Tình hình kinh tế - xã hội tháng mười và mười tháng năm 2026
I. TÌNH HÌNH KINH TẾ
1. Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thuỷ sản
a) Nông nghiệp
Trọng tâm trong hoạt động sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản trên địa bàn toàn tỉnh trong tháng Mười là tập trung thu hoạch lúa mùa, chủ động triển khai gieo trồng cây rau màu vụ đông bảo đảm khung thời vụ; tăng cường chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh trên cây trồng, nhất là cây lâu năm; duy trì ổn định hoạt động chăn nuôi, thực hiện đồng bộ các biện pháp phòng, chống dịch bệnh, bảo đảm an toàn cho đàn gia súc, gia cầm. Kết quả cụ thể như sau:
a) Trồng trọt
Sản xuất vụ mùa năm nay trên địa bàn tỉnh Hưng Yên diễn ra trong điều kiện thời tiết cơ bản thuận lợi, tạo điều kiện cho cây lúa sinh trưởng, phát triển và công tác thu hoạch được triển khai đúng tiến độ. Diện tích gieo cấy lúa vụ mùa năm 2026 toàn tỉnh đạt 96.000 ha. Đến ngày 28/10/2026, các địa phương trong tỉnh cơ bản đã thu hoạch xong diện tích lúa mùa. Bên cạnh việc tiếp tục tập trung huy động nhân lực, phương tiện đẩy nhanh tiến độ thu hoạch diện tích lúa mùa còn lại, nhà nông đồng thời chủ động triển khai các biện pháp làm đất, đẩy nhanh tiến độ gieo trồng cây vụ đông năm 2026. đến nay diện tích cây rau màu vụ Đông đạt khoảng 34.000 ha. Hiện trên cây rau màu đang xuất hiện các đối tượng sâu bệnh gây hại cho cây, cụ thể: trên dưa bí rau màu các loại bọ trĩ, bọ phấn gây hại trung bình 3 - 5% số lá, nơi cao trên 20-30% số lá; sâu xanh, sâu tơ mật độ 0,3-0,5 con/m2, nơi cao 4- 6 con/m2; bệnh lở cổ rễ tỷ lệ bệnh 1-3%, nơi cao 5-7%; rệp các loại mật độ phổ biến rải rác, nơi cao 20-30 con/m2. Ngành chuyên môn khuyến cáo nông dân các địa phương cần tăng cường kiểm tra đồng ruộng, theo dõi tình hình sinh trưởng, phát triển của cây trồng và diễn biến sâu bệnh hại để chủ động phòng trừ kịp thời; khơi thông dòng chảy, chủ động tiêu úng khi có mưa lớn, bảo đảm điều kiện thuận lợi cho cây trồng sinh trưởng, phát triển.
Nhìn chung, tiến độ sản xuất vụ đông được triển khai tích cực, diện tích gieo trồng tăng nhẹ so với cùng kỳ, trong đó nhóm rau các loại tiếp tục chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu diện tích gieo trồng. Việc chủ động thu hoạch lúa mùa gắn với đẩy nhanh gieo trồng cây vụ đông góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất, tăng giá trị sản xuất trên đơn vị diện tích và tạo điều kiện thuận lợi để hoàn thành kế hoạch sản xuất trồng trọt năm 2026.
Cây lâu năm
Tình hình sản xuất cây lâu năm trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định, các loại cây trồng tiếp tục được chăm sóc, phát triển phù hợp với từng giai đoạn sinh trưởng. Ước tính tổng diện tích cây lâu năm đạt 23.773 ha, tăng 0,36% (tăng 86,13 ha) so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng Mười, tại các vùng trồng nhãn, nhà vườn tập trung cắt tỉa cành, vệ sinh vườn, bón phân và chăm sóc cây sau thu hoạch nhằm phục hồi khả năng sinh trưởng, tích lũy dinh dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình phân hóa mầm hoa và ra quả ở vụ tiếp theo. Đối với cây nhãn và vải, hiện cây nhãn đang trong giai đoạn phát triển lộc thu và lộc đông; cây vải đang trong giai đoạn phát triển và hoàn thiện lộc thu. Các đối tượng sâu bệnh đang gây hại trên cây nhãn, cây vải là: sâu đo, sâu ăn lá xuất hiện và gây hại cục bộ trên những vườn ra lộc thu với mật độ phổ biến 1-2 con/cành, nơi cao 4-5 con/cành; Rệp sáp 0,5-1 con/m2, nơi cao 3-5 con/m2. Các nhà vườn cần chủ động thực hiện các biện pháp chăm sóc, điều tiết sinh trưởng, phòng trừ sâu bệnh nhằm bảo vệ và thúc đẩy lộc thu phát triển, tạo tiền đề cho năng suất vụ sau.
Đối với nhóm cây có múi và các loại cây ăn quả khác, nhìn chung sinh trưởng, phát triển ổn định. Một số giống bưởi chín sớm đã bắt đầu bước vào thời kỳ thu hoạch. Trên cây có múi, bệnh khô đầu cuống quả trung bình 0,5%-1%, nơi cao 3-5% số quả; sâu vẽ bùa gây hại cục bộ trên lộc non với tỷ lệ trung bình 4 - 6%, nơi cao trên 8% số lá; nhện đỏ sâu hại gây hại với tỷ lệ trung bình 4 - 6% số lá, nơi cao trên 8% số lá. Các nhà vườn tiếp tục theo dõi tình hình sâu bệnh, tăng cường chăm sóc và áp dụng các biện pháp kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng quả, bảo đảm năng suất và hiệu quả sản xuất.
b) Chăn nuôi
Ngành chăn nuôi trong tỉnh tiếp tục chuyển dịch, tái cơ cấu đàn vật nuôi theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi gia cầm nhằm đáp ứng cơ bản các loại thực phẩm thiết yếu (thịt, trứng) cho tiêu dùng trong và ngoài tỉnh. Chăn nuôi lợn có dấu hiệu phục hồi, quy mô đàn tăng so với cùng kỳ năm trước. Giá lợn hơi trong tháng dao động khoảng 64.000–65.000 đồng/kg, giảm nhẹ so với tháng trước nhưng vẫn duy trì ở mức tương đối thuận lợi, góp phần bảo đảm hiệu quả sản xuất, nhất là đối với các cơ sở chủ động được nguồn con giống.
Tình hình dịch bệnh: Trong tháng, tình hình dịch bệnh trên đàn gia súc, gia cầm cơ bản được kiểm soát, không phát sinh các ổ dịch nguy hiểm theo báo cáo của ngành chức năng. Công tác tiêm phòng vắc xin vụ Thu - Đông năm 2026 được các địa phương tích cực triển khai. Đến thời điểm báo cáo, có 103/104 xã, phường tổ chức thực hiện tiêm phòng, với tổng số 3.100.335 liều vắc xin các loại, đạt 72,49% kế hoạch 4.277.010 liều. Bên cạnh đó, công tác vệ sinh, khử trùng, tiêu độc môi trường chăn nuôi đợt 2 năm 2026 tiếp tục được thực hiện; tính đến ngày 07/10/2026, có 102/104 xã, phường đã tổ chức phun hóa chất từ nguồn hỗ trợ.
Ước tính tại thời điểm 31/10/2026, số lượng đầu con gia súc, gia cầm trên địa bàn tỉnh như sau: đàn trâu 11.035 con, giảm 7,20%; đàn bò 74.600 con, giảm 10,03%; đàn lợn (không tính lợn con chưa tách mẹ) 1.060.005 con, tăng 1,58%; đàn gia cầm (bao gồm: gà, vịt, ngan) 23.610 nghìn con, giảm 0,59% (trong đó: đàn gà đạt 17.350 nghìn con, tăng 0,24%) so với cùng thời điểm năm trước.
c) Lâm nghiệp
Sản xuất lâm nghiệp tháng Mười trên địa bàn tỉnh Hưng Yên không có biến động lớn, các hoạt động chủ yếu diễn ra ổn định. Trong tháng không phát sinh diện tích rừng trồng mới tập trung, không xảy ra cháy rừng, phá rừng; công tác quản lý, bảo vệ rừng tiếp tục được duy trì tốt.
