23,10 về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 22,68% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.829 tỷ đồng, giảm 0,39% so với tháng trước và tăng 25,64% so cùng kỳ năm trước.
Quý I năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 20,39 triệu tấn vận chuyển và 5.482 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 19,87% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 19,97% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 5.443 tỷ đồng, tăng 22,69% so với cùng kỳ năm trước.
c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát
Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Ba năm 2026 ước đạt 192 tỷ đồng, tăng 1,50% so với tháng trước và tăng 15,78% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 567 tỷ đồng, tăng 9,05% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Ba năm 2026 ước đạt 27 tỷ đồng, giảm 0,09% so với tháng trước và tăng 25,69% so với cùng kỳ năm trước. Quý I năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 82 tỷ đồng, tăng 32,93% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a) Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách tháng Ba ước đạt 4.787 tỷ đồng, giảm 3,50% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: Thu nội địa 4.260 tỷ đồng, giảm 3,92%; thuế xuất nhập khẩu 527 tỷ đồng, tăng 0,03%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: Thu từ doanh nghiệp nhà nước 50 tỷ đồng, giảm 48,18%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 297 tỷ đồng, tăng 43,39%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.295 tỷ đồng, giảm 10,93%; thu thuế thu nhập cá nhân 223 tỷ đồng, giảm 27,43%; các khoản thu về đất 2.216 tỷ đồng, tăng 4,87%;...
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
tháng 3 và quý I năm 2026
T3.2026
(Tỷ đồng)
Quý I.2026
(Tỷ đồng)
T3.2026
T3.2025
(%)
Quý I.2026
Quý I.2025
(%)
Tổng số
4.787
18.503
96,50
123,58
Thu nội địa
4.260
17.031
96,08
125,66
Tr. đó: Thu từ đất
2.216
6.533
104,87
150,80
Thu Hải quan
527
1.472
100,03
103,71
Quý I năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 18.503 tỷ đồng, tăng 23,58% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: thu nội địa 17.031 tỷ đồng, tăng 25,66%; thuế xuất nhập khẩu 1.472 tỷ đồng, tăng 3,71%. Một số khoản thu nội địa như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 278 tỷ đồng, tăng 34,94%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.595 tỷ đồng, tăng 30,06%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 6.709 tỷ đồng, tăng 8,19%; thu lệ phí trước bạ 470 tỷ đồng, tăng 64,17%; thuế thu nhập cá nhân 930 tỷ đồng, tăng 1,88%; các khoản thu về đất 6.533 tỷ đồng, tăng 50,80%.
b) Chi ngân sách nhà nước
Chi ngân sách nhà nước tháng Ba năm 2026 ước đạt 17.219 tỷ đồng, tăng 461,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 14.777 tỷ đồng, tăng 1.007,35%; chi thường xuyên 2.442 tỷ đồng, tăng 40,82%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên trong tháng như sau: chi sự nghiệp kinh tế 32 tỷ đồng, giảm 51,10%; chi giáo dục, đào tạo 839 tỷ đồng, tăng 15,85%; chi sự nghiệp y tế 208 tỷ đồng, giảm 22,69%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 29 tỷ đồng, giảm 21,25%; chi đảm bảo xã hội 587 tỷ đồng, tăng 404,72%; chi quản lý hành chính 520 tỷ đồng, tăng 37,71%;...
Quý I năm 2026, chi ngân sách nhà nước ước đạt 22.791 tỷ đồng, tăng 44,48% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 16.599 tỷ đồng, tăng 53,42%; chi thường xuyên 6.192 tỷ đồng, tăng 24,96%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi sự nghiệp kinh tế 56 tỷ đồng, giảm 50,74%; chi giáo dục, đào tạo 2.257 tỷ đồng, tăng 6,27%; chi sự nghiệp y tế 374 tỷ đồng, giảm 18,55%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 53 tỷ đồng, giảm 35,06%; chi đảm bảo xã hội 1.759 tỷ đồng, tăng 211,02%; chi quản lý hành chính 1.294 tỷ đồng, tăng 3,64%.
c) Hoạt động ngân hàng
Trong tháng 3/2026, hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh tích cực thực hiện các biện pháp huy động vốn, thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Ước tính đến 31/3/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng đạt 312.500 tỷ đồng, tăng 1,03% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 308.500 tỷ đồng, tăng 0,42% và chiếm 98,72% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.000 tỷ đồng, tăng 91,57% và chiếm 7,68%.
Trong tháng qua, các chi nhánh tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã đẩy mạnh hoạt động cho vay, gia tăng thêm lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/3/2026 đạt 267.500 tỷ đồng, tăng 0,98% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.000 tỷ đồng, tăng 0,13%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 75.500 tỷ đồng, tăng 3,20%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 260.300 tỷ đồng, tăng 0,68%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 7.200 tỷ đồng, tăng 12,94%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 173.100 tỷ đồng, tăng 0,64% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 112.800 tỷ đồng, tăng 0,36%; xuất khẩu 1.705 tỷ đồng, tăng 5,25%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.000 tỷ đồng, tăng 1,05%; công nghiệp hỗ trợ 5.400 tỷ đồng, tăng 1,12%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 195 tỷ đồng, tăng 2,63% so với thời điểm 31/12/2025.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,65% dư nợ tín dụng), giảm 7,065% so với thời điểm 31/12/2025.
d) Bảo hiểm xã hội
Tổng số người tham gia BHXH lũy kế đến tháng 02/2026 là 632.058 người, giảm 1.392 người, tương ứng giảm 0,22% so với tháng trước và tăng 59.724 người, tương ứng tăng 10,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: BHXH bắt buộc 551.659 người, giảm 215 người (giảm 0,04%) so với tháng trước, tăng 54.287 người (tăng 10,91%) so với cùng kỳ năm trước; BHXH tự nguyện 80.399 người, giảm 1.177 người (giảm 1,44%) so với tháng trước, tăng 5.437 người (tăng 7,25%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 49,93% so với lực lượng lao động, tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 94,89% dân số.
