Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Hưng Yên tháng 02 năm 2026
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
Tháng Hai, nông dân trong tỉnh tập trung thu hoạch nhanh gọn cây rau màu vụ đông và đẩy nhanh tiến độ gieo trồng lúa và rau màu vụ xuân. Theo đó, các địa phương đã tập trung lấy nước đổ ải theo đúng kế hoạch, thực hiện lấy nước đến đâu tiến hành làm đất ngay đến đó, bảo đảm chất lượng đất cho gieo cấy lúa xuân. Đồng thời, tăng cường công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn đàn gia súc, gia cầm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Đến thời điểm này, hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản toàn tỉnh cơ bản ổn định, cụ thể như sau:
a) Nông nghiệp
Trồng trọt
Cây hằng năm
Theo kết quả sơ bộ điều tra diện tích vụ đông năm 2025-2026, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm vụ đông năm 2025-2026 toàn tỉnh đạt 41.691 ha, giảm 3,1% (giảm 1.332 ha) so với vụ đông năm trước. Trong đó: cây ngô 6.306 ha, giảm 6,55% (giảm 442 ha); khoai lang 2.199 ha, tăng 2,49% (tăng 54 ha), đậu tương 707 ha, tăng 13,51% (tăng 84 ha), rau các loại 26.737 ha, giảm 3,46% (giảm 958 ha);... Diện tích gieo trồng cây vụ đông giảm mạnh chủ yếu do một phần diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng, thu hồi phục vụ các dự án phát triển kinh tế - xã hội và hạ tầng (mở rộng diện tích khu, cụm công nghiệp; xây dựng công trình giao thông trọng điểm trong tỉnh; xây dựng các khu đô thị dịch vụ...). Đến thời điểm ngày 20/02/2026, các địa phương trong tỉnh đã cơ bản kết thúc thu hoạch cây vụ đông, nhất là những diện tích ở chân ruộng 2 vụ lúa để nhường đất cho gieo cấy lúa vụ xuân. Nhìn chung, sản xuất vụ đông năm nay diễn ra trong điều kiện thời tiết khá thuận lợi cho quá trình sinh trưởng, phát triển của các loại cây trồng. Được sự hỗ trợ của tỉnh và xã, nhiều địa phương đã đẩy nhanh tiến độ trồng rau màu vụ đông, tích cực áp dụng khoa học kỹ thuật, thường xuyên chăm sóc rau màu, vì vậy dự báo năng suất, sản lượng thu hoạch cao hơn năm trước.
Theo báo cáo tiến độ sản xuất nông nghiệp đến ngày 20/02/2026, toàn tỉnh gieo cấy được 83.000 ha lúa (đạt 86,98% kế hoạch). Hiện lúa xuân sớm đang trong giai đoạn đẻ nhánh rộ, lúa đại trà đang bén rễ hồi xanh. Diện tích lúa được tỉa dặm, bón thúc lần 1 được 45.000 ha. Toàn tỉnh phấn đấu hoàn thành kế hoạch gieo cấy lúa trong tháng Hai.
Diện tích gieo trồng một số cây hằng năm chủ yếu đến ngày 20/02/2026
(Năm nông vụ: từ 01/10/2025 đến 20/02/2026) ĐVT: ha
Thực hiện cùng kỳ năm 2025
Thực hiện
kỳ này
Thực hiện kỳ này so với cùng kỳ năm trước (%)
- Lúa đông xuân
72.500
83.000
114,48
- Ngô
7.506
7.566
100,80
- Khoai lang
2.445
2.475
101,21
- Đậu tương
663
663
100,03
- Lạc
191
186
97,42
- Rau các loại
36.605
37.337
102,00
- Đậu các loại
1.225
1.251
102,15
Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm của tỉnh vẫn tiếp tục phát triển. Tổng diện tích hiện có các loại cây lâu năm năm 2025 toàn tỉnh đạt 24.647 ha, tăng 1,91% (tăng 461 ha) so với cùng kỳ năm trước.
Đối với cây nhãn, cây vải - hai loại cây lâu năm chủ lực của tỉnh, hiện đang trong giai đoạn phân hóa mầm hoa, phát triển nụ. Đối với cây chuối và cây có múi: hiện nay cơ bản đã thu hoạch xong. Các nhà vườn đang tiến hành áp dụng các biện pháp kỹ thuật chăm sóc nhằm tăng tỷ lệ ra hoa, đậu quả ở các loại cây ăn quả lâu năm. Các địa phương tranh thủ thời tiết tạnh ráo, chủ động phun phòng trừ bệnh sương mai và sâu lưu trú qua đông trên các cây nhãn, vải và cây có múi để bảo vệ hoa và lộc non theo đúng hướng dẫn của các ngành chuyên môn. Tháng qua, hoạt động sản xuất và kinh doanh cây cảnh, cây hoa thế diễn ra sôi động nhằm phục vụ thị trường Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, không chỉ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh mà còn mở rộng tiêu thụ ra các địa phương lân cận, góp phần đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp và nâng cao thu nhập cho người dân.
Chăn nuôi
Tình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm ổn định, không có địa phương nào báo cáo có trường hợp hợp gia súc, gia cầm ốm, chết nghi mắc các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Công tác tiêm vắc xin phòng bệnh cho đàn gia súc, gia cầm luôn được duy trì thực hiện. Trong tháng qua, tiêm được 50.000 liều vắc xin Newcastle, 70.000 liều vắc xin Cúm gia cầm, 30.000 liều vắc xin Gumboro, 30.000 liều vắc xin THT gia cầm, 20.000 liều vắc xin Dịch tả vịt, 20.000 liều vắc xin viêm gan vịt; tiêm được 80.000 liều vắc Dịch tả lợn, 30.000 liều vắc xin Tụ dấu lợn, 50.000 liều vắc xin Phó thương hàn lợn, 30.000 liều vắc xin LMLM, 20.000 liều vắc xin Tai xanh và 30.000 liều vắc xin Suyễn; tiêm được 1.000 liều vắc xin Carê cho chó, 200 liều vắc xin Dại và 200 liều vắc xin Tụ huyết trùng, trâu, bò. Công tác kiểm dịch, kiểm tra vệ sinh thú y, kiểm soát giết mổ, kiểm dịch vận chuyển, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc thú y bảo đảm thực hiện đúng quy trình, tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông sản phẩm chăn nuôi. Trong tháng, các hoạt động chăn nuôi, vận chuyển, buôn bán, giết mổ, tiêu thụ gia súc, gia cầm tăng mạnh nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và Lễ hội xuân.
Ước tính tại thời điểm 28/02/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 12.065 con, tăng 0,81%; đàn bò 83.591 con, tăng 0,62%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 995.528 con, tăng 1,98%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.648 nghìn con, tăng 2,18% (trong đó: đàn gà 17.440 nghìn con, tăng 2,58%) so với cùng thời điểm năm trước.
b) Lâm nghiệp
Tháng Hai, tình hình sản xuất lâm nghiệp của tỉnh không có biến động lớn. Diện tích rừng trồng mới tập trung, số vụ cháy rừng, diện tích rừng bị cháy, số vụ phá rừng và diện tích rừng bị phá không phát sinh trong kỳ báo cáo.
Sản lượng gỗ khai thác trong tháng Hai năm 2026 ước đạt 323 m³, giảm 0,62%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 9,3 nghìn cây, giảm 1,06% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 931 m³, giảm 0,43%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 18,8 nghìn cây, giảm 2,59% so với cùng kỳ năm 2025.
c) Sản xuất thủy sản
Trong tháng Hai, sản xuất thủy sản của tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có bước phát triển theo hướng nâng cao hiệu quả, chú trọng bảo vệ môi trường và đa dạng hóa mô hình sản xuất. Bên cạnh việc khai thác thế mạnh nuôi trồng truyền thống, tỉnh đã từng bước mở rộng các đối tượng nuôi mới có giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong và ngoài tỉnh.
Khai thác thủy sản biển: Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Hai ước đạt 8.860 tấn, tăng 3,01% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.370 tấn, tăng 3,03%; tôm 109 tấn, tăng 2,83%; thủy sản khác 3.381 tấn, tăng 2,99%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng thủy sản khai thác biển ước đạt 17.668 tấn, tăng 2,93% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 10.732 tấn, tăng 2,97%; tôm 213 tấn, tăng 2,90%; thủy sản khác 6.723 tấn, tăng 2,86%.
Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng và hình thức nuôi. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Hai ước đạt 18.831 tấn, tăng 3,13% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 6.668 tấn, tăng 2,98%; tôm 74 tấn, tăng 3,13%; thủy sản khác 12.089 tấn, tăng 3,22%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, sản lượng nuôi trồng thủy sản ước đạt 36.144 tấn, tăng 3,15% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 13.060 tấn, tăng 2,81%; tôm 167 tấn, tăng 2,93%; thủy sản khác 22.917 tấn, tăng 3,34%.