Trong tháng Mười, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 290 m3, tăng 0,35%; sản lượng cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 120 nghìn cây, giảm 1,64% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế mười tháng năm 2026, toàn tỉnh trồng mới 4,48 ha diện tích rừng tập trung, giảm 36,0%; sản lượng gỗ khai thác ước đạt 4.359 m³, tăng 0,16%; số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 1.618 nghìn cây, tăng 0,62% so với cùng kỳ năm trước.
d) Sản xuất thủy sản
Sản xuất thủy sản của tỉnh trong tháng Mười duy trì đà tăng trưởng ổn định, hướng tới phát triển bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái và an toàn thực phẩm.
Khai thác thủy sản biển: Trong tháng, ngư trường ổn định, chưa có cơn bão nào ảnh hưởng trên vùng biển Hưng Yên, nguồn lợi thủy sản khá, giá bán sản phẩm duy trì ở mức có lợi, tạo điều kiện cho ngư dân tăng cường số chuyến và thời gian bám biển. Sản lượng thủy sản khai thác biển tháng Mười ước đạt 8.100 tấn, tăng 5,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: sản lượng cá 5.847 tấn, tăng 5,34%; tôm 299 tấn, tăng 5,12%; thủy sản khác 1.954 tấn, tăng 5,39%. Lũy kế mười tháng năm 2026, sản lượng khai thác thủy sản biển toàn tỉnh ước đạt 89.795 tấn, tăng 4,10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 58.877 tấn, tăng 4,19%; tôm đạt 1.794 tấn, tăng 4,46%; thủy sản khác đạt 29.125 tấn, tăng 3,90%.
Nuôi trồng thủy sản: Hoạt động nuôi trồng thủy sản trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục phát triển ổn định, các mô hình nuôi ngày càng đa dạng về đối tượng (cá lăng, diêu hồng, trắm, chép, hàu,...) và hình thức sản xuất (nuôi ao, nuôi lồng, nuôi bè). Toàn tỉnh có 996 lồng nuôi cá trên sông; địa bàn xã Hưng Phú, Đông Thụy Anh. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tháng Mười ước đạt 25.579 tấn, tăng 5% so với cùng kỳ. Trong đó: sản lượng cá 9.516 tấn, tăng 5,06%; tôm 887 tấn, tăng 5,03%; thủy sản khác 15.176 tấn, tăng 4,95%. Mười tháng năm 2026, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 208.990 tấn, tăng 4,34% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: cá 86.446 tấn, tăng 4,27%; tôm 4.873 tấn, tăng 4,65%; thủy sản khác 117.672 tấn, tăng 4,39%.
2. Sản xuất công nghiệp
a) Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP)
So với tháng trước, chỉ số sản xuất công nghiệp tháng Mười tăng 5,87%, trong đó: khai khoáng tăng 22,40%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,11%; sản xuất và phân phối điện giảm 0,32%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 14,36%. Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng cao so với tháng trước như: máy giặt loại dùng cho hiệu giặt là quần áo với sức chứa > 10 kg vải khô một lần giặt tăng 26,80%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác tăng 26,03%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 25,45%; máy điều hòa không khí loại lắp vào cửa sổ hoặc lắp vào tường tăng 19,09%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 16,46%; gạch xây dựng bằng đất sét nung (trừ gốm, sứ) quy chuẩn 220x105x60mm tăng 12,80%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp tăng 11,36%; sắt, thép không hợp kim dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 12,72%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác tăng 22,0%; thanh, que thép không gỉ khác tăng 16,0%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 9,45%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% tăng 9,01%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 8,69%;... Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng trước như: vật liệu kim loại khác thứ cấp giảm 23,42%; dây thép không gỉ giảm 16,68%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc giảm 9,97%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) giảm 6,98%; bao và túi bằng plastic các loại giảm 6,44%; vật liệu kim loại quí thứ cấp giảm 6,25%; Nitơrat Amoni giảm 5,45%; điện thương phẩm giảm 1,40%; giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 1,07%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tháng Mười tăng 16,21%, trong đó: khai khoáng giảm 6,90%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 15,47%; sản xuất và phân phối điện tăng 29,67%; cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 11,53%. Một số sản phẩm có sản lượng sản xuất tăng so với tháng cùng kỳ năm trước như: tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng hơn 5 lần; máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng hơn 4 lần; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 3,18 lần; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 108,08%; thức ăn cho gia cầm tăng 69,93%; vật liệu kim loại quí thứ cấp tăng 45,63%; bê tông trộn sẵn (bê tông tươi) tăng 40,27%; điện sản xuất tăng 40,05%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 32,57%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc tăng 31,49%; vật liệu phi kim loại thứ cấp khác tăng 30,66%; ống dẫn bằng sắt, thép không nối, dùng để dẫn dầu hoặc khí tăng 43,06%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 49,39%; dây thép không gỉ tăng 37,02%;... Bên cạnh đó, một số sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với tháng cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 40,02%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 26,20%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 21,50%; mỳ, phở, miến, bún, cháo ăn liền giảm 19,85%; tôm đông lạnh giảm 16,92%; máy và thiết bị cơ khí khác có chức năng riêng biệt chưa được phân vào đâu giảm 13,41%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 11,13%; Nitơrat Amoni giảm 8,91%;...
Chỉ số sản xuất công nghiệp
tháng Mười và mười tháng năm 2026 (%)
T10.2026
10T.2026
T10/2025
10T.2025
Chung toàn ngành công nghiệp
116,21
115,64
Khai khoáng
93,10
96,38
Công nghiệp chế biến, chế tạo
115,47
116,05
SX và phân phối điện, khí đốt, nước nóng
129,67
111,27
Cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải
111,53
115,82
Trong tháng qua, các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất tăng so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Greenworks sản xuất máy cắt cỏ tăng 408,79%; Công ty Cổ phần Daikin Air Conditioning Việt Nam - CN Hưng Yên tăng 16,58%; Công ty Cổ phần Nhà máy liên doanh Kangaroo tăng 152,91%; CN Công ty TNHH Panasonic Appliances Việt Nam tăng 2,14%; Công ty Cổ phần liên doanh Alpec tăng 33,33%; Công ty TNHH Mikasa Việt Nam tăng 90,48%; Công ty TNHH Cơ khí Tam Long tăng 33,33%; Công ty TNHH Takagi Việt Nam tăng 72,24%; Công ty Cổ phần Công nghệ Tecomen tăng 25,52%; Công ty TNHH Thiết bị điện Lioa tăng 108,08%; Công ty TNHH Dây và Cáp điện Ngọc Khánh tăng 8,3%; Công ty TNHH Sews - Components Việt Nam tăng 32,57%; Công ty TNHH Thiết bị Công nghiệp Toyota tăng 26,64%; Công ty TNHH Công nghệ Rairon Việt Nam tăng 22,10%; Công ty TNHH Neo - Neon Việt Nam tăng 64,16%; Công ty TNHH JP Corelex Việt Nam tăng 7,39%; DNTN Bao bì Minh Dũng tăng 21,29%; Công ty Cổ phần Copac tăng 8,33%; Công ty TNHH Sản xuất và thương mại Hà Phương tăng 25,0%; Công ty TNHH Phúc Kiến tăng 7,02%; Công ty TNHH Việt Đức tăng 48,85%, Công ty TNHH Toko Việt Nam tăng 160,31%; Công ty TNHH Vĩnh Tường Miền Bắc Việt Nam tăng 13,3%; Nhà máy Gạch men Mikado tăng 59,5%; Công ty cổ phần Viglacera Tiên Sơn - Nhà máy Viglacera Thái Bình tăng 6,09%; Công ty Cổ phần Hyundai Aluminum Vina tăng 29,5%; Công ty TNHH Dorco Vina tăng 10,2%; Công ty TNHH Tôn Hoà Phát tăng 6,03%; Công ty TNHH Thương mại và Công nghiệp Mỹ Việt tăng 3,72%; Công ty Cổ phần Công nghiệp Kim Fortres Việt Nam tăng 29,87%; Công ty Tôn Vikor tăng 83,0%; Công ty TNHH Minh Danh tăng 94,03%; Công ty TNHH Đức Hạnh tăng 11,3%; Công ty TNHH Quốc tế Công cụ Đỉnh Lực tăng 36,09%; Công ty Cổ phần May và Dịch vụ Hưng Long tăng 173,89%; Công ty TNHH May Minh Anh tăng 94,17%; Công ty TNHH Hanesbrands Việt Nam tăng 32,2%; Công ty Cổ phần May Việt Giang tăng 57,32%; Công ty TNHH FOREMART Việt Nam tăng 11,84%; Công ty Cổ phần May và Thương mại Mỹ Hưng tăng 103,68%; Công ty TNHH MAXPORT LIMITED (VIET NAM) - Chi nhánh Thái Bình tăng 30,43%; CN Công ty TNHH Tân Đệ tăng 194,12%; Công ty TNHH IVORY Việt Nam tăng 9,09%; Công ty TNHH May TEXHONG Thái Bình tăng 6,15%; Công ty TNHH PS Vina tăng 16,67%; Công ty TNHH May mặc V.J.ONE tăng 12,43%; Công ty TNHH MXP tăng 61,29%; CN Tổng công ty May 10 - Công ty Cổ phần Trung tâm thương mại và Sản xuất công nghệ Cao Hưng tăng 6,06%;...