Tổng số người tham gia BHTN lũy kế đến tháng 02/2026 là 533.226 người, giảm 317 người (giảm 0,06%) so với tháng trước, tăng 55.242 người (tăng 11,56%) so với cùng kỳ năm trước. Tổng số người tham gia BHYT là 2.792.774 người, tăng 6.540 người (tăng 0,23%) so với tháng trước, tăng 17.713 người (tăng 0,64%) so với cùng kỳ năm trước.
Tính đầu năm đến hết tháng 02/2026, toàn tỉnh thu BHXH, BHYT, BHTN được 1.475 tỷ đồng, đạt 8,3% kế hoạch BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 02/2025 đạt 970 tỷ đồng, luỹ kế chi từ đầu năm đã chi là 1.957 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách Nhà nước 279 tỷ đồng, luỹ kế 561 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 691 tỷ đồng, luỹ kế 1.398 tỷ đồng; chi trợ cấp thất nghiệp 27 tỷ đồng, lũy kế 55 tỷ đồng.
Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng khoảng 209 tỷ đồng; luỹ kế từ đầu năm đã chi 502 tỷ đồng, tăng 4,40% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 207 tỷ đồng; chi KCB nội trú 295 tỷ đồng.
II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội
a) Đời sống dân cư, lao động việc làm
Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 rơi vào tháng Hai. Dịp Tết vừa qua, Nhân dân trong tỉnh đã đón Tết trong không khí đầm ấm, vui tươi, an toàn, lành mạnh. Công tác an sinh xã hội được chú trọng, thực hiện chu đáo, bài bản. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân tiếp tục được nâng cao. Trong quý I năm 2026, toàn tỉnh tiếp tục đồng lòng phát huy những kết quả nổi bật đã đạt được, công tác quản lý nhà nước được nâng cao; các hoạt động văn hóa thể thao diễn ra sôi nổi, rộng khắp; thực hiện nếp sống văn minh; bảo đảm giữ vững ổn định chính trị; việc sản xuất, kinh doanh thuận lợi.
Trong tháng 3, toàn tỉnh giải quyết việc làm cho 5.200 lao động, trong đó có 610 lao động đi làm việc ở nước ngoài; ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 382 người; tư vấn, giới thiệu việc làm cho 2.852 lượt người; tổ chức 01 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 03 doanh nghiệp và 39 người lao động. Tính chung quý I năm 2026, toàn tỉnh giải quyết việc làm 15.320 lao động, trong đó xuất khẩu lao động là 1.290 người. Ban hành quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 2.035 người, số người được tư vấn giới thiệu việc làm 6.295 người; tổ chức 03 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 15 doanh nghiệp, 130 người lao động; xin ý kiến dự thảo Bản thỏa thuận hợp tác (MOU) chương trình lao động thời vụ, ký kết với Chính quyền các địa phương của Hàn Quốc; thông báo kế hoạch tuyển chọn lao động Quý I năm 2026 theo Chương trình EPS và danh sách người lao động được doanh nghiệp Hàn Quốc lựa chọn theo Chương trình trình EPS. Xác nhận việc gửi bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 107 lao động.
Đến nay, tỉnh đã ban hành Nghị quyết về phát triển lực lượng lao động đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, chuyển đổi số tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Triển khai Kế hoạch hỗ trợ, phát triển thị trường lao động, giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026; tiếp và làm việc với Công ty TNHH Letuin High-Tech Việt Nam giới thiệu hợp tác lĩnh vực đào tạo nhân lực nghề bán dẫn; tiếp tục phối hợp triển khai các nội dung, hoạt động theo Chương trình EPS, chương trình đưa người lao động đi thực tập kỹ thuật tại Nhật Bản.
Tỉnh tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 1900 lượt doanh nghiệp gửi hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 1.088 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 477 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp GPLĐ. Thực hiện thu hồi GPLĐ của 156 người lao động nước ngoài trên địa bàn tỉnh. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, TULĐ cho 110 lượt doanh nghiệp. Xác nhận cho 231 lượt doanh nghiệp sử dụng 1.687 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ; tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 12 lượt doanh nghiệp với 6.316 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 37 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.
Các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã khắc phục khó khăn, chủ động thích nghi, điều chỉnh linh hoạt, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo việc làm cho người lao động, đảm bảo tiền lương và thu nhập ổn định, thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động; các doanh nghiệp đã điều chỉnh thang lương, bảng lương và trả lương cho người lao động năm 2025 không thấp hơn mức quy định. Ngoài tiền lương, các doanh nghiệp còn thực hiện chế độ phụ cấp (chức vụ, trách nhiệm, hỗ trợ tiền xăng xe, điện thoại, con nhỏ,...) cho người lao động; thu nhập bình quân của người lao động làm việc tại các doanh nghiệp cao hơn mức lương tối thiểu vùng đang áp dụng trên địa bàn. Không có tình trạng doanh nghiệp nợ lương người lao động. Tiền lương bình quân chung năm 2025 là 7.500.000 đồng/người/tháng, thu nhập bình quân năm 2025 là 8.000.000 đồng/người/tháng; mức tiền lương cao nhất là 300.000.000 đồng/người/tháng. Về tình hình tiền thưởng Tết năm 2026: mặc dù còn nhiều khó khăn, song nhiều doanh nghiệp đã cố gắng duy trì để có một khoản thưởng Tết nhằm động viên người lao động. Cụ thể: có trên 200 doanh nghiệp báo cáo tiền lương, tiền thưởng; mức thưởng Tết Dương lịch bình quân là 500.000 đồng/người, mức cao nhất là 25 triệu đồng/người của Công ty Dorco Vina (địa chỉ: KCN Phố Nối A, xã Lạc Đạo, tỉnh Hưng Yên); mức thưởng Tết Âm lịch bình quân dao động từ 6,5 triệu đồng/người đến 8 triệu đồng/người, mức cao nhất là 300 triệu đồng/người của Công ty Cổ phần tập đoàn Merap (địa chỉ: thôn Bá Khê, xã Văn Giang, tỉnh Hưng Yên).
b) An sinh xã hội
Công tác người có công: Tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Toàn tỉnh đã tặng 222.634 suất quà cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 137.249 triệu đồng, trong đó: có 106.413 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 32.650 triệu đồng; 116.221 suất quà của Tỉnh cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 104.599 triệu đồng. Các Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đã đi thăm, tặng quà 07 cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh; 150 người có công, thân nhân liệt sĩ tại gia đình và các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công.