2. Sản xuất công nghiệp
a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
Chỉ số sản xuất công nghiệp
tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026 (%)
T02.2026
02T.2026
T02.2025
02T.2025
Chung toàn ngành CN
108,38
112,42
Khai khoáng
110,38
110,76
Công nghiệp chế biến, chế tạo
112,63
114,94
SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng
84,84
97,16
Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải
65,50
86,63
So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Hai giảm 18,58%, trong đó: khai khoáng giảm 45,01%; công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 16,59%; sản xuất và phân phối điện giảm 36,65%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 27,98%. Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 rơi vào tháng Hai, thời gian nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài cũng có phần ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh trong tháng của các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: khí tự nhiên dạng khí giảm 23,13%; tôm đông lạnh giảm 28,57%; thức ăn cho gia cầm giảm 7,70%; nước khoáng không có ga giảm 7,74%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 21,91%; quần áo các loại giảm 17,57%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 39,62%; Nitơrat Amoni giảm 38,27%; bao và túi bằng plastic các loại giảm 8,28%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 47,22%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 44,30%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng giảm 57,18%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 50,08%; mạch điện tử tích hợp giảm 40,42%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 45,72%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 39,92%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 46,71%;... Một số ít sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với tháng trước như: thức ăn cho gia súc tăng 1,62%; mực in màu đen tăng 13,64%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa phân vào đâu tăng 3,30%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Hai tăng 8,38%, trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 10,38%; chế biến, chế tạo tăng 12,63%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và hơi nước giảm 15,16%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý lý rác thải, nước thải giảm 34,50%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong tháng có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2025 như: khí tự nhiên dạng khí tăng 6,60%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 22,0%; thức ăn cho gia súc tăng 18,10%; thức ăn cho gia cầm tăng 11,94%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 8,47%; quần áo các loại tăng 12,48%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 5,18%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 4,52%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 34,38%; mạch in khác tăng 38,35%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 14,83%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 3,05%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 35,29%; dây thép không gỉ tăng 92,62%;... Một số sản phẩm công nghiệp có sản lượng sản xuất giảm so với tháng Hai năm 2025 như: tôm đông lạnh giảm 5,66%; nước khoáng không có ga giảm 5,26%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 32,03%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 14,37%; Nitơrat Amoni giảm 37,92%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 10,03%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 11,76%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 35,58%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 9,96%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác giảm 9,0%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 30,87%; góc, khuôn, hình bằng sắt, thép đã được hàn giảm 37,97%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí giảm 24,30%;...
Tính chung hai tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp của tỉnh tăng 12,42% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: công nghiệp khai khoáng tăng 10,76%; chế biến, chế tạo tăng 14,94%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng và hơi nước giảm 2,84%; cung cấp nước; hoạt động quản lý và xử lý lý rác thải, nước thải giảm 13,37%. Một số sản phẩm công nghiệp của tỉnh trong hai tháng đầu năm 2026 có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm 2025 như: khí tự nhiên dạng khí tăng 4,63%; tôm đông lạnh tăng 15,38%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền tăng 26,70%; thức ăn cho gia súc tăng 11,08%; thức ăn cho gia cầm tăng 45,61%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 13,64%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 8,84%; quần áo các loại tăng 21,51%; thùng, hộp bằng bìa cứng (trừ bìa nhăn) tăng 15,15%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 6,64%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 38,75%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 24,69%; thanh, que sắt, thép không hợp kim được cán nóng, dạng cuộn cuốn không đều tăng 163,06%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 21,40%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 71,94%; mạch điện tử tích hợp tăng 52,99%; mạch in khác tăng 35,50%; dây cách điện đơn dạng cuộn khác tăng 3,95%; phụ tùng khác của xe có động cơ tăng 16,46%;... Một số sản phẩm công nghiệp trong hai tháng đầu năm 2026 có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm 2025 như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 22,95%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 29,75%; gỗ ốp, lát công nghiệp giảm 10,24%; Nitơrat Amoni giảm 9,82%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 3,47%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa giảm 9,04%; đĩa dùng cho hệ thống đọc bằng laser chưa ghi giảm 19,62%; dây cách điện đơn bằng đồng giảm 15,24%;...
Trong hai tháng đầu năm 2026, nhiều doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Kết cấu Thép cơ khí Hưng Yên tăng 180,84%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 29,23%; Công ty TNHH Sản xuất và Thương mại Tân Á tăng 18,27%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 44,32%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 78,57%; Công ty TNHH Tôn Vikor tăng 235,83%; Công ty TNHH Formosa tăng 42,86%; Công ty TNHH Kinh Đô Miền Bắc sản phẩm sản xuất tăng 32,68%; Chi nhánh Hưng Yên - Công ty Cổ phần Acecook Việt Nam tăng 22,77%; Công ty Cổ phần Mavin Austfed tăng 54,34%; Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Quốc tế Đài Loan tăng 120,59%; Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu May Anh Vũ tăng 29,26%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 4,14%; Công ty TNHH Youngone Hưng Yên tăng 23,84%; Công ty TNHH Foremart Việt Nam tăng 80,72%; Công ty TNHH May Niên Hsing Việt Nam tăng 51,82%; Công ty TAV tăng 50,45%; Công ty TNHH Sơn Hà tăng 36,44%; Công ty TNHH Maxpoort Limited tăng 13,21%; Công ty TNHH PS Vina tăng19,49%; Công ty TNHH Thép Hoà Phát tăng 16,9%; Công ty TNHH Thép không gỉ Hà Anh tăng 35,29%; Công ty TNHH Thép dây Hòa Phát tăng 90,62%; Công ty TNHH Thép đặc biệt Shengly tăng 14,83%; TNHH LTD Đức Mạnh tăng 5,08%; Công ty Cổ phần Greatwood tăng 14,58%; Công ty TNHH Mây tre xuất khẩu Phú Minh Hưng Yên tăng 125,15%; Công ty TNHH Liên doanh Kangaroo Quốc tế tăng 660,99%; Công ty TNHH Công nghệ Tecomen tăng 139,82%; Công ty TNHH Greenworks tăng 76,60%;...
Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty Cổ phần Thép Việt Ý giảm 28,18%; CN Ống thép Hoà Phát giảm 10,9%; Công ty TNHH Minh Long giảm 13,30%; Công ty Cổ phần Liên doanh Alpec giảm 8,33%; Công ty TNHH Điện lạnh Hoà Phát giảm 6,7%; Công ty Cổ phần Nhựa Hưng Yên giảm 1,54%; Công ty Cổ phần Thuận Đức giảm 20,01%; Công ty Cổ phần Bao bì Nhựa Thiên Hà giảm 36,64%; Công ty TNHH Đầu tư Ứng dụng Sản xuất Bao bì Việt giảm 7,35%; Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 4,72%; Công ty TNHH Sao Vàng - Chi nhánh tại Quỳnh Phụ giảm 19,16%; Công ty TNHH Long Thành Thiên Hạ tăng 5,37%; Chi nhánh Công ty Cổ phần Ô tô TMT giảm 10,0%; CN Công ty TNHH Yazaki giảm 13,02%; Công ty TNHH Shindengen Việt Nam giảm 11,25%; Công ty TNHH Công nghiệp Fancy Việt Nam giảm 10,79%; Công ty TNHH Toyoda Gosei Hải Phòng giảm 30,87%;...
b) Chỉ số sử dụng lao động
Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Hai toàn ngành tăng 5,44% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,48%. Chỉ số sử dụng lao động tháng Hai tăng cao cho thấy tình hình sản xuất của các doanh nghiệp ngành công nghiệp hiện đang phát triển mạnh và rất cần nguồn lao động. Trong tháng, một số ngành sử dụng nhiều lao động có chỉ số sử dụng lao động tăng cao so với cùng kỳ năm trước hoặc so với tháng trước, đó là do các doanh nghiệp trong những ngành này mở rộng sản xuất, thu nhập của người lao động cao và sử dụng nhiều lao động. Bên cạnh đó thì cũng có một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm, nguyên nhân do tính chất ngành nghề, sản lượng sản xuất giảm nên phải tiết giảm lao động hoặc đã có máy móc hiện đại được doanh nghiệp đầu tư thay thế người lao động.