Các doanh nghiệp có sản lượng sản xuất trong tháng Mười giảm so với cùng kỳ năm trước như: Công ty TNHH Giày Ngọc Tề giảm 17,45%; CN Công ty TNHH Sao vàng Quỳnh Phụ giảm 21,05%; Công ty TNHH Giày dép Thái Thuỵ giảm 9,93%; Công ty TNHH CREATIVE SOURCE Việt Nam giảm 58,55%; Công ty TNHH Long Hành Thiên Hạ giảm 12,03%; Công ty TNHH Da giày Xuất khẩu Thuận Phát giảm 21,27%; Công ty TNHH Giày VICTORY Việt Nam giảm 30,88%; Công ty Cổ phần Rượu, bia, nước giải khát Aroma giảm 54,89%; Công ty Cổ phần Tập đoàn Thaicom giảm 46,0%; Công ty Cổ phần Tập đoàn Hương Sen giảm 16,39%, Công ty cổ phần BB Vital Holdings - CN Thái Bình giảm 3,66%;...
Tính chung mười tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 15,64% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó:
Đối với ngành khai khoáng: Chỉ số sản xuất ngành khai khoáng giảm 3,62%. Trong đó, ngành khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên tăng 11,79%; khai khoáng khác giảm 3,62%.
Đối với công nghiệp chế biến, chế tạo: Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 16,05%. Trong đó, một số ngành công nghiệp cấp 2 của tỉnh có chỉ số sản xuất tăng như: sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 112,13%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 61,23%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 36,02%; sản xuất thuốc, hoá dược và dược liệu tăng 34,57%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 34,55%; sản xuất trang phục tăng 25,26%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 23,59%; sản xuất thiết bị điện tăng 18,03%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 16,82%;... Bên cạnh đó, một số ngành công nghiệp có xu hướng giảm hoặc tăng nhẹ như: sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 21,98%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 13,52%; sản xuất đồ uống giảm 6,24%; dệt giảm 0,10%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 0,70%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế); sản xuất sản phẩm từ rơm rạ và vật liệu tết bện tăng 0,63%;...
Sản lượng một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong mười tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước như: máy cắt dùng cho các bãi cỏ, công viên hoặc sân thể thao tăng 265,63%; tàu đánh bắt thuỷ hải sản, các loại tàu chuyên dụng tăng 238,71%; loa đã hoặc chưa lắp vào hộp loa tăng 66,97%; dây cách điện đơn bằng đồng tăng 43,47%; mạch điện tử tích hợp tăng 35,73%; bộ phận của thiết bị điện khác chưa được phân vào đâu tăng 31,90%; xe mô tô, xe máy và xe đạp có gắn động cơ phụ trợ với động cơ piston đốt trong xi lanh không quá 50 cc tăng 31,13%; bao và túi bằng plastic các loại tăng 27,34%; vật liệu kim loại quí thứ cấp tăng 23,92%; máy phát điện xoay chiều (máy giao điện) tăng 21,37%; thanh, que thép không gỉ, mới được gia công tạo hình nguội hoặc gia công kết nguội tăng 64,97%; dây thép không gỉ tăng 45,18%; sắt, thép không hợp kim cán phẳng không gia công quá mức cán nóng, dạng cuộn, có chiều rộng ≥ 600mm, chưa được dát phủ, mạ hoặc tráng tăng 21,99%;... Các sản phẩm có sản lượng sản xuất giảm so với cùng kỳ năm trước như: giày, dép có đế hoặc mũ bằng da giảm 29,55%; tấm, phiến, màng, lá và dải khác bằng plastic khác giảm 14,71%; giày, dép khác chưa được phân vào đâu giảm 13,25%; máy điều hòa không khí loại lắp vào cửa sổ hoặc lắp vào tường giảm 13,19%; vật liệu phi kim loại thứ cấp khác giảm 10,38%; Nitơrat Amoni giảm 7,56%; sợi từ bông (staple) tổng hợp có tỷ trọng của loại bông này dưới 85% giảm 5,99%; khăn mặt, khăn tắm và khăn khác dùng trong phòng vệ sinh, nhà bếp giảm 2,61%; sản phẩm vệ sinh gắn cố định bằng gốm sứ giảm 2,19%; thép hợp kim khác dạng thỏi đúc hoặc dạng thô khác giảm 13,31%;...
Đối với ngành công nghiệp sản xuất, phân phối điện, nước nóng và hơi nước: Trên địa bàn tỉnh chủ yếu là sản xuất điện từ Nhà máy nhiệt điện Thái Bình, Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 và phân phối điện từ Công ty Điện lực Hưng Yên (PC Hưng Yên). Năm 2026, PC Hưng Yên đề ra nhiều mục tiêu cụ thể nhằm triển khai thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh hiệu quả, bảo đảm hoàn thành và hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu mà Tổng Công ty Điện lực miền Bắc giao. Trong đó, Công ty phấn đấu thực hiện đạt chỉ tiêu độ tin cậy cung cấp điện; cung cấp điện an toàn, ổn định, phục vụ tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đạt và vượt các chỉ tiêu kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng. Ước chỉ số sản xuất và phân phối điện mười tháng tăng 11,27% so với cùng kỳ, tổng sản lượng điện sản xuất ước đạt 9.717 triệu Kwh, tăng 11,48% và sản lượng điện thương phẩm đạt 10.105 triệu Kwh tăng 13,04% so với cùng kỳ.
Cung cấp nước, HĐ quản lý và xử lý rác thải: Chỉ số sản xuất ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải mười tháng năm 2026 tăng 15,82% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: khai thác, xử lý và cung cấp nước tăng 7,05%; thoát nước và xử lý nước thải giảm 6,86%; hoạt động thu gom, xử lý, tiêu hủy rác thải và tái chế phế liệu tăng 16,84%.
b) Chỉ số sử dụng lao động
Tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm cuối tháng Mười toàn ngành tăng 2,35% so với cùng kỳ, so với tháng trước tăng 0,73%, cộng dồn mười tháng tăng 3,59% so với cùng kỳ. Mức tăng này cho thấy nhu cầu lao động của các doanh nghiệp vẫn ở mức cao, nhất là tại các doanh nghiệp có đơn hàng ổn định, mở rộng quy mô sản xuất hoặc đưa thêm dây chuyền vào hoạt động.