Việc thực hiện chính sách đối với người có công và thân nhân người có công được tổ chức kịp thời. Trong tháng 3 năm 2026, tỉnh đã tiếp nhận khoảng 4 1.100 lượt hồ sơ, giải quyết khoảng 1.200 lượt hồ sơ. Tính chung quý I năm 2026, tỉnh tiếp nhận khoảng 3.500 lượt hồ sơ, giải quyết khoảng 3.800 lượt hồ sơ. 100% hồ sơ được giải quyết trước hạn và đúng hạn. Tỷ lệ hồ sơ trực tuyến đạt trên 95%.
Công tác hộ nghèo, hộ cận nghèo: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2025 tỉnh Hưng Yên: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 10.335 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 0,99%; tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh 12.134 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 1,16% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025). Đến ngày 14/02/2026, số suất quà đã được tặng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026 là 46.919 suất với tổng kinh phí trên 28,22 tỷ đồng (trong đó 29.537 suất quà cho hộ nghèo, kinh phí trên 18,4 tỷ đồng; 17.382 suất quà cho hộ cận nghèo, kinh phí trên 9,8 tỷ đồng). 100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh đều nhận được quà nhân dịp Tết Nguyên đán năm 2026.
Công tác giảm nghèo được triển khai đồng bộ; đã hướng dẫn các xã, phường cập nhật cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025 trên hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia; đồng thời tổng hợp, hoàn thiện dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo năm 2026 theo quy định. Thực hiện báo cáo kết quả chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo năm 2025 và xây dựng phương hướng, nhiệm vụ năm 2026. Trong tháng 3 năm 2026, trình Uỷ ban nhân dân tỉnh đề nghị phê duyệt Đề án "Giảm nghèo bền vững tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026 - 2030”; Triển khai hệ thống cập nhật cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2025; đăng ký báo cáo Đề án giảm nghèo bền vững tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2026-2030; tình hình xác định hộ làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp có mức sống trung bình
Công tác người cao tuổi: Tổng số người cao tuổi được chúc thọ, mừng thọ trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là 93.791 người, với tổng kinh phí khoảng 57 tỷ đồng. Tỉnh tổ chức các hoạt động chăm lo cho trẻ em nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Tổ chức Chương trình “Mùa xuân cho em” tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Tổ chức các hoạt động thăm, tặng, trao học bổng quà cho 591 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn với tổng kinh phí 226.800.000 đồng.
3. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá
Quý I năm 2026, toàn tỉnh đã tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, cổ động trực quan chào mừng các ngày lễ, ngày kỷ niệm của địa phương và đất nước, trọng tâm là: mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng (Đại hội diễn ra từ ngày 19/01 - 23/01/2026); chào mừng 80 năm Ngày Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội Việt Nam (06/01/1946 - 06/01/2026); bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và bầu cử HĐND các cấp (diễn ra vào ngày 15/3/2026);...
Tỉnh tổ chức thành công một số lễ hội tiêu biểu năm 2026 như: lễ hội chùa Keo mùa xuân năm 2026; Lễ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập vương triều Trần và Lễ hội Đền Trần, xã Long Hưng; Lễ hội truyền thống đền Mây và đền Kim Đằng, phường Sơn Nam; Triển lãm thư pháp, hát ca trù và cho chữ đầu xuân tại Văn Miếu Xích Đằng. Phối hợp với Ban chuyên đề - khoa giáo, Đài truyền hình Việt Nam thực hiện chương trình “Giải mã cuộc sống” với nội dung “Bộ sưu tập tượng đất tại chùa Nôm”. Xuất bản cuốn sách “Lễ hội truyền thống khu di tích Phố Hiến”. Tổ chức trưng bày chuyên đề “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”, “80 năm - Dấu ấn Quốc hội Việt Nam(1946-2026)”, “Hưng Yên với công trình Đại thủy nông Bắc - Hưng - Hải”, “Hội báo Xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026”, “Xuân về qua bộ sưu tập tranh Tứ Bình”. Phối hợp thực hiện chương trình “Vui xuân Bính Ngọ - Sắc màu văn hóa Hưng Yên” tại Bảo tàng Dân tộc học; phối hợp tổ chức trình diễn và giao lưu Thư pháp;...
Toàn tỉnh đã in, treo 1.700m2 pano, cụm tranh cổ động tuyên truyền các sự kiện chính trị; tổ chức 44 buổi tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô trên địa bàn tỉnh; tổ chức Chương trình nghệ thuật quần chúng “Chào năm mới 2026”; Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm (Đêm Giao thừa); tổ chức trình diễn Di sản văn hóa hát Chèo, Trống Quân, Ca Trù, Xẩm; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể hát Ca trù năm 2026. Hướng dẫn, xây dựng, duy trì phong trào văn nghệ quần chúng, hoạt động Nhà văn hoá - Câu lạc bộ tại cơ sở.
Thư viện tỉnh tổ chức 04 cuộc tuyên truyền, giới thiệu sách, báo nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn, sự kiện của đất nước, của địa phương; trưng bày, giới thiệu sách báo, tài liệu phục vụ Hội thảo khoa học - thực tiễn (phục dựng, tái hiện, hồi sinh di sản Phố Hiến gắn với kiến tạo hệ sinh thái du lịch sáng tạo trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay); trưng bày, tuyên truyền, giới thiệu sách báo mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026; tuyên truyền trực quan tại Thư viện tỉnh với nhiều ấn phẩm báo chí và các mô hình sách nghệ thuật, thu hút được đông đảo bạn đọc đến thăm quan và tìm hiểu; biên soạn 05 bài giới thiệu sách chuyên đề: tổ chức trao đổi Báo Xuân với 33 tỉnh, thành; tổ chức Thư viện lưu động phục vụ tại 04 Trường Tiểu học và THCS với 2.710 lượt học sinh tham gia, trên 3.500 lượt tài liệu được luân chuyển, tặng 100 bản sách cho học sinh.
Nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh tổ chức 34 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của Nhân dân, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ, tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026.
Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 318 buổi chiếu phim (68 buổi lưu động, 250 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm:
Tỉnh tổ chức trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Về thể dục thể thao cho mọi người:
Trong quý I năm 2026, phong trào tập luyện thể dục thể thao ở các cấp, các ngành tiếp tục được duy trì và phát triển; cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện được đầu tư, củng cố. Toàn tỉnh đã tổ chức thành công 04 giải thể thao quần chúng cấp tỉnh (Hội thao chào mừng năm mới 2026; Giải Lân - Sư - Rồng các CLB tỉnh Hưng Yên mở rộng lần thứ I; Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; vô địch trẻ Vật dân tộc, Vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; Cờ vua, Cờ tướng các câu lạc bộ).
Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: cơ quan chuyên môn đã tổ chức đánh giá, thải loại, tuyển vận động viên đảm bảo sĩ số 515 vận động viên ở 18 môn thể thao; tổ chức đào tào, huấn luyện, chuẩn bị lực lượng vận động viên sẵn sàng tham gia thi đấu các giải thể thao quốc gia, quốc tế; tổ chức kiểm tra y học, kiểm tra thể lực chung đối với VĐV các môn thể thao trong giai đoạn chuyển tiếp 2025-2026. Xây dựng lực lượng, cử các đoàn vận động viên tập huấn chuẩn bị tham gia thi đấu Đại hội Thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026, gồm các môn: Vật, Điền kinh, Cử tạ, Bơi lặn, Boxing, Bóng chuyền nữ, Taekwondo, Đua thuyền, Jujitsu, Pencak Silat, Karate, Kickboxing, Muay, Võ cổ truyền, Cầu lông, Wushu. Đồng thời triển khai kế hoạch tập huấn, tham dự các giải thể thao quốc gia, gồm: Đua thuyền Rowing vô địch các tay chèo xuất sắc quốc gia; Vô địch và Vô địch trẻ Vật bãi biển quốc gia; Vô địch Cử tạ Thanh thiếu niên quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Karate quốc gia khu vực miền Bắc; Giải Đua thuyền Canoeing vô địch các tay chèo xuất sắc quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Võ thuật tổng hợp quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Sambo quốc gia; Vô địch các Câu lạc bộ Pencak Silat quốc gia; Bơi lặn;... Vận động viên Vũ Thị Minh Anh (môn Wushu) được triệu tập vào Đội tuyển quốc gia tham dự Giải vô địch Wushu trẻ thế giới năm 2026 tổ chức tại Trung Quốc; vận động viên Nguyễn Hải Long (môn Taekwondo) được triệu tập Đội tuyển Taekwondo trẻ quốc gia. Trong quý I năm 2026, đoàn thể thao của tỉnh đã tham gia thi đấu Giải Vô địch các Câu lạc bộ Muay quốc gia, đạt 01 HCV, 03 HCB, 01 HCĐ.
c) Hoạt động du lịch
Tỉnh tham gia quảng bá và xúc tiến du lịch: Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Hà Nội; lễ hội đền Phù Ủng; lễ hội Đền Trần năm 2026; lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung. Xây dựng bộ sản phẩm, lưu niệm, quà tặng du lịch phục vụ tuyên truyền, quảng bá xúc tiến du lịch Hưng Yên (Logo huy hiệu cài áo, túi du lịch Hưng Yên, ảnh đẹp du lịch, móc treo chìa khoá). Tổ chức “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh năm 2026” đợt I với chủ đề Kết nối Di sản, lan tỏa hào khí Đông A; xây dựng kịch bản, thực hiện ghi hình 02 phim, trailer: Quảng bá Du lịch Hưng Yên, Lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung; phối hợp với đài Truyền hình Việt Nam ghi hình 02 phim quảng bá du lịch Hưng Yên trong chương trình Around Việt Nam “Theo dấu linh thiêng hào khí Đông A”, “Hành trình tâm linh - Một miền văn hóa”; phối hợp Trung tâm PT-TH Quân đội sản xuất chương trình "Ký sự ẩm thực" tại tỉnh Hưng Yên; xây dựng Clip quảng bá lễ hội Đồng Tử - Tiên Dung; khảo sát học tập kinh nghiệm, liên kết phát triển tour, tuyến du lịch Hưng Yên - Ninh Bình; phối hợp với Sở Du lịch tỉnh Ninh Bình và Sở VHTTDL tỉnh Cà Mau tổ chức Hội nghị xúc tiến du lịch bên lề Hội chợ VITM Hà Nội 2026; phối hợp với Xí Nghiệp Đầu tư và Phát triển du lịch sông Hồng tổ chức đón và hướng dẫn đoàn khách tour du lịch sông Hồng; đón và hướng dẫn trên 500 khách về tham quan các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh (Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến, quần thể di tích làng Nôm; đền Đa Hoà); tăng cường tuyên truyền đảm bảo công tác an ninh trật tự; vệ sinh môi trường, phòng chống cháy nổ và hoạt động kinh doanh tại Khu du lịch sinh thái Cồn Vành. Duy trì hiệu quả Cổng thông tin du lịch thông minh tỉnh Hưng Yên; xây dựng và đặt 14 bảng quét QRcode thông tin du lịch tại các điểm du lịch trên địa bàn tỉnh.
4. Giáo dục, đào tạo
Các đơn vị, cơ sở giáo dục trong tỉnh tăng cường tuyên truyền Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV; bảo đảm an ninh, an toàn trong dịp Tết, không xảy ra tình trạng cháy, nổ, đốt pháo nổ tại cơ sở giáo dục; đón Tết Nguyên đán Bính Ngọ với tinh thần vui tươi, thiết thực, tiết kiệm, lành mạnh, an toàn, giữ gìn nét đẹp truyền thống văn hóa của quê hương, dân tộc; tích cực tham gia Tết trồng cây xuân Bính Ngọ năm 2026.