3. Hoạt động đầu tư
a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Trong tháng Hai, tỉnh Hưng Yên tiếp tục tập trung đẩy mạnh các dự án hạ tầng giao thông và khu công nghiệp, với trọng tâm là hoàn thiện mạng lưới kết nối vùng và phát triển đô thị theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, nổi bật là các dự án như đường bộ cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng (CT.08); tuyến đường từ phường Thái Bình đi xã Hưng Hà kết nối với phường Phố Hiến; tuyến đường thành phố Thái Bình (cũ) đi cầu Nghìn; tuyến đường kết nối di sản văn hóa, du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng cùng nhiều tuyến giao thông chiến lược khác. Trên cơ sở triển khai đồng bộ, quyết liệt và có sự đồng thuận của nhân dân, các dự án trọng điểm trên địa bàn tỉnh đang dần thành hình, không chỉ tạo diện mạo mới cho tỉnh mà còn khẳng định quyết tâm tăng tốc phát triển ngay từ đầu nhiệm kỳ. Từ đó, đặt nền móng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn 2025 - 2030 và những năm tiếp theo.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Hai năm 2026 toàn tỉnh ước đạt 2.101 tỷ đồng, giảm 4,66%, tương ứng giảm 103 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 1.154 tỷ đồng, giảm 2,13%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 948 tỷ đồng, giảm 7,57%. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 4.325 tỷ đồng, tăng 1,40%, tương ứng tăng 60 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 10,05% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 2.406 tỷ đồng, tăng 6,54%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 1.919 tỷ đồng, giảm 4,39%.
b) Hoạt động đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 26/02/2026, toàn tỉnh có 973 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 17.430,31 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 26/02/2026, có 12 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 199,47 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 199 dự án, vốn đăng ký là 6.311,31 triệu USD, chiếm 36,21% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 372 dự án, vốn đăng ký 4.494,55 triệu USD, chiếm 25,79% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 213 dự án, vốn đăng ký 2.304,43 triệu USD, chiếm 13,22% tổng vốn đăng ký.
c) Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/01/2026 đến ngày 21/02/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới là 488 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 6.705 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 4.029 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 97 doanh nghiệp, sử dụng 4.849 lao động, vốn đăng ký 1.402 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 227 doanh nghiệp, sử dụng 852 lao động, vốn đăng ký 727 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 14 doanh nghiệp, sử dụng 334 lao động, vốn đăng ký 1.032 tỷ đồng; vận tải kho bãi 38 doanh nghiệp, sử dụng 135 lao động, vốn đăng ký 303 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 24 doanh nghiệp, sử dụng 71 lao động, vốn đăng ký 28 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 19 doanh nghiệp, sử dụng 93 lao động, vốn đăng ký 55 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 5 doanh nghiệp, sử dụng 21 lao động, vốn đăng ký 5 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/02/2026, toàn tỉnh có 1.073 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 10.406 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 8.302 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 497 doanh nghiệp, sử dụng 1.874 lao động, vốn đăng ký đạt 1.554 tỷ đồng (chiếm 18,72% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 213 doanh nghiệp, sử dụng 6.590 lao động, vốn đăng ký đạt 2.464 tỷ đồng (chiếm 29,68%); xây dựng 83 doanh nghiệp, sử dụng 412 lao động, vốn đăng ký 659 tỷ đồng (chiếm 7,94%); hoạt động vận tải, kho bãi 73 doanh nghiệp, sử dụng 239 lao động, vốn đăng ký 463 tỷ đồng (chiếm 5,58%); giáo dục và đào tạo 18 doanh nghiệp, sử dụng 77 lao động, vốn đăng ký 34 tỷ đồng (chiếm 0,41%); kinh doanh bất động sản 32 doanh nghiệp, sử dụng 504 lao động, vốn đăng ký 2.521 tỷ đồng (chiếm 30,36%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 38 doanh nghiệp, sử dụng 121 lao động, vốn đăng ký 52 tỷ đồng (chiếm 0,62%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 37 doanh nghiệp, sử dụng 166 lao động, vốn đăng ký 99 tỷ đồng (chiếm 1,20%);...
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Hai (tính từ ngày 22/01/2026 đến ngày 21/02/2026) là 47 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/02/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 280 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/01/2026 đến ngày 21/02/2026, số doanh nghiệp giải thể là 73 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 75 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/02/2026, toàn tỉnh có 188 doanh nghiệp giải thể và 873 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 42 doanh nghiệp giải thể và 218 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 22,34% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,97% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 61 doanh nghiệp giải thể và 298 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 32,45% và 34,14%; kinh doanh bất động sản có 12 doanh nghiệp giải thể và 22 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,38% và 2,52%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 7 doanh nghiệp giải thể và 42 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,72% và 4,81%; giáo dục và đào tạo có 19 doanh nghiệp giải thể và 16 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 10,11% và 1,83%;...
4. Thương mại, dịch vụ
Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 rơi vào tháng Hai nên trong tháng qua, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh diễn ra sôi động do nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ Tết và tiêu dùng sau Tết của người dân tăng cao. Dịp Tết, nguồn cung hàng hóa thiết yếu được bảo đảm, hệ thống siêu thị, chợ, cửa hàng tiện lợi và các điểm bán lẻ chuẩn bị lượng hàng hóa đầy đủ, không xảy ra tình trạng khan hiếm hoặc tăng giá đột biến.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng xã hội
tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026
(theo giá hiện hành)
T02.2026
02T.2026
T02.2026
T02.2025
02T.2026
02T.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
(%)
Tổng số
26.970
54.647
115,71
115,17
Thương nghiệp
15.039
29.685
122,38
117,90
DV lưu trú, ăn uống
1.216
2.418
116,33
114,34
DV du lịch lữ hành
6
12
108,70
109,63
Dịch vụ khác
10.709
22.532
107,43
111,84
Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Hai toàn tỉnh ước đạt 26.970 tỷ đồng, giảm 2,56% so với tháng trước và tăng 15,71% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 54.647 tỷ đồng, tăng 15,17% so với cùng kỳ năm trước. Cụ thể như sau:
Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Hai ước đạt 15.039 tỷ đồng (chiếm 55,76% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng), tăng 2,69% so với tháng trước và tăng 22,38% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, hầu hết các nhóm ngành hàng đều tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 27,70%; hàng may mặc tăng 35,78%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 12,22%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 12,02%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 18,89%; ô tô con (dưới 9 chỗ) tăng 19,56%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 20,58%; xăng, dầu các loại tăng 15,50%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 23,24%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 50,25%; hàng hóa khác tăng 21,57%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 22,56%.
Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 29.685 tỷ đồng, tăng 17,90% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, tất cả các nhóm ngành hàng có doanh thu tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 21,17%; hàng may mặc tăng 30,18%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 6,87%; vật phẩm văn hóa giáo dục tăng 6,18%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 19,17%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 9,70%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 22,77%; xăng dầu các loại tăng 12,02%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 21,56%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 53,29%; hàng hóa khác tăng 18,12%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 15,94%.
Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng Hai ước đạt 1.216 tỷ đồng, tăng 1,08% so với tháng trước và tăng 16,33% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 2.418 tỷ đồng, tăng 14,34% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó: doanh thu dịch vụ lưu trú 71 tỷ đồng, tăng 11,73%; doanh thu dịch vụ ăn uống 2.347 tỷ đồng, tăng 14,42%.
Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Hai ước đạt 6 tỷ đồng, giảm 6,84% so với tháng trước và tăng 8,70% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm so với tháng Một chủ yếu do tháng Hai có kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 kéo dài và nhiều lễ hội truyền thống, người dân tập trung về quê, hạn chế các hoạt động du lịch theo tour và lữ hành. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, doanh thu vẫn tăng, phản ánh sự cải thiện về quy mô hoạt động cũng như nhu cầu du lịch từng bước phục hồi. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ lu lịch, lữ hành ước đạt 12 tỷ đồng, tăng 9,63% so cùng kỳ năm trước.
Doanh thu ngành dịch vụ khác tháng Hai ước đạt 10.709 tỷ đồng, giảm 9,43% so với tháng trước và tăng 7,43% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 22.532 tỷ đồng, tăng 11,84% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản (là ngành chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,85% tổng doanh thu ngành dịch vụ khác) tăng 12,27%; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 9,18%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 5,31%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 8,94%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 11,22%; dịch vụ khác tăng 8,54%. Mức tăng của ngành bất động sản trong hai tháng đầu năm 2026 phản ánh quy mô thị trường tiếp tục được mở rộng nhờ nguồn cung từ các dự án đã và đang triển khai, đồng thời cho thấy sức hấp thụ của thị trường vẫn được duy trì ở mức nhất định. Trong thời gian tới, với việc nhiều sản phẩm bất động sản được đưa ra thị trường từ các doanh nghiệp lớn như Vinhomes, Ecopark Nomura và một số doanh nghiệp khác trên địa bàn tỉnh, doanh thu lĩnh vực bất động sản tại Hưng Yên được kỳ vọng sẽ cải thiện khi thị trường bước qua giai đoạn thấp điểm sau Tết.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Tháng 02/2026 trùng với thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ, thị trường hàng hóa và dịch vụ trên địa bàn tỉnh sôi động do nhu cầu mua sắm, tiêu dùng, đi lại và vui chơi, lễ hội của người dân tăng cao. Giá cả một số mặt hàng thiết yếu, đặc biệt là nhóm lương thực, thực phẩm tươi sống, đồ uống, may mặc và dịch vụ vận tải hành khách có xu hướng tăng. Sau Tết, nhu cầu tiêu dùng dần ổn định trở lại, song mặt bằng giá vẫn chịu tác động nhất định từ yếu tố cung - cầu trong dịp lễ Tết.
Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ
tháng Hai năm 2026 (%)
T02.2026
T01.2026
T02.2026
T02.2025
02T.2026
02T.2025
Chỉ số giá tiêu dùng chung
101,23
102,88
102,44
Chỉ số vàng
112,29
194,02
187,20
Chỉ số đô la Mỹ
98,94
103,12
103,63
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Hai tăng 1,23%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng so với tháng trước, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,40%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,41%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,55%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,89%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,05%; giao thông tăng 1,31%; thông tin truyền thông tăng 0,21%; giáo dục tăng 0,06%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 0,51%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,71%.