Một số ngành có chỉ số sử dụng lao động tăng trong mười tháng năm 2026 so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 38,91%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 28,26%; sản xuất đồ uống tăng 19,24%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị tăng 17,68%; chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa (trừ giường, tủ, bàn, ghế) tăng 15,56%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastics tăng 14,87%; sản xuất máy móc, thiết bị chưa được phân vào đâu tăng 14,78%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 13,62%;... Tuy nhiên, một số ngành có chỉ số sử dụng lao động giảm so với cùng kỳ năm trước như: sản xuất xe có động cơ giảm 8,28%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn giảm 4,71%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan giảm 4,63%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 4,01%; dệt giảm 3,33%; sản xuất thiết bị điện giảm 2,20%;...
3. Hoạt động đầu tư
a) Vốn đầu tư ngân sách nhà nước do địa phương quản lý
Những tháng cuối năm 2026, tỉnh tập trung rà soát, đánh giá lại toàn bộ các nhiệm vụ, kế hoạch đang thực hiện để điều chỉnh cách điều hành cho phù hợp, hiệu quả; tiếp tục tháo gỡ những vướng mắc, xử lý các dự án tồn đọng; đẩy nhanh hoàn thành công tác giải phóng mặt bằng, nhất là hoàn thành dứt điểm các dự án đã chậm tiến độ nhiều lần; tiếp tục khởi công những dự án, công trình mới, phấn đấu giải ngân 100% vốn đầu tư công; tăng cường xúc tiến, thu hút đầu tư, hướng đến những doanh nghiệp lớn, công nghệ cao; tập trung công tác xây dựng quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn, tăng tốc hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai; triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý trong tháng Mười toàn tỉnh ước đạt 6.232 tỷ đồng, tăng 24,11%, tương ứng tăng 1.211 tỷ đồng so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 5.594 tỷ đồng, tăng 80,60%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 638 tỷ đồng, giảm 66,83%. Tính chung mười tháng năm 2026, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước do địa phương quản lý toàn tỉnh ước đạt 35.880 tỷ đồng, tăng 19,03%, tương ứng tăng 5.736 tỷ đồng so với cùng kỳ năm trước và đạt 66,20% kế hoạch năm. Trong đó: vốn ngân sách nhà nước cấp tỉnh 27.132 tỷ đồng, tăng 56,64%; vốn ngân sách nhà nước cấp xã 8.749 tỷ đồng, giảm 31,78%.
Một số công trình, dự án được chú trọng thực hiện trong tháng Mười như: Dự án Xây dựng đường bên và các cầu vượt trên tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng, vốn đầu tư 9.275 tỷ đồng, dự kiến tháng qua đạt 176 tỷ đồng; Dự án thành phần 1: Dự án đầu tư xây dựng nhà khoa khám bệnh và hạ tầng kỹ thuật đồng bộ của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình tại Khu trung tâm Y tế tỉnh, vốn đầu tư 2.351 tỷ đồng, ước tính tháng Mười đạt 64 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình, vốn đầu tư 9,337 tỷ đồng, dự kiến tháng qua đạt 251 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng đường gom dọc QL.39 đoạn từ giao QL.5 đến nút giao cầu vượt QL.39 (Km9+926 lý trình QL.39), vốn đầu tư 2,441 tỷ đồng, ước tính tháng qua đạt 103 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường từ TP. Thái Bình đi huyện Hưng Hà kết nối với tỉnh Hưng Yên, vốn đầu tư 4,927,9 tỷ đồng, ước tính tháng qua đạt 50 tỷ đồng; Dự án Xây dựng đường bên và các cầu vượt trên tuyến đường kết nối di sản văn hóa du lịch và phát triển kinh tế dọc sông Hồng, vốn đầu tư 980 tỷ đồng, dự kiến tháng qua đạt 121 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng các tuyến đường trục kết nối với các khu chức năng trong Khu kinh tế tỉnh Thái Bình, dự kiến tháng qua đạt 121 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng các cầu vượt và bảo đảm an toàn giao thông trên tuyến đường bộ nối đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình, vốn đầu tư 364 tỷ đồng, dự kiến tháng qua đạt 65 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình, vốn đầu tư 9.337 tỷ đồng, dự kiến tháng qua đạt 251 tỷ đồng; Dự án Đầu tư xây dựng tuyến đường từ thành phố Thái Bình đi cầu Nghìn theo hình thức đầu tư công, vốn đầu tư 2120 tỷ đồng, dự kiến tháng Mười đạt 59 tỷ đồng; Dự án đầu tư xây dựng đường gom dọc QL.39 đoạn từ giao QL.5 đến nút giao cầu vượt QL.39 (Km9+926 lý trình QL.39), vốn đầu tư 2.441 tỷ đồng, dự kiến tháng qua đạt 104 tỷ đồng;...
b) Hoạt động đầu tư nước ngoài
Tính đến ngày 27/10/2026, toàn tỉnh có 1.017 dự án có vốn đầu tư nước ngoài đăng ký hoạt động, với tổng số vốn đăng ký là 19.101,39 triệu USD. Trong đó, từ đầu năm đến ngày 27/10/2026, có 52 dự án đăng ký mới với số vốn đăng ký 930,68 triệu USD. Các quốc gia có số dự án, vốn đầu tư chủ yếu là: thứ nhất là Nhật Bản có 205 dự án, vốn đăng ký là 6.819,61 triệu USD, chiếm 35,70% tổng vốn đăng ký; thứ hai là Trung Quốc có 398 dự án, vốn đăng ký 4.884,33 triệu USD, chiếm 25,57% tổng số vốn đăng ký; thứ ba là Hàn Quốc có 216 dự án, vốn đăng ký 2.289,28 triệu USD, chiếm 11,98% tổng vốn đăng ký.
c) Phát triển doanh nghiệp
Tính từ ngày 22/9/2026 đến ngày 21/10/2026, số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới trên địa bàn tỉnh là 334 doanh nghiệp, dự kiến sử dụng 1.941 lao động, với vốn đầu tư đăng ký 1.892 tỷ đồng. Các doanh nghiệp thành lập mới hoạt động trong các lĩnh vực: công nghiệp chế biến, chế tạo 72 doanh nghiệp, sử dụng 640 lao động, vốn đăng ký 472 tỷ đồng; bán buôn; bán lẻ; sửa chữa ô tô, xe máy 109 doanh nghiệp, sử dụng 448 lao động, vốn đăng ký 523 tỷ đồng; vận tải kho bãi 32 doanh nghiệp, sử dụng 98 lao động, vốn đăng ký 121 tỷ đồng; xây dựng 46 doanh nghiệp, sử dụng 279 lao động, vốn đăng ký 217 tỷ đồng; kinh doanh bất động sản 6 doanh nghiệp, sử dụng 34 lao động, vốn đăng ký 351 tỷ đồng; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 15 doanh nghiệp, sử dụng 91 lao động, vốn đăng ký 47 tỷ đồng; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 13 doanh nghiệp, sử dụng 185 lao động, vốn đăng ký 25 tỷ đồng; giáo dục đào tạo 18 doanh nghiệp, sử dụng 75 lao động, vốn đăng ký 78 tỷ đồng;...
Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/10/2026, toàn tỉnh có 4.364 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới, dự kiến sử dụng 34.251 lao động với vốn đầu tư đăng ký đạt 46.498 tỷ đồng. Trong đó: ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy có số doanh nghiệp đăng ký thành lập mới nhiều nhất, với 1.748 doanh nghiệp, sử dụng 6.856 lao động, vốn đăng ký đạt 7.038 tỷ đồng (chiếm 15,14% tổng vốn đăng ký); công nghiệp chế biến, chế tạo 857 doanh nghiệp, sử dụng 17.143 lao động, vốn đăng ký đạt 8.906 tỷ đồng (chiếm 19,15%); xây dựng 423 doanh nghiệp, sử dụng 1.965 lao động, vốn đăng ký 2.409 tỷ đồng (chiếm 5,18%); hoạt động vận tải, kho bãi 354 doanh nghiệp, sử dụng 1.303 lao động, vốn đăng ký 1.579 tỷ đồng (chiếm 3,40%); giáo dục và đào tạo 100 doanh nghiệp, sử dụng 373 lao động, vốn đăng ký 311 tỷ đồng (chiếm 0,67%); kinh doanh bất động sản 154 doanh nghiệp, sử dụng 1.388 lao động, vốn đăng ký 22.012 tỷ đồng (chiếm 47,34%); hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ 207 doanh nghiệp, sử dụng 953 lao động, vốn đăng ký 520 tỷ đồng (chiếm 1,12%); hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ 150 doanh nghiệp, sử dụng 789 lao động, vốn đăng ký 576 tỷ đồng (chiếm 1,24%);...