Toàn tỉnh hiện có 498 trường mầm non GDMN và 290 nhóm, lớp mầm non độc lập tư thục; tổng số 7.399 nhóm, lớp, trong đó có 2.252 nhóm trẻ và 5.147 lớp mẫu giáo. 100% các trường mầm non tổ chức nuôi ăn bán trú, thực hiện kiểm tra sức khỏe định kỳ và theo dõi sự tăng trưởng của trẻ. Tỷ lệ dinh dưỡng trẻ em: Tỷ lệ suy sinh dưỡng thể nhẹ cân: Trẻ nhà trẻ 1,5%; Mẫu giáo 1,8%; Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi: Trẻ nhà trẻ 3,13%; Mẫu giáo 2,4%; Trẻ thừa cân, béo phì: Trẻ nhà trẻ 1,0%; Mẫu giáo 2,73%.
Toàn tỉnh có 720 cơ sở giáo dục phổ thông. Trong đó: có 197 trường Tiểu học, 451 trường có cấp THCS (có 187 trường THCS, 255 trường TH&THCS, 01 trường THCS&THPT, 08 trường TH, THCS&THPT) và 72 trường THPT (tính cả trường có cấp THPT là 81 trường). Toàn tỉnh có 577.309 học sinh với tổng số 15.547 lớp. Trong đó: có 254.518 học sinh Tiểu học với 7.535 lớp; 216.118 học sinh THCS với 5.510 lớp; 106.673 học sinh THPT với 2.502 lớp. Tỉnh tổ chức cuộc thi Hùng biện tiếng Anh cấp THPT; cuộc thi nghiên cứu Khoa học, kĩ thuật dành cho học sinh THCS và THPT. Triển khai Hội thi an toàn giao thông cho học sinh và giáo viên cấp THCS, cấp THPT năm học 2025-2026 theo hướng dẫn của Bộ GDĐT. Các cuộc thi đã góp phần nâng cao chất lượng dạy và học tại các cơ sở giáo dục phổ thông, đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT 2018.
Các cơ sở giáo dục đã tích cực triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch tổ chức các hoạt động khắc phục tình trạng phát âm nhầm lẫn 2 phụ âm đầu L-N cho cán bộ, giáo viên; tình trạng phát âm, viết chính tả nhầm lẫn 2 phụ âm đầu L-N cho học sinh ngành GDĐT tỉnh Hưng Yên năm học 2025-2026. Tổ chức thành công các lớp tập huấn cho khoảng 2.240 giáo viên dạy ôn thi tốt nghiệp THPT năm 2026 đối với các bộ môn: Ngữ văn; Toán; Tiếng Anh; Vật lí; Hóa học; Sinh học; Lịch sử; Địa lí; Giáo dục kinh tế và pháp luật.
Tại Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025-2026, tỉnh Hưng Yên có 125 học sinh đoạt giải, bao gồm 16 giải Nhì, 32 giải Ba và 77 giải Khuyến khích. Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2025-2026: kết quả: 1.926/3.172 thí sinh đoạt giải (60%), 143 giải Nhất, 373 giải Nhì, 591 giải Ba, 819 giải Khuyến khích. Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh năm học 2025-2026; kết quả: 2.358 học sinh đoạt giải, 179 giải Nhất, 467 giải Nhì, 726 giải Ba, 986 giải Khuyến khích. Tỉnh tổ chức Giải thể thao học sinh phổ thông năm 2026 các môn: Cờ vua, Cầu lông, Bóng bàn, Điền kinh.
Toàn tỉnh có 18 Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp - Giáo dục thường xuyên với 373 lớp, 19.086 học sinh, giảm 02 đơn vị từ khi hợp nhất 2 tỉnh. Trên địa bàn tỉnh hiện có 03 cơ sở giáo dục cho người khuyết tật; gồm: 2 cơ sở công lập (Trường Trung cấp cho người khuyết tật Thái Bình và Trường Giáo dục chuyên biệt Hưng Yên); 1 cơ sở tư thục là Trung tâm giáo dục hòa nhập Phúc Minh. Hiện có trên 88% trẻ khuyết tật được giáo dục hoà nhập tại các trường mầm non, riêng trẻ từ 5 tuổi trở lên đã huy động được trẻ học hòa nhập, đạt tỷ lệ 99,6%.
Hiện nay, tỉnh Hưng Yên có 48 cơ sở GDNN, bao gồm 34 cơ sở công lập, 14 cơ sở tư thục (có 14 trường cao đẳng, 10 trường trung cấp, 18 trung tâm GDNN - Giáo dục thường xuyên và 06 trung tâm GDNN). Một số cơ sở GDNN đã chủ động đổi mới chương trình đào tạo, đầu tư trang thiết bị và chuyển đổi sang đào tạo theo chuẩn đầu ra, gắn với nhu cầu của doanh nghiệp. Một số nghề trọng điểm như cơ khí chế tạo, điện - điện tử, công nghệ ô tô, kỹ thuật điều khiển - tự động hóa, may công nghiệp, nông nghiệp đã được công nhận đạt chuẩn khu vực hoặc quốc gia. Nhiều cơ sở đã áp dụng phương pháp giảng dạy mô phỏng thực tế, công nghệ số, từng bước chuyển đổi sang mô hình học nghề thông minh.
5. Hoạt động y tế
Sau khi sáp nhập, hạ tầng y tế trên địa bàn tỉnh có nhiều thay đổi, mạng lưới y tế được củng cố và sắp xếp lại theo mô hình 2 cấp, bảo đảm người dân được tiếp cận dịch vụ y tế thuận lợi và kịp thời. Cơ cấu tổ chức bộ máy được kiện toàn, sắp xếp lại theo hướng tinh gọn, hiệu quả. Đồng thời, ngành y tế đẩy mạnh chuyển đổi số, từng bước triển khai hồ sơ sức khoẻ điện tử, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao sự hài lòng của người dân. Đội ngũ y, bác sĩ và nhân viên y tế trên địa bàn tỉnh đã không ngừng rèn luyện y đức, nâng cao trình độ chuyên môn, tinh thần trách nhiệm, tận tâm phục vụ người bệnh, xứng đáng với sự kỳ vọng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà. Hiện nay tỉnh Hưng Yên có nhiều thế mạnh, nền tảng thuận lợi trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe Nhân dân; ngành Y tế tận dụng và phát huy những điều kiện đó phấn đấu đưa Hưng Yên trở thành một trong những tỉnh đi đầu khu vực đồng bằng sông Hồng trong công tác khám, chữa bệnh, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe Nhân dân trong tỉnh và các tỉnh, thành phố lân cận.