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 2,40%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực tăng 2,01%, chủ yếu do tháng Hai trùng với thời điểm Tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu tiêu dùng các mặt hàng lương thực như gạo tẻ thường, gạo tẻ ngon, gạo nếp và các sản phẩm chế biến từ ngũ cốc tăng cao phục vụ nhu cầu tích trữ, chế biến thực phẩm trong dịp Tết. Bên cạnh đó, chi phí thu mua, vận chuyển và nhân công tăng trong thời điểm cận và trong Tết góp phần làm giá bán lẻ một số mặt hàng lương thực tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm tăng 2,78% do: Nhóm thịt gia súc tăng 5,92% (trong đó nhóm thịt lợn tăng 7,38%; thịt bò tăng 2,36%; chỉ số giá nội tạng động vật tăng 6,11%), do nhu cầu tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 tăng cao phục vụ chế biến các món ăn truyền thống; bên cạnh đó chi phí chăn nuôi, vận chuyển và giết mổ tăng trong thời điểm cận Tết.
Nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 1,41%, nguyên nhân chủ yếu do nhu cầu tiêu dùng tăng trong thời điểm lễ, hội và các hoạt động gặp mặt đầu năm, làm sức mua các mặt hàng bia, rượu và thuốc lá tăng so với tháng trước (chỉ số giá nhóm bia các loại tăng 2,59%, chỉ số nhóm thuốc lá tăng 0,51%). Bên cạnh đó, một số cơ sở kinh doanh điều chỉnh giá bán nhằm bù đắp chi phí vận chuyển, lưu kho và chiết khấu phân phối tăng trong giai đoạn cao điểm. Đối với mặt hàng bia, việc tiêu thụ tăng mạnh tại các nhà hàng, quán ăn và điểm vui chơi giải trí cũng góp phần làm chỉ số giá tăng cao hơn so với mức tăng chung của nhóm.
Nhóm may mặc, giày dép, mũ nón tăng 0,55%, do nhu cầu mua sắm quần áo, giày dép phục vụ dịp Tết Nguyên đán và du xuân đầu năm tăng, đặc biệt đối với các mặt hàng thời trang may sẵn, quần áo trẻ em và giày dép thể thao. Các bộ trang phục cho thuê hiện nay có nhiều kiểu cách, chi tiết trang trí đẹp, chất liệu may tốt nên giá thuê các bộ trang phục tăng cao hơn so với thời gian trước.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,89%, chủ yếu do: Chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng 0,72% do một số mặt hàng thép, cát đen, gạch lát nền tăng; chỉ số dịch vụ bảo dưỡng nhà ở tăng 0,85%; chỉ số giá gas tăng 1,13%; chỉ số giá dầu hoả tăng 5,03%.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,45%, chủ yếu do một số đồ dùng tăng như giường, tủ, bình nước nóng, máy hút bụi, máy bơm nước, đồ dùng nấu ăn, đồ dùng kim loại,... tăng giá bán.
Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 1,31%, do giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng theo diễn biến giá thế giới, làm chi phí đi lại và vận tải tăng. Trong tháng 02/2026, giá xăng, dầu được điều chỉnh 04 đợt vào các ngày 05/02; ngày 12/02; ngày 20/02 và ngày 26/02. Theo đó giá xăng tăng 1,99%; giá dầu diezel tăng 6,86%.
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,51%, chủ yếu do nhu cầu vui chơi, giải trí và du lịch tăng trong dịp đầu năm, đặc biệt vào dịp cuối tuần, nhu cầu lễ hội và tham quan tăng.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 0,71%, chủ yếu chủ yếu do giá một số dịch vụ cá nhân tăng như: dịch vụ chăm sóc cá nhân, đồ dùng cá nhân và các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt cuối năm. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng các dịch vụ liên quan đến cưới hỏi và chăm sóc cá nhân tăng vào thời điểm đầu năm cũng góp phần làm chỉ số giá nhóm này tăng so với tháng trước. Các dịch vụ hiếu hỉ cuối năm cũng tăng lần lượt 0,54% và 0,41% do nhu cầu của người dân.
So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai tăng 1,33%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 1,28%; các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,02%; đồ uống và thuốc lá tăng 2,98%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 0,70%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 1,08%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,61%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,06%; thông tin truyền thông tăng 0,35%; giáo dục tăng 0,06%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,98%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,18%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Hai tăng 2,88%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 4,83% (lương thực giảm 0,42%; thực phẩm tăng 5,65%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,35%); đồ uống và thuốc lá tăng 5,03%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,28%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,81%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 2,11%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,21%; thông tin truyền thông tăng 0,63%; giáo dục tăng 1,20%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,22%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 2,17%; riêng nhóm giao thông giảm 3,98% so với cùng kỳ năm trước.
Bình quân chung hai tháng đầu năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 2,44% so với cùng kỳ năm trước. Trong 11 nhóm hàng tiêu dùng chính, duy nhất nhóm giao thông có chỉ số giá giảm 4,48%; các nhóm hàng còn lại đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,98%; đồ uống và thuốc lá tăng 4,69%; hàng may mặc, mũ nón, giày, dép tăng 2,03%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 4,50%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 1,89%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19%; thông tin truyền thông tăng 0,47%; giáo dục tăng 1,16%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 3,16%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,83%.
Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân hai tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,98% so với cùng kỳ năm trước, trong đó nhóm thực phẩm tăng 4,53% do giá nhóm thịt gia súc thương phẩm, thịt chế biến tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,91% do giá dịch vụ tại nhà hàng, quán ăn được điều chỉnh theo chi phí vận hành cuối năm như tiền công lao động, chi phí thuê mặt bằng và chi phí nguyên liệu chế biến, trong khi nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống, liên hoan cuối năm tăng. (2) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 4,50% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá thuê nhà, chi phí sinh hoạt liên quan đến nhà ở và chi phí sửa chữa, hoàn thiện nhà cửa trước Tết tăng. Bên cạnh đó, giá một số vật liệu xây dựng và dịch vụ sửa chữa duy trì ở mức cao so với năm trước. (3) Giá thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,19% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng này chủ yếu do giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tăng theo lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế, trong khi giá thuốc chữa bệnh trên thị trường có xu hướng tăng nhẹ so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 784/NQ-HĐND của HĐND tỉnh Hưng Yên đã tác động làm mặt bằng giá dịch vụ y tế cao hơn so với cùng kỳ, kéo chỉ số giá nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 4,54% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa đông, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 3,16% so với cùng kỳ, do giá các loại như hoa tươi, cây cảnh, vật cảnh, giá vé xem phim ca nhạc và các trò chơi, giá vé du lịch trọn gói, giá khách sạn tăng.
Nguyên nhân làm giảm chỉ số giá tiêu dùng bình quân tháng Hai năm 2026 so với cùng kỳ năm trước: Nhóm giao thông giảm 4,48% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá xăng, dầu trong nước có các đợt điều chỉnh giảm theo cơ chế điều hành của Nhà nước, bám sát diễn biến giảm của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới, làm giá bán lẻ xăng, dầu bình quân trong kỳ giảm so với cùng kỳ. Sự giảm giá của xăng, dầu đã kéo theo chi phí sử dụng phương tiện giao thông giảm, qua đó tác động làm chỉ số giá nhóm giao thông giảm.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 02/2026 tăng 12,29% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá vàng thế giới; đồng thời nhu cầu mua vàng tích trữ và vàng trang sức trong dịp đầu năm tăng, làm giá vàng bán lẻ trên thị trường tăng theo. Trong nước, chênh lệch cung - cầu vàng miếng vẫn ở mức cao, cùng với tâm lý nắm giữ vàng của người dân tăng, khiến giá vàng trong nước điều chỉnh tăng theo diễn biến chung của thị trường. Hiện giá vàng đang ở mức cao nhất trong mấy tháng trở lại đây. Bình quân tháng 02/2026, giá vàng xấp xỉ 17.888.860 VNĐ/chỉ.
Tháng 02/2026, giá Đô la Mỹ (USD) có xu hướng giảm. Nguyên nhân chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường quốc tế giảm, trong khi nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định; bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm nhẹ so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 02/2026 giảm 1,06% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1 USD xấp xỉ 25.987 VNĐ.
c) Chỉ số giá sản xuất
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Hai tăng 2,81%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 2,55%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 47,58%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 4,04%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây có hạt khác tăng 0,84%; khoai lang tươi tăng 2,39%; dưa lấy quả tăng 3,17%; nấm trồng các loại tăng 4,24%; hoa các loại tăng 7,75%; cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới tăng 15,95%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 7,65%; sản phẩm cây cảnh lâu năm tăng 6,93%; sản phẩm chăn nuôi lợn tăng 4,57%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 3,52%; lá dong tăng 47,58%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 6,31%, tôm nuôi biển tăng 2,66%; cá trắm tăng 6,80%; cá trôi tăng 2,55%; tôm nuôi nội địa tăng 3,60%; tôm khai thác nội địa tăng 1,12%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: khoai tây giảm 0,29%; rau lấy lá giảm 2,09%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân giảm 1,96%; sản phẩm lâm sản thu nhặt từ rừng trừ gỗ khác giảm 1,02%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Hai năm 2026 tăng 2,46%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: ngô và sản phẩm cây lượng thực có hạt tăng 2,61%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 6,57%; mía cây tươi tăng 4,33%; thuốc lá, thuốc lào tăng 3,78%; đậu tương tăng 5,80%; rau các loại tăng 12,56%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 6,25%; hoa các loại tăng 3,75%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 7,85%; chuối tăng 28,56%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 4,67%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 4,82%; lá dong tăng 68,69%; cá ngừ thường tăng 7,99%; cá thu tăng 5,26%; mực tăng 9,72%; cá nuôi nội địa tăng 2,96%; tôm nuôi nội địa tăng 6,32%;... Các sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: thóc khô giảm 4,83%; lạc giảm 1,87%; quýt giảm 13,4%; nhãn, vải, chôm chôm giảm 16,11%; chè búp tươi giảm 2,46%; sản phẩm chăn nuôi khác giảm 1,42%; tôm khai thác biển giảm 1,58%; tôm khai thác nội địa giảm 2,51%;...