Số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong tháng Mười (tính từ ngày 22/9/2026 đến ngày 21/10/2026) toàn tỉnh là 60 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/10/2026, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động sau thời gian tạm ngừng là 670 doanh nghiệp.
Cũng từ ngày 22/9/2026 đến ngày 21/10/2026, số doanh nghiệp giải thể là 202 doanh nghiệp, doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh là 59 doanh nghiệp. Lũy kế từ ngày 22/12/2025 đến ngày 21/10/2026, toàn tỉnh có 946 doanh nghiệp giải thể và 1.599 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh. Trong đó: ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có 199 doanh nghiệp giải thể và 388 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, lần lượt chiếm 21,04% tổng số doanh nghiệp giải thể và chiếm 24,27% tổng số doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động; ngành bán buôn, bán lẻ có 345 doanh nghiệp giải thể và 544 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 36,47% và 34,02%; kinh doanh bất động sản có 58 doanh nghiệp giải thể và 37 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh, chiếm 6,13% và 2,31%; hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ có 37 doanh nghiệp giải thể và 68 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 3,91% và 4,25%; giáo dục và đào tạo có 80 doanh nghiệp giải thể và 36 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động, chiếm 8,46% và 2,25%;...
4. Thương mại, dịch vụ
Tổng mức bán lẻ hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng xã hội
Tháng Mười và mười tháng năm 2026
Tháng 10.2026
10T.2026
T10.2026
T10.2025
10T.2026
10T.2025
(Tỷ đồng)
(Tỷ đồng)
(%)
(%)
Tổng số
27.204
250.405
116,46
117,41
Thương nghiệp
12.516
123.172
114,75
118,31
Lưu trú, ăn uống
1.309
12.659
124,11
117,87
Du lịch
10
103
173,69
116,79
Dịch vụ
13.369
114.471
117,36
116,40
Tháng Mười, hoạt động thương mại và dịch vụ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tiếp tục duy trì ổn định và có xu hướng phát triển tích cực. Nguồn cung hàng hóa trên thị trường cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của người dân; mạng lưới phân phối, bán lẻ hàng hóa hoạt động thông suốt. Nhu cầu mua sắm hàng hóa phục vụ đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất, kinh doanh góp phần thúc đẩy lưu thông hàng hóa trên địa bàn tỉnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng Mười ước đạt 27.204 tỷ đồng, tăng 4,08% so với tháng trước và tăng 16,46% so với cùng kỳ năm trước. Cộng dồn mười tháng năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng toàn tỉnh ước đạt 250.405 tỷ đồng, tăng 17,41% so cùng kỳ năm trước. Tình hình tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo nhóm ngành cụ thể như sau:
Bán lẻ hàng hóa: Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng Mười ước đạt 12.516 tỷ đồng, chiếm 46,01% trong tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng, tăng 1,53% so với tháng trước và tăng 14,75% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 11/12 nhóm ngành hàng có doanh thu tăng cao so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 9,11%; hàng may mặc tăng 12,68%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 17,76%; vật phẩm văn hóa, giáo dục tăng 91,30%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 26,30%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 27,94%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 49,68%; xăng, dầu các loại tăng 10,51%; nhiên liệu khác trừ xăng, dầu tăng 74,50%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 25,67%; duy nhất chỉ có nhóm hàng hóa khác giảm 10,16%.
Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu bán lẻ hàng hóa ước đạt 123.172 tỷ đồng, tăng 18,31% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm ngành hàng đều tăng so với cùng kỳ năm trước như: lương thực, thực phẩm tăng 21,43%; hàng may mặc tăng 17,42%; đồ dùng, dụng cụ trang thiết bị gia đình tăng 14,03%; vật phẩm, văn hóa, giáo dục tăng 70,83%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 14,62%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 32,07%; phương tiện đi lại (trừ ô tô con, kể cả phụ tùng) tăng 14,68%; xăng dầu các loại tăng 19,05%; nhiên liệu khác (trừ xăng, dầu) tăng 50,75%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 36,72%; hàng hóa khác tăng 3,79%.
Dịch vụ lưu trú và ăn uống: doanh thu tháng Mười ước đạt 1.309 tỷ đồng, tăng 1,86% so với tháng trước và tăng 24,11% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 38 tỷ tăng 1,06% so với tháng trước và tăng 16,53% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ ăn uống 1.271 tỷ đồng, tăng 1,89% so với tháng trước và tăng 24,35% so với cùng kỳ năm trước. Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tiếp tục tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu dùng của người dân và thay đổi về nhu cầu thị trường. Một số cơ sở kinh doanh ăn uống đã mở rộng quy mô, cải thiện không gian, nâng cao chất lượng món ăn và dịch vụ, đa dạng hóa hình thức phục vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Bên cạnh đó, hoạt động sản xuất kinh doanh tại các khu công nghiệp, quá trình phát triển đô thị và nhu cầu tiêu dùng thường xuyên tiếp tục tạo điều kiện cho ngành lưu trú, ăn uống mở rộng thị trường.
Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ lưu trú và ăn uống ước đạt 12.659 tỷ đồng, tăng 17,87% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, dịch vụ lưu trú 366 tỷ đồng, tăng 13,82%; dịch vụ ăn uống 12.293 tỷ đồng, tăng 18,00%. Kết quả này phản ánh nhu cầu thị trường tiếp tục được duy trì, cùng với sự chủ động thích ứng của các cơ sở kinh doanh trước những thay đổi về không gian hành chính, dân cư và hoạt động kinh tế trên địa bàn tỉnh.
Doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành tháng Mười ước đạt 10 tỷ đồng, giảm 2,99% so với tháng trước và tăng 73,69% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ du lịch, lữ hành ước đạt 103 tỷ đồng, tăng 16,79% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả cho thấy hoạt động lữ hành duy trì mức tăng trưởng, song quy mô doanh thu còn khiêm tốn. Trong thời gian tới, việc đa dạng hóa sản phẩm du lịch, kết nối các điểm đến văn hóa, di sản, sinh thái và du lịch biển, đồng thời nâng cao chất lượng các chương trình tham quan, trải nghiệm sẽ góp phần mở rộng thị trường khách và cải thiện doanh thu của ngành.
Doanh thu dịch vụ khác khác tháng Mười ước đạt 13.369 tỷ đồng, tăng 6,82% so với tháng trước và tăng 17,36% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến một số ngành có doanh thu lớn như sau: dịch vụ kinh doanh bất động sản ước đạt 11.943 tỷ đồng, tăng 7,55% so với tháng trước và tăng 17,78% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ ước đạt 521 tỷ đồng, tăng 1,85% so với tháng trước và tăng 12,72% so với cùng kỳ năm trước; dịch vụ giáo dục và đào tạo ước đạt 242 tỷ đồng, tăng 0,42% so với tháng trước và tăng 15,99% so với cùng kỳ; dịch vụ y tế và hoạt động trợ giúp xã hội ước đạt 259 tỷ đồng, tăng 0,87% so với tháng trước và tăng 14,37% so với cùng kỳ; dịch vụ khác ước đạt 319 tỷ đồng, tăng 0,30% so với tháng trước và tăng 13,74% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ khác ước đạt 114.471 tỷ đồng, tăng 16,40% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành kinh doanh bất động sản chiếm tỷ trọng cao nhất - chiếm tới 88,47% tổng doanh thu các ngành dịch vụ khác và tăng 16,92% so cùng kỳ; ngành dịch vụ hành chính và dịch vụ hỗ trợ tăng 12,64%; dịch vụ giáo dục và đào tạo tăng 11,38%; dịch vụ y tế và trợ giúp xã hội tăng 14,23%; dịch vụ nghệ thuật vui chơi, giải trí tăng 14,48%; dịch vụ khác tăng 11,51%.