Công tác phòng, chống dịch bệnh trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, không để dịch lớn xảy ra trên địa bàn. Cụ thể như sau:
Bệnh tay chân miệng: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 370 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai và duy trì.
Bệnh sởi: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 26 ca. Hoạt động phòng chống dịch bệnh, xử lý các ca bệnh Sởi tại các cơ sở giáo dục và cộng đồng được triển khai theo quy định.
Bệnh sốt xuất huyết Dengue: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 32 ca.
Ho gà: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay ghi nhận 05 ca. Toàn tỉnh vẫn duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định.
Bệnh COVID-19: lũy kế số ca mắc từ đầu năm 2026 đến nay là 18 ca, toàn tỉnh duy trì hoạt động giám sát, quản lý theo quy định.
Các bệnh truyền nhiễm lưu hành khác như quai bị, thuỷ đậu... qua giám sát hiện chưa thấy dấu hiệu bất thường. Các bệnh truyền nhiễm có nguy cơ xâm nhập khác như cúm gia cầm, đậu mùa khỉ chưa phát hiện ca mắc/nghi mắc trên địa bàn tỉnh.
6. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ
Trong tháng 3 năm 2026 (từ ngày 26/02/2026 đến ngày 25/3/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 01 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 11 vụ với số tiền xử phạt 392 triệu đồng. So với tháng 02/2026, số vụ vi phạm giảm 01 vụ, giảm 50,0%; số vụ đã xử lý giảm 01 vụ, tương ứng giảm 8,33%; số tiền xử phạt giảm 317 triệu đồng, tương ứng giảm 44,71%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 10 vụ, tương ứng giảm 90,91%; số vụ đã xử lý tăng 04 vụ, tương đương tăng 57,14%; số tiền xử phạt giảm 598 triệu đồng, tương đương giảm 60,42%. Lũy kế ba tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 12 vụ vi phạm môi trường; đã xử lý 26 vụ với số tiền xử phạt 1.215 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm giảm 50 vụ, giảm 80,65%; số vụ đã xử lý vi phạm giảm 26 vụ, giảm 50,0%; số tiền xử phạt giảm 1.968,08 triệu đồng, giảm 61,83%. Các hành vi vi phạm chủ yếu về đổ chất thải trái phép ra môi trường, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,...
Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/02/2026 đến ngày 14/3/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 01 vụ cháy tại xã Phụng Công và 01 vụ nổ tại xã Tiền Hải. Vụ nổ đã làm 01 người chết và 01 người bị thương. Giá trị thiệt hại về tài sản do cháy là 700 triệu đồng. Lũy kế ba tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã xảy ra 12 vụ cháy và 01 vụ nổ; làm chết 01 người và làm bị thương 01 người (do nổ); giá trị thiệt hại về tài sản 1.647 triệu đồng.
7. An toàn giao thông
Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/02/2026 đến 14/3/2026, toàn tỉnh xảy ra 36 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 27 người, làm bị thương 18 người. So với tháng 02 năm 2026, số vụ tai nạn giảm 16 vụ, giảm 30,77%; số người chết tăng 04 người, tăng 17,39%; số người bị thương giảm 23 người, giảm 56,10%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 01 vụ, giảm 2,70%; số người chết tăng 01 người, tăng 3,85%; số người bị thương giảm 03 người, giảm 14,29%. Lũy kế ba tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh xảy ra 137 vụ tai nạn giao thông, làm chết 78 người, bị thương 96 người. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 05 vụ, giảm 3,52%; số người chết giảm 09 người, giảm 10,34%; số người bị thương tăng 13 người, tăng 15,66%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Khái quát lại: Tỉnh Hưng Yên thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của địa phương năm 2026 trong bối cảnh kinh tế thế giới, khu vực và trong nước tiếp tục có những khó khăn, thách thức, đặc biệt tình hình xung đột quân sự tại khu vực Trung Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, tác động trực tiếp đến thị trường năng lượng toàn cầu, nhất là nguồn cung và giá cả xăng dầu, từ đó ảnh hưởng tới toàn bộ các ngành kinh tế toàn cầu. Quý I năm 2026, với sự nỗ lực của các cấp chính quyền địa phương, các doanh nghiệp và Nhân dân trong tỉnh khắc phục các khó khăn, phát huy các thuận lợi nên kinh tế của địa phương đã đạt được kết quả tích cực, các chính sách về an sinh xã hội được bảo đảm, đời sống Nhân dân ổn định.
III. NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN
1. Hạn chế
Tiến độ giải ngân vốn đầu tư công, giải phóng mặt bằng trong tháng đầu thực hiện chính quyền 02 cấp còn chậm; việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp, khơi thông các điểm nghẽn, nút thắt trong sản xuất kinh doanh có chuyển biến nhưng chưa rõ nét. Việc xử lý đối với một số dự án tồn tại chưa dứt điểm.
Tiến độ, chất lượng giải quyết một số thủ tục hành chính thiết yếu (cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, cấp phép xây dựng, đầu tư, đăng ký kinh doanh,...) chưa đáp ứng yêu cầu. Nguồn nhân lực cấp xã hiện nay còn tình trạng thừa thiếu cục bộ, chưa đồng đều về chất lượng, năng lực chuyên môn, nhất là ở các lĩnh vực đất đai, xây dựng, công nghệ thông tin, tài chính. Công tác quản lý đất đai, đê điều, môi trường ở một số địa phương chưa đạt yêu cầu.
Cải cách hành chính, chuyển đổi số ở một số đơn vị chưa có sự chuyển biến rõ nét; nguồn lực thực hiện công tác chuyển đổi số chưa đáp ứng yêu cầu. Vướng mắc về thế chế, quy định pháp luật hiện hành trong một số lĩnh vực còn chồng chéo, mâu thuẫn gây khó khăn cho quá trình triển khai áp dụng. Công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế.