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Hai năm 2026 giảm 0,10%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,14%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 1,08%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,04%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 2,5%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 1,13%; sản phẩm may trang phục (trừ trang phục từ da lông thú) giảm 0,84%; giày dép giảm 0,64%; giấy và các sản phẩm từ giấy giảm 0,74%; sản phẩm từ cao su và plastic giảm 1,60%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 2,28%; mô tơ, máy phát giảm 1,65%; máy thông dụng khác giảm 0,63%; máy nông nghiệp và lâm nghiệp giảm 0,60%; đồ giả kim hoàn và chi tiết có liên quan giảm 1,78%; điện sản xuất giảm 1,72%; điện mặt trời giảm 2,72%; dịch vụ thoát nước và xử lý nước thải giảm 1,12%;… Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 2,06%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 2,83%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,80%; dịch vụ liên quan đến in tăng 1,31%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 6,26%; pin và ắc quy tăng 6,68%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 6,56%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 7,15%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,85%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện tăng 3,12%; dịch vụ thu gom rác thải tăng 0,91%;…
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Hai năm 2026 tăng 1,53%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,56%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 0,57%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,49%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: sản phẩm chế biến, bảo quản thịt và các sản phẩm từ thịt tăng 5,09%; sữa và các sản phẩm từ sữa tăng 1,80%; cà phê tăng 21,87%; đồ uống tăng 4,40%; sản phẩm dệt khác tăng 3,69%; va ly, túi xách và các loại tương tự, yên đệm tăng 6,54%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu tăng 5,55%; dịch vụ liên quan đến in tăng 18,09%; hóa chất cơ bàn tăng 20,57%; phân bón và hợp chất ni tơ tăng 7,98%; sản phẩm từ khoáng phi kim loại chưa phân vào đâu tăng 6,79%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 33,92%; sản xuất linh kiện điện tử tăng 4,69%; dây và thiết bị dây dẫn tăng 34,68%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 37,86%; thiết bị dây dẫn điện các loại tăng 11,05%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại tăng 7,03; mô tô xe máy tăng 8,01%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan tăng 5,53%;... Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: dầu, mỡ động, thực vật chế biến giảm 5,28%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản giảm 2,75%; sản phẩm hàng dệt khác chưa được phân vào đâu giảm 3,12%; giày dép giảm 4,54%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 4,24%; sản phẩm khác từ cao su giảm 7,30%; băng, đĩa từ tính và quang học giảm 6,75%; pin và ắc quy giảm 10,04%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 5,38%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 4,01%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 2,18%;...
6. Hoạt động vận tải
Tháng Hai năm nay là thời điểm trước, trong và sau tết Nguyên đán Bính Ngọ, nhu cầu đi lại của Nhân dân cũng như nhu cầu vận chuyển hàng hóa gia tăng đáng kể. Các doanh nghiệp, cơ sở cá thể chủ động chuẩn bị tích trữ nguồn cung ứng hàng hóa từ sớm, tránh tình trạng dồn dập vào những ngày cận Tết.
Doanh thu vận tải, kho bãi và dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Hai năm 2026 ước đạt 2.477 tỷ đồng, tăng 3,39% so với tháng trước và tăng 22,96% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi ước đạt 4.873 tỷ đồng, tăng 18,32% so cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:
a) Hoạt động vận tải hành khách
Vận tải hành khách tháng Hai năm 2026 ước đạt 5,9 triệu lượt người vận chuyển và 523 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 3,90% về lượt người vận chuyển, tăng 1,07% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 11,72 về lượt người vận chuyển, tăng 7,93% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 417 tỷ đồng, tăng 3,01% so với tháng trước và tăng 11,70% so cùng kỳ năm trước.
Tính chung hai tháng đầu năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 11,53 triệu lượt người vận chuyển và 1.041 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,11% về lượt người vận chuyển và tăng 7,67% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách ước đạt 821 tỷ đồng, tăng 10,45%.
b) Hoạt động vận tải hàng hoá
Vận tải hàng hoá tháng Hai năm 2026 ước đạt 6,9 triệu tấn hàng hóa vận chuyển và 1.875 triệu tấn hàng hóa luân chuyển, lần lượt tăng 5,71% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 8,95% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 25,16% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 27,19% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.844 tỷ đồng, tăng 3,74% so với tháng trước và tăng 27,49% so cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, vận tải hàng hoá ước đạt 13,56 triệu tấn vận chuyển và 3.595 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 18,33% về tấn hàng hoá vận chuyển và tăng 17,50% về tấn hàng hoá luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 3.621 tỷ đồng, tăng 21,49%.
c) Kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải và bưu chính, chuyển phát
Doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Hai năm 2026 ước đạt 189 tỷ đồng, tăng 0,99% so với tháng trước và tăng 6,91% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu kho bãi, dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 376 tỷ đồng, tăng 5,91% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Hai năm 2026 ước đạt 28 tỷ đồng, tăng 2,65% so với tháng trước và tăng 49,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung hai tháng đầu năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 55 tỷ đồng, tăng 38,61% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a) Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước tháng Hai ước đạt 3.890 tỷ đồng, tăng 1,56% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 3.556 tỷ đồng, tăng 8,56%; thuế xuất nhập khẩu 334 tỷ đồng, giảm 39,76%. Một số khoản thu trong tháng dự tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 56 tỷ đồng, giảm 43,35%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 561 tỷ đồng, tăng 117,0%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 1.393 tỷ đồng, tăng 10,85%; thu thuế thu nhập cá nhân 202 tỷ đồng, giảm 43,21%; các khoản thu về đất 1.157 tỷ đồng, tăng 8,89%;...
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
tháng Hai và hai tháng đầu năm 2026
T02.2026
(Tỷ đồng)
02T.2026
(Tỷ đồng)
T02.2026
T02.2025
(%)
02T.2026
02T.2025
(%)
Tổng số
3.890
12.879
101,56
121,19
Thu nội địa
3.556
11.983
108,56
124,56
Tr. đó: Thu từ đất
1.157
3.523
108,89
128,34
Thu Hải quan
334
896
60,24
89,05
Tính chung hai tháng đầu năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 12.879 tỷ đồng, tăng 21,19% so với cùng kỳ năm trước và đạt 15,29% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 11.983 tỷ đồng, tăng 24,56%; thuế xuất nhập khẩu 896 tỷ đồng, giảm 10,95%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 183 tỷ đồng, giảm 4,53%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 1.498 tỷ đồng, tăng 45,16%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 5.443 tỷ đồng, tăng 22,21%; thu lệ phí trước bạ 380 tỷ đồng, tăng 84,36%; thuế thu nhập cá nhân 625 tỷ đồng, giảm 5,47%; các khoản thu về đất 3.523 tỷ đồng, tăng 28,34%.
b) Chi ngân sách nhà nước địa phương
Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Hai ước đạt 4.256 tỷ đồng, giảm 55,60% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.458 tỷ đồng, giảm 82,23%; chi thường xuyên 2.799 tỷ đồng, tăng 102,43%.
Tính chung hai tháng đầu năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 5.813 tỷ đồng, giảm 54,25% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.821 tỷ đồng, giảm 80,80%; chi thường xuyên 3.992 tỷ đồng, tăng 23,92%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 1.519 tỷ đồng, tăng 8,59%; chi sự nghiệp y tế 168 tỷ đồng, giảm 11,44%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 25 tỷ đồng, giảm 43,47%; chi đảm bảo xã hội 1.267 tỷ đồng, tăng 182,20%; chi quản lý hành chính 819 tỷ đồng, giảm 5,97%.
c) Hoạt động ngân hàng
Ước tính đến 28/02/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 312.000 tỷ đồng, tăng 0,87% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 308.700 tỷ đồng, tăng 0,48% và chiếm 98,94% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 3.300 tỷ đồng, tăng 58,05% và chiếm 1,06%. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 28/02/2026 đạt 267.000 tỷ đồng, tăng 0,79% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 192.850 tỷ đồng, tăng 0,57%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 74.150 tỷ đồng, tăng 1,35%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 260.200 tỷ đồng, tăng 0,64%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 6.800 tỷ đồng, tăng 6,67%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 175.315 tỷ đồng, tăng 1,93% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 115.000 tỷ đồng, tăng 2,31%; xuất khẩu 1.710 tỷ đồng, tăng 5,56%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 53.000 tỷ đồng, tăng 1,05%; công nghiệp hỗ trợ 5.410 tỷ đồng, tăng 1,31%; doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao 195 tỷ đồng, tăng 2,63%.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 28/02/2026 ước tính là 1.750 tỷ đồng (chiếm 0,66% dư nợ tín dụng), giảm 7,06% so với với thời điểm 31/12/2025.
d) Bảo hiểm xã hội
Lũy kế số người tham gia BHXH đến 31/01/2026 là 633.450 người, tăng 5.640 người, tương ứng tăng 0,90% so với tháng trước. Trong đó: BHXH bắt buộc 551.874 người, tăng 5.578 người (tăng 1,02%) so với tháng trước; BHXH tự nguyện 81.576 người, tăng 62 người (tăng 0,08%) so với tháng trước.
Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 31/01/2026 là 533.543 người, tăng 5.279 người (tăng 0,98%) so với tháng trước. Tổng số người tham gia BHYT là 2.786.234 người, giảm 10.680 người (giảm 0,38%) so với tháng trước. Số người tham gia BHYT giảm tập trung chủ yếu tại một số nhóm đối tượng, như: người thuộc hộ nghèo (giảm 1.901 người); người thuộc hộ cận nghèo (giảm 3.061 người); người thuộc hộ gia đình có mức sống trung bình (giảm 13.028 người); người bị nhiễm HIV (giảm 365 người);...
Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN trong tháng 01/2026 là 808,2 tỷ đồng, đạt 4,6% kế hoạch BHXH Việt Nam giao. Chi BHXH trong tháng 01/2026 đạt 988 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 281 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 707 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 01/2026 là 28 tỷ đồng.
Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 01/2026 là 291 tỷ đồng, tăng 43,6% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 121 tỷ đồng; chi KCB nội trú 170 tỷ đồng.
II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Đời sống dân cư, lao động việc làm và an sinh xã hội
a) Đời sống dân cư, lao động việc làm
Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, tỉnh Hưng Yên đã thực hiện tốt công tác bảo đảm an sinh xã hội, đảm bảo mọi người dân đều được đón Tết đầm ấm, vui tươi. Tỉnh đã tổ chức các hoạt động văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao phục vụ Nhân dân trong dịp Tết, nhất là trong đêm giao thừa. Tỉnh đã rà soát đầy đủ đối tượng theo quy định, thực hiện kịp thời chế độ, chính sách; chủ động chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho Nhân dân, bảo đảm “mọi người, mọi nhà đều có Tết”, “không để ai bị bỏ lại phía sau”. Tập trung rà soát, nắm chắc tình hình đời sống của nhân dân, người lao động, nhất là đối tượng chính sách, người có hoàn cảnh khó khăn (người nghèo, người yếu thế...) kịp thời quan tâm, chăm lo, hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Theo dõi, đôn đốc doanh nghiệp chi trả đầy đủ lương, thưởng Tết cho công nhân, người lao động. Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động Nhân dân nâng cao ý thức chấp hành pháp luật, tích cực tham gia phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, góp phần giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm Nhân dân vui Xuân, đón Tết an toàn, lành mạnh, tiết kiệm. Công việc sản xuất, kinh doanh thuận lợi, đời sống vật chất, tinh thần nhân dân ổn định và ngày càng được nâng cao.
Năm 2025, nhìn chung các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đã chủ động khắc phục khó khăn, duy trì sản xuất kinh doanh, bảo đảm việc làm, tiền lương và thu nhập ổn định cho người lao động; thực hiện đúng quy định về mức lương tối thiểu, điều chỉnh tháng lương, bảng lương phù hợp. Ngoài tiền lương, nhiều doanh nghiệp thực hiện các chế độ phụ cấp, hỗ trợ cho người lao động. Không phát sinh tình trạng nợ lương. Tiền lương bình quân năm 2025 của người lao động trong các doanh nghiệp đạt 7.500.000 đồng/người/tháng, thu nhập bình quân đạt 8.000.000 đồng/người/tháng; mức tiền lương cao nhất 300.000.000 đồng/người/tháng. Về tiền thưởng Tết năm 2026, thưởng Tết Dương lịch bình quân khoảng 500.000 đồng/người, cao nhất 25.000.000 đồng/người; thưởng Tết Âm lịch bình quân từ 6.500.000 đến 8.000.000 đồng/người, cao nhất 300.000.000 đồng/người. Đến thời điểm hiện tại, trong tỉnh không xảy ra tranh chấp lao động, đình công, ngừng việc tập thể.
Trong tháng Hai, tổng số lao động được giải quyết việc làm 5.100 người, trong đó xuất khẩu lao động là 310 người. Quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp cho 950 người, số người được tư vấn giới thiệu việc làm 3.250 người; tổ chức 02 phiên giao dịch việc làm với sự tham gia của 12 doanh nghiệp, 315 người lao động; xin ý kiến dự thảo Bản thỏa thuận hợp tác (MOU) chương trình lao động thời vụ, ký kết với Chính quyền các địa phương của Hàn Quốc; thông báo kế hoạch tuyển chọn lao động Quý I năm 2026 theo Chương trình EPS và danh sách người lao động được doanh nghiệp Hàn Quốc lựa chọn theo Chương trình trình EPS. Xác nhận bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 18 lao động.
b) An sinh xã hội
Công tác người có công: Tỉnh tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/01/2026 về tổ chức các hoạt động Đền ơn đáp nghĩa, chăm sóc đối tượng chính sách người có công với cách mạng nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ năm 2026. Tính đến ngày 13/02/2026, toàn tỉnh đã tặng 222.634 suất quà cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 137.249 triệu đồng, trong đó: có 106.413 suất quà của Chủ tịch nước cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 32.650 triệu đồng; 116.221 suất quà của Tỉnh cho người có công với cách mạng và thân nhân với kinh phí 104.599 triệu đồng. Đoàn đại biểu Lãnh đạo tỉnh đi thăm, tặng quà 07 cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công trong và ngoài tỉnh; 150 người có công, thân nhân liệt sĩ tại gia đình và các cơ sở điều dưỡng, nuôi dưỡng người có công.
Công tác hộ nghèo, hộ cận nghèo: Kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo định kỳ năm 2025 tỉnh Hưng Yên: Tổng số hộ nghèo toàn tỉnh 10.335 hộ, tỷ lệ hộ nghèo 0,99%; tổng số hộ cận nghèo toàn tỉnh 12.134 hộ, tỷ lệ hộ cận nghèo 1,16% (theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2022-2025).
Đến ngày 14/02/2026, số suất quà đã được tặng cho hộ nghèo, hộ cận nghèo dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là 46.919 suất với tổng kinh phí trên 28,22 tỷ đồng, trong đó: 29.537 suất quà cho hộ nghèo, kinh phí trên 18,4 tỷ đồng; 17.382 suất quà cho hộ cận nghèo, kinh phí trên 9,8 tỷ đồng (100% hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh đều nhận được quà nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026), cụ thể: (1) Tặng quà cho hộ nghèo. Kinh phí từ Ngân sách tỉnh: Đã tặng 10.335 suất quà cho 10.335 hộ nghèo trên địa bàn tỉnh, mỗi suất quà trị giá 500.000 đồng bằng tiền mặt với tổng kinh phí 5.167.500.000 đồng; Kinh phí từ Quỹ Vì người nghèo cấp tỉnh: đã tặng 10.335 suất quà cho 10.335 hộ nghèo (đạt tỷ lệ 100%) với tổng số tiền 8,268 tỷ đồng (mỗi suất quà trị giá 800.000 đồng, gồm 500.000 đồng bằng tiền mặt và 300.000 đồng hàng hóa, nhu yếu phẩm thiết yếu); kinh phí từ Quỹ Vì người nghèo cấp xã: đã tặng 1.748 suất quà, kinh phí trên 865 triệu đồng; kinh phí từ nguồn xã hội hóa: đã tặng 7.119 suất, kinh phí trên 4,1 tỷ đồng. (2) Tặng quà cho hộ cận nghèo. Kinh phí từ Quỹ Vì người nghèo cấp xã: đã tặng 2.894 suất quà, kinh phí trên 1,33 tỷ đồng; kinh phí từ nguồn xã hội hóa: đã tặng 14.488 suất, kinh phí trên 8,48 tỷ đồng.
Công tác người cao tuổi: Tổng số người cao tuổi được chúc thọ, mừng thọ trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 là 93.791 người, với tổng kinh phí khoảng 57 tỷ đồng. Trong đó:
- Chúc thọ người cao tuổi 100 tuổi đối với 575 người; được Chủ tịch nước gửi Thiếp chúc thọ, quà mừng thọ 1.000.000 đồng/người (bằng tiền mặt) và 05 mét vải lụa đỏ trị giá 900.000 đồng/người, với tổng kinh phí 1,082 tỷ đồng.