Sau sáp nhập tỉnh (từ ngày 01/7/2025), việc triển khai định hướng phát triển không gian kinh tế thống nhất trên địa bàn tỉnh tạo thêm điều kiện kết nối các khu vực, khai thác tiềm năng đất đai và thu hút đầu tư. Đáng chú ý, Hội nghị công bố điều chỉnh Quy hoạch tỉnh ngày 12/10/2026 góp phần quảng bá tiềm năng, định hướng phát triển và tăng cường kết nối với cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư, tạo kỳ vọng thúc đẩy thị trường bất động sản trong thời gian tới. Tuy nhiên, mức tăng doanh thu trong tháng còn chịu tác động của tình hình giao dịch và tiến độ triển khai các dự án thực tế.
5. Chỉ số giá
a) Chỉ số giá tiêu dùng
Giá xăng dầu trong nước được điều chỉnh tăng theo diễn biến của giá nhiên liệu trên thị trường thế giới tăng, cùng với giá gas, giá thiết bị và đồ dùng gia đình tăng là những nguyên nhân chính khiến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng Mười năm 2026 tăng 0,27% so với tháng trước. So với tháng cùng kỳ năm trước, CPI vẫn duy trì mức tăng 4,37%; bình quân mười tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước.
So với tháng trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười tăng 0,27%. Trong 11 nhóm hàng hóa và dịch vụ chính, có 06 nhóm hàng có chỉ số giá tăng và 05 nhóm hàng có chỉ số giá giảm. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng là: nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 0,69%; nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,50%; nhóm thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,40%; nhóm giao thông tăng 2,43%; nhóm giáo dục tăng 0,31%; nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,65%. Ngược lại, các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm là: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,61%; nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 1,07%; nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,45%; nhóm thông tin và truyền thông giảm 0,17%; nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,48%.
Chỉ số giá tiêu dùng, vàng và đô la Mỹ
tháng Mười năm 2026
T10.2026
T9.2026
T10.2026
T10.2025
10T.2026
10T.2025
(%)
(%)
(%)
Chỉ số giá tiêu dùng chung
100,27
104,37
104,30
Chỉ số vàng
97,29
99,77
140,26
Chỉ số đô la Mỹ
99,67
98,26
100,98
Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười so với tháng trước của một số nhóm hàng chính như sau:
Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,61%, chủ yếu do: (1) Chỉ số giá nhóm lương thực giảm 1,17%, trong đó chỉ số giá nhóm gạo giảm 1,76% so với tháng trước (gạo tẻ thường giảm 1,58%; gạo tẻ ngon giảm 1,83%; gạo nếp giảm 3,82%) do nguồn cung lúa, gạo tăng mạnh sau thu hoạch, trong khi nhu cầu tiêu dùng ổn định, đồng thời chi phí vận chuyển không tăng. (2) Chỉ số giá nhóm thực phẩm giảm 0,66% do: Nhóm thịt gia súc giảm 2,88% (trong đó nhóm thịt lợn giảm 3,69%; thịt bò giảm 0,95%; nội tạng động vật giảm 1,33%; thịt gia súc đông lạnh giảm 2,50%). Nhóm thịt gia cầm giảm 0,61% (nhóm thịt gà giảm 0,66%; thịt gia cầm khác giảm 0,39%; thịt gia cầm đông lạnh giảm 1,99%), do nguồn cung tăng khi nhiều đàn lợn, gà, vịt đến kỳ xuất chuồng, trong khi nhu cầu tiêu dùng không có sự gia tăng tương ứng. Chỉ số giá nhóm rau tươi, khô và chế biến giảm 1,87%, chủ yếu là do một số loại rau chính vụ như: rau muống, đỗ quả tươi, bắp cải, su hào, bí xanh, rau cải xanh,... giảm giá bán.
Nhóm đồ uống và thuốc lá giảm 1,07%, giảm ở một số mặt hàng: nước giải khát có ga giảm 2,31%; nước ép quả giảm 1,12%; rượu vang giảm 2,06%; bia lon giảm 0,83%; thuốc lá giảm 2,05%;... do chính sách giá và chương trình khuyến mại của các cửa hàng, siêu thị kinh doanh cũng như biến động nguồn cung và giá bán tại các khâu phân phối.
Nhóm may mặc, mũ nón và giày dép giảm 0,45%, do một số mặt hàng như: vải các loại giảm 2,84%; quần áo may sẵn giảm 1,06%; găng tay, thắt lưng, cà vạt giảm 0,58%,... do một số mặt hàng mẫu mã lỗi mốt được các cửa hàng điều chỉnh giảm giá nhằm kích cầu tiêu dùng, đẩy nhanh tiêu thụ hàng tồn kho. Bên cạnh đó, thời tiết chuyển từ mùa hè sang mùa thu – đông làm thay đổi nhu cầu và cơ cấu tiêu dùng đối với một số mặt hàng may mặc, giày dép, góp phần tác động đến diễn biến giá của nhóm hàng trong tháng.
Nhóm nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 0,69%, chủ yếu do chỉ số giá gas tăng 17,31% do giá gas trong nước phụ thuộc phần lớn vào giá gas nhập khẩu; chỉ số giá nhóm vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng nhẹ 0,06% do một số mặt hàng thép, cát đen, cát vàng, đá răm tăng nhẹ.
Nhóm thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,50%, trong đó, một số nhóm hàng có chỉ số giá tăng như: nhóm hàng thủy tinh, sành, sứ tăng 1,08%; vật phẩm tiêu dùng khác tăng 1,00%; đồng hồ treo tường, để bàn và gương tăng 0,79%; đồ dùng bằng kim loại tăng 0,69%; xà phòng và chất tẩy rửa tăng 0,65%; đồ dùng trong nhà tăng 0,62%; đồ nhựa và cao su tăng 0,37%; giường, tủ, bàn ghế tăng 0,18%. Nguyên nhân chủ yếu do giá một số mặt hàng, vật dụng phục vụ sinh hoạt gia đình tăng, cùng với biến động chi phí nguyên vật liệu đầu vào, vận chuyển và nhân công, góp phần làm tăng mặt bằng giá của nhóm hàng trong tháng.
Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 2,43%, chủ yếu do giá nhiên liệu tăng 6,41% theo diễn biến giá thị trường thế giới và các kỳ điều chỉnh giá trong nước; trong đó, giá xăng tăng 6,55%, giá dầu diezel tăng 0,73%. Bên cạnh đó, chỉ số giá dịch vụ bảo dưỡng phương tiện đi lại tăng 3,51%, trong đó dịch vụ sửa chữa xe máy tăng 3,69%, sửa chữa xe đạp tăng 0,61%. Chỉ số giá dịch vụ khác đối với phương tiện vận tải cá nhân tăng 2,41%; trong đó, dịch vụ trông giữ xe tăng 3,80%, dịch vụ rửa xe, bơm xe tăng 1,44%, phí học bằng lái xe tăng 1,34% và dịch vụ thuê ô tô, xe máy tự lái tăng 0,17%. Những biến động trên đã góp phần làm tăng chỉ số giá nhóm giao thông trong tháng.
Nhóm văn hóa, giải trí và du lịch giảm 0,48%, nguyên nhân chủ yếu do giá một số dịch vụ du lịch, vui chơi và giải trí giảm; nhu cầu sử dụng các dịch vụ này có xu hướng giảm so với tháng trước, đồng thời các cơ sở kinh doanh triển khai các chương trình giảm giá, khuyến mại nhằm thu hút khách hàng, góp phần làm giảm chỉ số giá của nhóm trong tháng.
Nhóm hàng hóa và dịch vụ khác tăng 1,65%, chủ yếu do giá một số dịch vụ tăng, trong đó: dịch vụ cắt tóc, gội đầu tăng 4,56%; dịch vụ chăm sóc cá nhân tăng 2,77%; dịch vụ về hỉ tăng 4,36%; dịch vụ về hiếu tăng 1,64%; dịch vụ bảo hiểm giao thông tăng 1,84%; dịch vụ hành chính, pháp lý tăng 1,61%; dịch vụ chăm sóc người già tăng 0,44%;… Mức tăng của nhóm chủ yếu phản ánh sự biến động giá của các dịch vụ phục vụ nhu cầu sinh hoạt, chăm sóc cá nhân và các nhu cầu xã hội khác trong tháng.