2. Nguyên nhân
Một số dự án còn khó khăn trong công tác GPMB, xác định nguồn gốc đất, giá bồi thường và bố trí tái định cư; nguồn cung nguyên, nhiên vật liệu khan hiếm, giá tăng cao (nhất là nguồn vật liệu cát và đất đắp) ảnh hưởng lớn đến tiến độ thi công; các địa phương chưa hoàn thành kiện toàn bộ máy của phòng chuyên môn và ban quản lý dự án sau hợp nhất; năng lực của một số nhà thầu còn hạn chế.
Chưa linh hoạt, sáng tạo trong phối hợp thực hiện nhiệm vụ giữa một số ngành, địa phương, tính chủ động, tích cực trong việc tháo gỡ khó khăn vướng mắc còn hạn chế, nhất là những vấn đề khó, phức tạp. Nhận thức và áp dụng pháp luật giữa các cơ quan, đơn vị, địa phương trong giải quyết các thủ tục hành chính đôi lúc chưa thống nhất. Một bộ phận cán bộ, công chức còn e dè, né tránh, đùn đẩy, ngại trách nhiệm, chưa phát huy hết tinh thần, trách nhiệm trong công tác tham mưu, thực thi công vụ.
IV. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP
1. Cơ cấu ngành công nghiệp theo hướng hiện đại, công nghệ cao, xanh, sạch, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, lao động và thân thiện môi trường trên cơ sở tạo lập hệ sinh thái công nghiệp đồng bộ. Xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện Đề án xây dựng tỉnh Hưng Yên trở thành tỉnh công nghiệp hiện đại, thuộc nhóm dẫn đầu cả nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thúc đẩy công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ; sớm đưa các dự án quy mô lớn, công nghệ cao, sức lan tỏa mạnh đi vào vận hành nhằm gia tăng năng lực sản xuất, tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế.
2. Rà soát, hoàn thiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực thống nhất với Quy hoạch tỉnh điều chỉnh được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Triển khai nghiên cứu, xây dựng Đề án thành lập Khu kinh tế tự do khi được cấp có thẩm quyền cho phép; Kế hoạch phát triển Khu kinh tế 5 năm 2026-2030; lập Đồ án điều chỉnh quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế trên cơ sở Khu Kinh tế tự do được cấp thẩm quyền chấp thuận; Cơ chế, chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư trong Khu kinh tế/Khu kinh tế tự do giai đoạn 2026-2030.
3. Phát triển mạnh mẽ hệ thống đô thị hiện đại, thông minh, bền vững gắn với phát triển kinh tế đô thị và dịch vụ, thương mại, du lịch chất lượng cao. Tập trung đầu tư, xây dựng đáp ứng trực tiếp các tiêu chí đô thị theo quy hoạch tỉnh, quy hoạch đô thị vùng, chương trình phát triển đô thị. Nâng cao chất lượng lập, thẩm định các đồ án quy hoạch, quản lý quy hoạch, xây dựng, đô thị, nhà ở, thị trường bất động sản và hạ tầng kỹ thuật. Triển khai Kế hoạch phát triển nhà ở tỉnh giai đoạn 2026-2030, Dự án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021-2030”, năm 2025 và các năm 2026-2030 trên địa bàn tỉnh.
4. Xây dựng và triển khai kế hoạch đầu tư công trung hạn 2026-2030 theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, tập trung đầu tư cho các khâu đột phá chiến lược, các ngành, lĩnh vực, địa bàn mang tính chất động lực phát triển. Đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công gắn với trách nhiệm cụ thể của từng cấp, ngành, cơ quan, đơn vị, chủ đầu tư; rà soát, điều chỉnh kế hoạch vốn giữa các dự án đảm bảo hoàn thành giải ngân 100% kế hoạch vốn Thủ tướng giao. Theo dõi chặt chẽ tình hình giải ngân của từng dự án; rà soát cắt giảm, điều chuyển kế hoạch vốn của các dự án chậm tiến độ để bổ sung cho các dự án có tiến độ giải ngân tốt, bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn. Thực hiện có hiệu quả việc huy động và phân bổ các nguồn lực nhằm tạo ra giá trị mới, tạo ra sự phát triển và nâng tầm vị thế của tỉnh; tập trung làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống (đầu tư, xuất khẩu, tiêu dùng) và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới (kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, kinh tế tri thức...).
5. Xây dựng đa dạng hệ thống hạ tầng thương mại, kết hợp hài hòa giữa thương mại truyền thống với thương mại hiện đại. Tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi thu hút, triển khai các dự án siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm trên địa bàn tỉnh, nhất là các khu vực đô thị, khu tập trung đông dân cư.
6. Triển khai có hiệu quả các giải pháp thúc đẩy cơ cấu lại toàn diện, phát triển nền nông nghiệp xanh, sạch, sinh thái, ứng dụng công nghệ cao, sản xuất quy mô lớn, giá trị gia tăng cao, xây dựng chỉ dẫn địa lý, thương hiệu sản phẩm, cấp mã vùng trồng, vùng nuôi; tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị; chuyển sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong nông nghiệp. Phát triển mạnh mẽ các sản phẩm nông sản có lợi thế cạnh tranh. Hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, vùng chăn nuôi, đánh bắt hải sản, phát triển nuôi trồng thủy sản ứng dụng công nghệ cao. Xây dựng nền nông nghiệp theo hướng “nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp hiện đại, nông dân văn minh”. Cơ cấu lại chăn nuôi, thực hiện các biện pháp chăn nuôi an toàn sinh học, an toàn VietGAHP, an toàn dịch bệnh. Phát triển thủy sản bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao chất lượng, gia tăng về giá trị; phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; đẩy mạnh phát triển các chuỗi liên kết tiêu thụ sản phẩm; khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển. Đẩy mạnh thực hiện xây dựng nông thôn mới, hướng tới mô hình nông thôn mới văn minh. Thực hiện có hiệu quả Chương trình mỗi xã một sản phẩm OCOP.