- Chúc thọ người cao tuổi 95 tuổi đối với 2.516 người; quà mừng thọ với mức 700.000 đồng/người (bằng tiền mặt) và gói quà (bằng hiện vật) trị giá 300.000 đồng, với tổng kinh phí 2,516 tỷ đồng.
- Chúc thọ người cao tuổi thọ 90 tuổi đối với 5.292 người; được Chủ tịch UBND tỉnh gửi Giấy chúc thọ và tặng quà gồm 700.000 đồng/người (bằng tiền mặt) và gói quà (bằng hiện vật) trị giá 300.000 đồng, với tổng kinh phí khoảng 5,292 tỷ đồng.
- Người cao tuổi thọ 70, 75, 80, 85 , 91, 92, 93, 94, 96, 97, 98, 99 và trên 100 tuổi là 85.408 người với tổng kinh phí khoảng 48 tỷ đồng; trong đó:
+ Tuổi 70,75, 80, 85: quà mừng thọ là 500.000 đồng/người.
+ Tuổi 91,92, 93, 94, 96, 97, 98, 99: quà mừng thọ là 700.000 đồng/người.
+ Tuổi trên 100: quà mừng thọ là 1.000.000 đồng/người.
Công tác trẻ em: Tỉnh tổ chức các hoạt động chăm lo cho trẻ em nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026. Cụ thể: tổ chức Chương trình “Mùa xuân cho em” tại Làng trẻ em SOS Thái Bình. Tổ chức các hoạt động thăm, tặng, trao học bổng quà cho 591 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn với tổng kinh phí 226.800.000 đồng, trong đó:
- Tặng quà cho 468 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn đang được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các cơ sở bảo trợ xã hội, trường giáo dục chuyên biệt, mức quà tặng 300.000 đồng/người, tổng số tiền 140.400.000 đồng.
- Tặng quà cho 108 trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, khó khăn tại cộng đồng mức quà tặng 300.000 đồng/trẻ, tổng số tiền là 32.400.000 đồng.
- Phối hợp với Quỹ Bảo trợ trẻ em Việt Nam và Hội Bảo trợ trẻ em Việt Nam nhiễm Điôxin trao tặng 15 suất học bổng cho 15 trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại cộng đồng, mức hỗ trợ 3.600.000 đồng/trẻ, tổng số tiền là 54.000.000 đồng.
3. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá
Trong tháng qua, nhiều hoạt động văn hóa, văn nghệ mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 diễn ra sôi nổi trên địa bàn tỉnh. Tỉnh tổ chức Lễ hội mùa xuân chùa Keo năm 2026; Lễ hội truyền thống Khu Lăng mộ và đền thờ các vị Vua triều Trần, xã Long Hưng; tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh Đức thánh Phạm Bạch Hổ tại đền Mây; tổ chức Triển lãm thư pháp, hát Ca trù và cho chữ đầu xuân tại Văn Miếu Xích Đằng; tổ chức thành công lễ kỷ niệm 800 năm ngày thành lập vương triều Trần; phục vụ, đón tiếp các đồng chí lãnh đạo tỉnh về dự lễ dâng hương, dâng hoa tại Nhà lưu niệm Bác Hồ, đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và Tượng đài Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh vào các dịp lễ, Tết và kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, địa phương. Phối hợp với Tập đoàn Viettel hoàn thành việc lắp đặt pano, bảng hiệu tại di tích Khu lăng mộ và Đền thờ các vị vua Trần; phối hợp tổ chức chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh tham quan, trải nghiệm đợt 1 năm 2026 với chủ đề “Kết nối di sản lan tỏa hào khí Đông A”; đón tiếp, hướng dẫn và phục vụ trên 300.000 lượt khách đến tham quan, chiêm bái tại các di tích trọng điểm.
Tỉnh tổ chức tuyên truyền cổ động trực quan cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp, nhiệm kỳ 2026-2031; trưng bày, triển lãm ảnh tư liệu về những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh; tổ chức trình diễn Di sản văn hóa phi vật thể; tổ chức 14 buổi tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô; biểu diễn Chương trình nghệ thuật mừng Đảng, mừng Xuân Bính Ngọ 2026 tại Công viên Kỳ Bá, phường Trần Lãm.
Bảo tàng tỉnh trưng bày chuyên đề “Không gian chợ Tết Việt năm 2026”, “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội và thành quả”; phối hợp với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trưng bày chuyên đề “Xuân về qua bộ sưu tập tranh Tứ Bình”; phối hợp với Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam tổ chức chương trình “Vui xuân Bính Ngọ - Sắc màu văn hóa Hưng Yên” tại Bảo tàng Dân tộc học; mở cửa trưng bày đón, phục vụ 3.723 khách tham quan.
Thư viện tỉnh: tuyên truyền, giới thiệu sách báo mừng Đảng, mừng Xuân tại Hội Báo Xuân Bính Ngọ; biên soạn và phát hành 01 thư mục, gồm 80 bài trích báo, tạp chí trên các báo Trung ương và địa phương có nội dung về tỉnh Hưng Yên trên các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục;... Trao đổi báo xuân Bính Ngọ với 33 tỉnh thành trong cả nước.
Về nghệ thuật biểu diễn và văn học:
Nhà hát Chèo Hưng Yên đã tổ chức 9 buổi nghệ thuật biểu diễn phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, nghệ thuật của Nhân dân trong và ngoài tỉnh, tiêu biểu như: Chương trình nghệ thuật chào mừng thành công Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam tại Quảng trường Nguyễn Văn Linh, phường Phố Hiến; chương trình nghệ thuật khai mạc Hội Báo xuân và Không gian chợ Tết Việt năm 2026; chương trình nghệ thuật “Hưng Yên rực rỡ sắc xuân” mừng xuân Bính Ngọ; chương trình ca múa nhạc tại Lễ phát động “Tết trồng cây”.
Về điện ảnh:
Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 110 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 90 buổi tại rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa, giải trí của Nhân dân.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Về thể dục thể thao cho mọi người:
Tỉnh tổ chức giải Cầu lông các nhóm tuổi tỉnh Hưng Yên năm 2026; ban hành Điều lệ giải Vô địch vật trẻ dân tộc, vật tự do tỉnh Hưng Yên năm 2026; xây dựng Kế hoạch tổ chức giải Cờ tướng tỉnh Hưng Yên năm 2026.
Về thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp:
Tỉnh duy trì triển khai đồng bộ các giải pháp đáp ứng công tác đào tạo, huấn luyện thường xuyên đối với vận động viên các đội tuyển tỉnh và đội tuyển trẻ; tuyển chọn đảm bảo chỉ tiêu đào tạo 515 VĐV ở các môn thể thao; triển khai phân tuyến đào tạo vận động viên các môn, đối với đội tuyển tỉnh, đội tuyển trẻ năm 2026; kiểm tra, đánh giá, thải loại 09 VĐV ở các môn thể thao. Cử vận động viên Nguyễn Hải Long, môn Taekwondo đi tập huấn đội tuyển Taekwondo trẻ quốc gia. Tập trung huấn luyện, chuẩn bị lực lượng vận động viên tham gia các giải quốc gia và Đại hội thể thao toàn quốc lần thứ X năm 2026.
c) Hoạt động du lịch
Tỉnh tham gia Hội chợ Mùa Xuân lần thứ nhất năm 2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam, Đông Anh, TP Hà Nội; quảng bá, xúc tiến du lịch Hưng Yên tại lễ hội đền Phù Ủng; tổ chức “Chương trình giáo dục ngoại khóa cho học sinh THCS trên địa bàn tỉnh Hưng Yên năm 2026” đợt I với chủ đề “Kết nối Di sản, lan tỏa hào khí Đông A”; viết, đăng tin bài trên website, Fanpage, Zalo.oa, facebook, youtube của Trung tâm về các hoạt động du lịch trong tỉnh và trong nước (10 bài, 02 video livestream, 09 video, chia sẻ 35 link từ Cục Du lịch Quốc gia Việt Nam, 15 link, 05 video từ Báo và Phát thanh, truyền hình Hưng Yên thu hút hơn 3.000 lượt truy cập); biên tập, tái bản ấn phẩm thông tin du lịch: Sách cẩm nang du lịch, sách Hưng Yên - Vùng quê văn hiến, tập gấp lễ hội truyền thống; phối hợp với Trung tâm PT-TH Quân đội sản xuất chương trình “Ký sự ẩm thực” tại tỉnh Hưng Yên; phối hợp VTV3 - Đài THVN biên tập phim quảng bá Du lịch Hưng Yên: “Hành trình tâm linh - Một miền văn hoá”; đẩy mạnh tuyên truyền bảo đảm an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, kinh doanh dịch vụ tại khu du lịch sinh thái Cồn Vành.
Tỉnh tiếp tục triển khai Cổng thông tin du lịch thông minh; viết tin bài đăng trên Cổng du lịch. Phối hợp cung cấp thông tin phục vụ xây dựng bản đồ du lịch và số hóa bản đồ du lịch của tỉnh; ấn phẩm thông tin du lịch quảng du lịch.