So với tháng 12 năm 2025, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười tăng 3,80%. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng, cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 1,70%; đồ uống và thuốc lá tăng 1,86%; may mặc, mũ nón và giày dép tăng 0,44%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,89%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,34%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,91%; giao thông tăng 12,80%; thông tin và truyền thông tăng 0,31%; giáo dục tăng 0,70%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,04%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,43%.
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá tiêu dùng tháng Mười tăng 4,37%. Trong đó: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 3,66% (lương thực giảm 0,24%; thực phẩm tăng 4,08%; ăn uống ngoài gia đình tăng 5,43%); đồ uống và thuốc lá tăng 3,72%; hàng may mặc, mũ nón và giày dép tăng 1,60%; nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 4,95%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 4,31%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,54%; giao thông tăng 12,54%; thông tin và truyền thông tăng 0,48%; giáo dục tăng 0,70%; văn hoá, giải trí và du lịch tăng 3,67%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 6,89%.
Bình quân chung mười tháng năm 2026, chỉ số giá tiêu dùng tăng 4,30% so với cùng kỳ năm trước. Tất cả các nhóm hàng hóa và dịch vụ chính đều có chỉ số giá tăng. Cụ thể: nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,15%; đồ uống và thuốc lá tăng 5,07%; hàng may mặc, mũ nón và giày dép tăng 2,37%; nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây dựng tăng 5,78%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 3,36%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 1,33%; giao thông tăng 5,80%; thông tin và truyền thông tăng 0,90%; giáo dục tăng 0,88%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 4,26%; hàng hóa và dịch vụ khác tăng 3,57%.
Một số nguyên nhân chính làm chỉ số giá tiêu dùng bình quân mười tháng năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: (1) Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng 5,15% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: nhóm thực phẩm tăng 5,55% do giá các mặt hàng thiết yếu như thịt gia súc, gia cầm, thịt chế biến, trứng, thủy sản rau tươi, khô và chế biến tăng do chi phí sản xuất, vận chuyển tăng và nhu cầu tiêu dùng tăng; nhóm ăn uống ngoài gia đình tăng 5,92% do giá nguyên liệu thực phẩm và chi phí đầu vào tăng dẫn đến giá các suất ăn, đồ uống và dịch vụ ăn uống tăng theo. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ ăn uống ngoài gia đình tăng đã góp phần tác động đến mặt bằng giá của nhóm ăn uống. (2) Chỉ số giá nhóm đồ uống và thuốc lá tăng 5,07%, chủ yếu do giá nước khoáng, nước có ga, rượu, bia các loại và thuốc lá tăng, do giá nguyên vật liệu, chi phí sản xuất, nhân công, vận chuyển tăng dẫn đến giá bán các mặt hàng đồ uống và thuốc lá tăng. (3) Giá nhà ở, điện nước, chất đốt và vật liệu xây tăng 5,78% so với cùng kỳ, chủ yếu do giá nhà ở thuê, dịch vụ sửa chữa nhà ở và vật liệu bảo dưỡng nhà ở tăng, do chi phí đầu vào, nhân công và vận chuyển tăng, đồng thời nhu cầu xây dựng và sửa chữa nhà ở tăng đã tác động tăng giá nhóm này. (4) Giá điện sinh hoạt bình quân tăng 3,69% do nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng và thiết bị sinh hoạt tăng vào mùa hè, cùng với đó chi phí truyền tải và bảo trì lưới điện tăng. (5) Chỉ số giá nhóm giao thông tăng 5,80%, chủ yếu do giá nhiên liệu, đặc biệt là giá xăng, dầu tăng so với cùng kỳ, trong đó giá xăng tăng 13,10%; giá dầu diezel tăng 41,46%; đồng thời chi phí vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng phương tiện và giá một số dịch vụ vận tải tăng do chi phí đầu vào tăng. (6) Chỉ số giá nhóm văn hóa và giải trí du lịch tăng 4,26% so với cùng kỳ, chủ yếu do nhu cầu du lịch, nghỉ dưỡng và vui chơi giải trí tăng, nhất là trong các dịp nghỉ lễ và mùa du lịch; đồng thời giá một số dịch vụ lưu trú, tham quan, giải trí và lữ hành tăng so với cùng kỳ, góp phần làm tăng chỉ số giá của nhóm này.
b) Chỉ số giá vàng và đô la Mỹ
Chỉ số giá vàng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 10/2026 giảm 2,71% so với tháng trước, nguyên nhân chủ yếu do giá vàng trong nước điều chỉnh giảm theo diễn biến của giá vàng thế giới. Bình quân tháng 10/2026 giá vàng xấp xỉ 14.277.010 VNĐ/chỉ.
Chỉ số giá đô la Mỹ (USD) tháng 10/2026 giảm so với tháng trước, chủ yếu do tỷ giá USD trên thị trường trong nước có xu hướng giảm do nguồn cung ngoại tệ trong nước tương đối ổn định, bên cạnh đó chính sách điều hành tỷ giá linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước góp phần giữ tỷ giá trong nước ổn định, khiến giá USD giảm so với tháng trước. Chỉ số giá đồng đô la Mỹ trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng 10/2026 giảm 0,33% so với tháng trước, tỷ giá chuyển đổi 1USD xấp xỉ 25.923 VNĐ.
c) Chỉ số giá sản xuất
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Mười giảm nhẹ - giảm 0,05%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 0,09%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp ổn định; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản giảm 0,76%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: thuốc lào giảm 0,89%; rau lấy lá giảm 0,72%; rau họ đậu giảm 0,10%; hoa phong lan giảm 0,17%; sản phẩm cây ăn quả vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới giảm 0,69%; chanh thường giảm 0,43%; các loại quả có múi còn lại giảm 1,31%; sản phẩm chăn nuôi lợn và giống lợn giảm 1,34%; sản phẩm thủy sản khai thác biển giảm 1,49%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng biển giảm 2,56%; tôm nuôi nội địa giảm 1,89%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa giảm 0,15%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 0,46%; ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 0,41%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 2,07%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 0,97%; dưa lấy quả tăng 1,67%; rau lấy quả tăng 1,21%; nấm trồng các loại tăng 1,13%; hoa cúc bông tăng 1,13%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 0,48%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu hàng năm tăng 0,70%; sản phẩm cây hàng năm khác còn lại tăng 2,20%; quýt tăng 1,11%; bưởi tăng 2,52%; nhãn tăng 0,53%; sản phẩm cây chè tăng 3,42%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 1,62%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 0,50%; sản phẩm chăn nuôi dê, cừu, hươu, nai tăng 0,81%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 0,54%; sản phẩm chăn nuôi khác tăng 1,44%; dịch vụ nông nghiệp tăng 0,72%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 0,64%; cá nuôi nội địa tăng 0,89%;...