7. Quản lý, sử dụng hiệu quả tài nguyên, đất đai theo quy hoạch và kế hoạch, đảm bảo phân bổ đất đai hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Tập trung nâng cao năng lực bảo vệ môi trường và khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu vì mục tiêu phát triển bền vững; tăng cường triển khai đồng bộ các giải pháp “phòng” đi đôi với “chống” ô nhiễm môi trường, kiểm soát an toàn các nguồn phát thải.
8. Chủ động công tác phòng chống thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu; theo dõi, dự báo, thông tin kịp thời về tình hình thiên tai, nhất là bão, lũ, kịp thời phòng, chống và sẵn sàng các phương án ứng phó với thiên tai, bảo đảm an toàn tính mạng cho người dân, khắc phục nhanh nhất hậu quả do thiên tai gây ra.
9. Tăng cường công tác xúc tiến, thu hút đầu tư; tạo môi trường đầu tư kinh doanh thông thoáng, minh bạch, ổn định để thu hút nhà đầu tư dài hạn. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư, thu hút vốn đầu tư khu vực tư nhân và vốn FDI gắn với theo dõi, đôn đốc, giám sát thường xuyên tiến độ triển khai theo cam kết đầu tư, nhất là các dự án đầu tư lớn; kịp thời nắm bắt, xử lý khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp FDI, cắt giảm thủ tục hành chính để đẩy nhanh tiến độ các dự án, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh.
10. Tăng cường công tác quản lý, điều hành ngân sách nhà nước và quản lý, sử dụng tài sản công trên địa bàn tỉnh. Tiếp tục triển khai cơ cấu lại thu ngân sách theo hướng bền vững, hiệu quả hơn; đa dạng hóa và mở rộng nguồn thu, cơ sở thu; tăng cường quản lý ngân sách nhà nước, tài chính, tài sản công; triển khai đồng bộ các biện pháp quản lý chặt chẽ chi ngân sách. Tổ chức triển khai Kế hoạch tài chính 05 năm giai đoạn 2026-2030, Đề án chuyển đổi số và hiện đại hóa quản lý thuế,... Chỉ đạo thực hiện hiệu quả các biện pháp thu ngân sách, phấn đấu hoàn thành hoặc vượt mức dự toán thu ngân sách đề ra; thực hiện quyết liệt công tác chống thất thu thuế, thu hồi nợ thuế; khai thác các khoản thu còn dư địa, mở rộng cơ sở thu, nhất là thương mại điện tử, nền tảng số,... Tiết kiệm triệt để các khoản chi thường xuyên; chủ động sắp xếp chi thường xuyên, ưu tiên các nhiệm vụ quan trọng, bảo đảm nguồn lực thực hiện các chính sách an sinh xã hội và điều chỉnh chính sách tiền lương. Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn; chấn chỉnh tình trạng nợ đọng xây dựng cơ bản.
11. Phát triển hệ thống y tế đáp ứng đầy đủ nhu cầu khám, chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe của Nhân dân; phát triển con người Hưng Yên toàn diện; nâng cao sức khỏe thể chất và tinh thần, tầm vóc, tuổi thọ và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân; chủ động giám sát, triển khai các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, nhất là dịch bệnh nguy hiểm,... Từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 1 lần, được lập Sổ sức khỏe điện tử.
12. Đổi mới căn bản, toàn diện và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo; khuyến khích hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập. Xây dựng Đề án đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả hệ thống giáo dục, đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045. Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý bảo đảm đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đạt chất lượng về trình độ đào tạo, có phẩm chất đạo đức tốt, có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng. Hoàn thành tốt các mục tiêu năm học đề ra; tổ chức triển khai hiệu quả Chương trình GDPT năm 2018, chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ thông tin trong giáo dục. Tổ chức tốt Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 THPT, Kỳ thi tốt nghiệp THPT và các kỳ thi, cuộc thi cho học sinh, giáo viên trong toàn ngành. Tăng cường công tác phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các cơ quan, tổ chức có liên quan tại địa phương trong quá trình thực hiện kế hoạch giáo dục của nhà trường
13. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, triển khai các mô hình kinh tế mới, mang tính sáng tạo là nền tảng, động lực, tạo đột phá về tốc độ, chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động. Triển khai thực hiện hiệu quả các chủ trương của Đảng về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, trọng tâm là Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị. Xây dựng Đề án cải thiện xếp hạng chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) và chỉ số chuyển đổi số (DTI) của tỉnh giai đoạn 2026-2030. Đầu tư xây dựng hạ tầng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số đồng bộ và hiện đại; phát triển mạnh chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hóa số; thực hiện các nhiệm vụ theo Khung kiến trúc chính quyền số 4.0;
14. Thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người lao động; thường xuyên cập nhật biến động thông tin thị trường lao động. Triển khai hiệu quả các chỉ thị, chương trình, kế hoạch của Trung ương và của tỉnh về công tác lao động, việc làm; kiểm tra thực hiện pháp luật lao động tại các doanh nghiệp. Tranh thủ phối hợp huy động các nguồn lực xã hội tham gia công tác giảm nghèo bền vững.
15 . Phát triển nguồn lực con người, phát triển văn hóa thực sự trở thành nền tảng, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển. Xây dựng con người Hưng Yên phát triển toàn diện về thể lực, tầm vóc, trí tuệ, đạo đức, nhân cách, có ý chí vươn lên mạnh mẽ, có khát vọng xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, phồn vinh, hạnh phúc. Xây dựng Đề án Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hưng Yên đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
16. Xây dựng chính quyền liêm chính, hành động, trách nhiệm, phục vụ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, thực sự của dân, do dân, vì dân; đẩy nhanh thực hiện xây dựng chính quyền số. Hoàn thiện và vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả mô hình chính quyền địa phương hai cấp.
17. Đẩy mạnh cải cách hành chính đi đôi với chuyển đổi số, không ngừng cải thiện môi trường kinh doanh, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, người dân và doanh nghiệp. Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh năm 2026. Nâng cao hiệu quả phòng chống tham nhũng qua thanh tra, phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
18. Thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quân sự, quốc phòng địa phương; bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần tạo môi trường an toàn, ổn định, thuận lợi cho phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ cuộc sống bình yên của Nhân dân.
Tin khác