4. Giáo dục, đào tạo
Toàn tỉnh tổ chức các hội nghị sơ kết học kỳ I năm học 2025-2026 đối với cấp học mầm non, phổ thông. Tổ chức hội nghị tập huấn “Nâng cao chất lượng tổ chức hoạt động sửa lỗi phát âm nhầm lẫn 2 phụ âm đầu L-N trong cơ sở giáo dục phổ thông”. Hoàn thành tổ chức Kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp quốc gia năm học 2025 - 2026, kết quả: (1) Tại Kỳ thi học sinh giỏi quốc gia THPT năm học 2025 - 2026, tỉnh Hưng Yên có 125 học sinh đoạt giải, bao gồm 16 giải Nhì, 32 giải Ba và 77 giải Khuyến khích. (2) Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 12 cấp tỉnh năm học 2025 - 2026, kết quả: 1.926/3.172 thí sinh đoạt giải (60%), 143 giải Nhất, 373 giải Nhì, 591 giải Ba, 819 giải Khuyến khích. (3) Kỳ thi chọn học sinh giỏi lớp 9 cấp tỉnh năm học 2025 - 2026, kết quả: 2.358 học sinh đoạt giải, 179 giải Nhất, 467 giải Nhì, 726 giải Ba, 986 giải Khuyến khích.
Hướng dẫn thi tuyển sinh đầu cấp; thi tuyển sinh lớp 10 THPT năm học 2026-2027, ban hành thông báo môn thi thứ ba (môn Tiếng Anh) Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập không chuyên năm học 2026-2027 (Công văn số 299/SGDĐT-QLCL ngày 30/01/2026). Tổ chức tổng kết kết quả kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia các trường mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông, thường xuyên giai đoạn 2021-2025; kết quả: Đến tháng 12/2025, toàn tỉnh có 1.218/1.238 trường mầm non, phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên hoàn thành công tác tự đánh giá (đạt tỷ lệ 98,38%), 20 trường ngoài công lập chưa thực hiện tự đánh giá do mới thành lập, chưa có đầy đủ các tổ chức, các khối lớp, thời gian đánh giá. Trong đó: Trường mầm non 480/498 trường (tỉ lệ 96,4%); Trường tiểu học 197/197 trường (tỉ lệ 100%); Trường THCS 187/187 trường (tỉ lệ 100%); Trường THPT 79/81 trường (tỉ lệ 97,5%); Trường PT có nhiều cấp học 255/255 trường (tỉ lệ 100%); Trung tâm GDTX, trung tâm GDNN-GDTX 20/20 trung tâm (tỉ lệ 100%).
5. Hoạt động y tế
Trong dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026, ngành Y tế Hưng Yên đã triển khai đồng bộ các phương án trực, cấp cứu và khám chữa bệnh, bảo đảm phục vụ Nhân dân an toàn, thông suốt. Công tác phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm được tăng cường; trên địa bàn không ghi nhận ổ dịch, không xảy ra thiếu thuốc, vật tư y tế. Ngành cũng phối hợp triển khai các hoạt động an sinh xã hội, chăm lo người cao tuổi và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn.
Công tác phòng, chống dịch bệnh
trong tỉnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 02/2026, toàn tỉnh ghi nhận 02 ca mắc sốt xuất huyết, trong đó có 0 ca nội sinh; bệnh do liên cầu lợn 0 ca; SXH 02 ca; Sởi 08 ca; Tay chân miệng 40 ca; Ho gà 0 ca; Lao phổi 17 ca; Viêm gan B 12 ca; Viêm gan C 01 ca; Adeno 02 ca; Cúm 875 ca; Lỵ 0 ca; Quai bị 0 ca; Thủy đậu 0 ca; Tiêu chảy 0 ca ; Viêm gan virut khác 0 ca; Covid 03 ca. Các chùm ca bệnh, ổ dịch, địa bàn nguy cơ được kiểm soát kịp thời, quản lý xử lý nhanh, triệt các ca bệnh, ổ dịch theo quy định, bảo đảm an toàn cho người bệnh và phòng, tránh lây lan dịch bệnh.
Tình hình dịch HIV/AIDS: Trong tháng, toàn tỉnh phát hiện 02 ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.560 người thuộc 104/104 xã, phường), không có người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.309 bệnh nhân điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT; 1.574 bệnh nhân điều trị Methadone tại 13 cơ sở điều trị ngoại trú trong tỉnh.
An toàn vệ sinh thực phẩm: Trong tháng, ngành chuyên môn đã thành lập 01 đoàn kiểm tra liên ngành tỉnh, 02 đoàn kiểm tra chuyên ngành về an toàn thực phẩm: Kiểm tra, giám sát tại 49 cơ sở thực phẩm (02 cơ sở dừng hoạt động, xử phạt vi phạm hành chính 14 cơ sở với tổng số tiền xử phạt là 158.000.000 đồng). Trong tháng 02/2026, trên địa bàn tỉnh không xảy ra các vụ ngộ độc thực phẩm lớn (>30 người).
6. Công tác vi phạm môi trường, phòng chống cháy, nổ
Trong tháng 02 năm 2026 (từ ngày 26/01/2026 đến ngày 25/02/2026), trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã phát hiện 02 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 12 vụ với số tiền xử phạt 682 triệu đồng. So với tháng 01/2026, số vụ vi phạm giảm 07 vụ, giảm 77,78%; số vụ đã xử lý tăng 09 vụ, tăng 300,0%; số tiền xử phạt tăng 541 triệu đồng, tăng 383,69%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 22 vụ, giảm 91,67%; số vụ đã xử lý giảm 12 vụ, giảm 50,0%; số tiền xử phạt giảm 322,09 triệu đồng, giảm 32,08%. Cộng dồn hai tháng đầu năm 2026, toàn tỉnh đã phát hiện 11 vụ vi phạm môi trường; số vụ đã xử lý vi phạm là 15 vụ với số tiền xử phạt 823 triệu đồng. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ vi phạm giảm 40 vụ, giảm 78,43%; số vụ đã xử lý giảm 30 vụ, giảm 66,67%; số tiền xử phạt giảm 1.369,67 triệu đồng, giảm 62,47%.Các hành vi vi phạm chủ yếu về không có giấy phép môi trường, vi phạm an toàn thực phẩm, xả nước thải, khí thải vượt quy chuẩn,...
Theo số liệu của Công an tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/01/2026 đến ngày 14/02/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 05 vụ cháy, không có vụ nổ (xã Bắc Thụy Anh 01 vụ, xã Nam Thụy Anh 01 vụ, xã Nghĩa Trụ 01 vụ, phường Thái Bình 01 vụ, xã Việt Yên 01 vụ); không có người chết và bị thương do cháy. Giá trị thiệt hại về tài sản là 90 triệu đồng.
7. An toàn giao thông
Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, tình hình tai nạn giao thông 09 ngày Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026: Toàn tỉnh xảy ra 16 vụ, làm 08 người chết, 11 người bị thương (trong đó: Đường sắt: Không xảy ra. Đường thủy: Không xảy ra). So với Tết Ất Tỵ năm 2025: tăng 02 vụ, tăng 11,11%; tăng 01 người chết, tăng 11,11%; giảm 01 người bị thương, giảm 8,3%. Không xảy ra tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng. Tình hình ùn tắc giao thông: Tại các điểm tổ chức bắn pháo hoa và các khu vui chơi người dân tập trung đông nên có xuất hiện hiện tượng ùn ứ cục bộ, tuy nhiên lực lượng chức năng đã xây dựng phương án điều tiết và đảm bảo an toàn giao thông kịp thời. Trong 2 ngày cuối đợt nghỉ lễ, các tuyến đường kết nối với thủ đô Hà Nội có xuất hiện hiện tượng ùn tắc do lượng người trở về thủ đô tăng mạnh. Lực lượng chức năng đã nắm được tình hình và điều tiết giao thông kịp thời, chủ động các phương án phân luồng từ xa, kịp thời điều tiết khi lưu lượng phương tiện đông hoặc xảy ra tai nạn trên các tuyến trọng điểm để hạn chế tối đa ùn tắc giao thông, không để xảy ùn tắc kéo dài.
Theo số liệu của Ban An toàn giao thông tỉnh Hưng Yên, từ ngày 15/01/2026 đến 14/02/2026, toàn tỉnh xảy ra 52 vụ tai nạn giao thông (51 vụ đường bộ và 01 vụ đường thủy), làm chết 23 người (đường bộ), làm bị thương 41 người (đường bộ). So với tháng 01 năm 2026, số vụ tai nạn tăng 03 vụ, tăng 6,12%; số người chết giảm 05 người, giảm 17,86%; số người bị thương tăng 04 người, tăng 10,81%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn tăng 01 vụ, tăng 1,96%; số người chết giảm 07 người, giảm 23,33%; số người bị thương tăng 06 người, tăng 17,14%. Hai tháng đầu năm 2026 toàn tỉnh xảy ra 101 vụ, làm chết 51 người, bị thương 78 người. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 04 vụ, giảm 3,81%; số người chết giảm 10 người, giảm 16,39%; số người bị thương tăng 16 người, tăng 25,81%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng Hai và hai tháng năm 2026, Thống kê tỉnh trân trọng báo cáo Cục Thống kê./.
Tin khác