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tháng Mười năm 2026 tăng 4,48%, trong đó: chỉ số giá sản xuất nông nghiệp tăng 4,45%; chỉ số giá sản xuất lâm nghiệp tăng 12,96%; chỉ số giá sản xuất thuỷ sản tăng 4,57%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thóc khô tăng 1,80%; ngô và sản phẩm cây lương thực có hạt khác tăng 1,75%; sản phẩm cây lấy củ có chất bột tăng 4,58%; mía cây tươi tăng 7,38%; thuốc lá, thuốc lào tăng 2,86%; sản phẩm cây có hạt chứa dầu tăng 4,78%; rau lấy lá tăng 9,68%; dưa lấy quả tăng 9,41%; rau họ đậu tăng 11,79%; rau lấy quả tăng 19,08%; rau lấy củ, lấy rễ hoặc lấy thân tăng 5,52%; nấm trồng các loại tăng 11,91%; đậu đỗ hạt khô các loại tăng 8,60%; hoa các loại tăng 3,86%; sản phẩm cây gia vị hàng năm tăng 23,31%; xoài tăng 12,88%; quả na tăng 8,37%; ổi tăng 23,53%; chanh thường tăng 9,53%; bưởi tăng 5,41%; các loại quả có múi còn lại tăng 13,02%; nhãn tăng 21,46%; vải tăng 37,54%; sản phẩm cây lấy quả chứa dầu tăng 18,75%; sản phẩm cây chè tăng 11,07%; sản phẩm cây dược liệu, hương liệu lâu năm tăng 5,51%; sản phẩm cây cảnh lâu năm tăng 4,63%; sản phẩm chăn nuôi trâu, bò tăng 5,12%; sản phẩm chăn nuôi lợn và giống lợn tăng 1,62%; sản phẩm chăn nuôi gà tăng 4,34%; dịch vụ nông nghiệp tăng 6,12%; sản phẩm lâm sản khai thác khác tăng 12,96%; sản phẩm thủy sản khai thác biển tăng 6,04%; sản phẩm thủy sản khai thác nội địa tăng 3,99%; cá nuôi biển tăng 2,08%; cá nuôi nội địa tăng 6,10%; tôm nuôi nội địa tăng 3,56%; sản phẩm thủy sản khác nuôi nội địa tăng 6,28%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá giảm như: mực nang giảm 2,54%; sản phẩm thủy sản nuôi trồng biển giảm 2,56%;...
So với tháng trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Mười năm 2026 giảm 0,74%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo giảm 0,74%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí giảm 1,00%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải giảm 0,34%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 4,79%; sản phẩm may trang phục giảm 10,22%; trang phục dệt kim, đan, móc giảm 0,83%; sản phẩm khác từ giấy và bìa chưa được phân vào đâu giảm 1,50%; dịch vụ liên quan đến in giảm 0,92%; hóa chất cơ bản giảm 2,64%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý giảm 1,20%; các cấu kiện kim loại giảm 1,68%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 5,55%; phụ tùng và bộ phận phụ trợ cho xe ô tô và xe có động cơ khác giảm 1,60%; mô tô, xe máy giảm 1,60%; đồ kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 0,41%; điện sản xuất giảm 0,28%; điện mặt trời giảm 0,44%; dịch vụ truyền tải và phân phối điện giảm 3,51%; dịch vụ tái chế phế liệu, vật liệu thứ cấp giảm 0,48%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: rau quả chế biến tăng 4,78%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 1,59%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 6,67%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 1,36%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 1,51%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 1,28%; giày, dép tăng 1,47%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 1,89%; sợi tổng hợp, nhân tạo tăng 1,98%; sản phẩm khác từ cao su tăng 1,32%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 4,72%; sản phẩm khác bằng kim loại chưa được phân vào đâu tăng 1,27%; sản phẩm điện tử dân dụng tăng 0,74%; băng, đĩa từ tính và quang học tăng 2,29%; mô tơ, máy phát tăng 1,46%; pin và ắc quy tăng 1,70%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 4,25%; máy cho ngành dệt, may và da tăng 5,11%; xe ô tô và xe có động cơ khác tăng 1,50%; đồ chơi, trò chơi tăng 2,40%; dịch vụ sửa chữa máy móc, thiết bị tăng 1,21%;…
So với tháng cùng kỳ năm trước, chỉ số giá sản xuất công nghiệp tháng Mười năm 2026 tăng 3,98%, trong đó: chỉ số giá sản xuất sản phẩm công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 4,08%; chỉ số giá sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí tăng 2,54%; chỉ số giá nước tự nhiên khai thác, dịch vụ quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 1,26%. Một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất tăng như: thủy sản và các sản phẩm từ thủy sản chế biến, bảo quản tăng 7,80%; dầu, mỡ động, thực vật chế biến tăng 11,15%; tinh bột và các sản phẩm từ tinh bột tăng 18,52%; món ăn, thức ăn chế biến sẵn tăng 8,22%; thức ăn gia súc, gia cầm và thủy sản tăng 7,04%; đồ uống không cồn, nước khoáng tăng 5,19%; vải dệt kim, vải đan móc và vải không dệt khác tăng 4,57%; giày, dép tăng 5,69%; gỗ được cưa, xẻ và bào tăng 18,97%; dịch vụ liên quan đến in tăng 11,55%; hóa chất cơ bản tăng 71,74%; sản phẩm hóa chất khác chưa được phân vào đâu tăng 10,11%; sản phẩm từ plastic tăng 4,72%; sản phẩm vật liệu xây dựng từ đất sét tăng 4,61%; sản phẩm xi măng, vôi và thạch cao tăng 4,72%; sản phẩm bê tông và các sản phẩm từ bê tông, xi măng và thạch cao tăng 18,44%; đá đã được cắt, tạo dáng và hoàn thiện tăng 5,77%; sản phẩm gang, sắt, thép tăng 4,97%; sản phẩm kim loại màu và kim loại quý tăng 29,88%; cấu kiện kim loại tăng 5,50%; máy vi tính và thiết bị ngoại vi của máy vi tính tăng 5,77%; dây, cáp điện và điện tử khác tăng 52,03%; máy khai thác mỏ và xây dựng tăng 5,35%; máy cho ngành dệt, may và da tăng 9,76%; mô tô, xe máy tăng 5,00%; giường, tủ, bàn ghế bằng gỗ tăng 7,28%; đồ chơi, trò chơi tăng 12,50%; dịch vụ sửa chữa và bảo dưỡng phương tiện vận tải tăng 8,75%; điện sản xuất tăng 7,41%; nước tự nhiên khai thác tăng 8,50%;... Ngược lại, một số sản phẩm, nhóm sản phẩm có chỉ số giá sản xuất giảm như: cà phê giảm 30,50%; vải dệt thoi giảm 5,55%; sản phẩm may trang phục giảm 3,84%; giấy nhăn, bìa nhăn, bao bì từ giấy giảm 10,84%; sản xuất linh kiện điện tử giảm 1,04%; pin và ắc quy giảm 2,49%; thiết bị điện khác giảm 1,81%; bi, bánh răng, hộp số, các bộ phận điều khiển và truyền chuyển động giảm 19,39%; máy thông dụng khác giảm 2,24%; máy công cụ và máy tạo hình kim loại giảm 11,66%; đồ giả kim hoàn và chi tiết liên quan giảm 2,14%; dịch vụ sửa chữa thiết bị điện giảm 3,70%; dịch vụ thu gom rác thải không độc hại giảm 3,18%;...
6. Hoạt động vận tải
Doanh thu hoạt động vận tải, kho bãi tháng Mười ước đạt 2.582 tỷ đồng, tăng 0,95% so với tháng trước và tăng 16,78% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu vận tải, kho bãi ước đạt 24.653 tỷ đồng, tăng 17,16% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả một số chỉ tiêu chủ yếu ngành vận tải toàn tỉnh như sau:
Vận tải hành khách: Vận tải hành khách tháng Mười ước đạt 5,9 triệu lượt người vận chuyển và 551 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt giảm 2,32% về lượt người vận chuyển, giảm 1,39% về lượt người luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 9,48% về lượt người vận chuyển, tăng 8,06% về lượt người luân chuyển; doanh thu vận tải hành khách tháng Mười ước đạt 430 tỷ đồng, giảm 1,75% so với tháng trước và tăng 15,48% so cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười tháng năm 2026, vận tải hành khách ước đạt 59 triệu lượt người vận chuyển và 5.406 triệu lượt người luân chuyển, lần lượt tăng 10,26% về lượt người vận chuyển và tăng 10,28% về lượt người luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hành khách mười tháng ước đạt 4.219 tỷ đồng, tăng 13,38% so cùng kỳ năm trước.
Vận tải hàng hóa: Vận tải hàng hóa tháng Mười ước đạt 7,4 triệu tấn vận chuyển và 1.961 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 1,64% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 1,66% về tấn hàng hóa luân chuyển so với tháng trước và so với cùng kỳ năm trước lần lượt tăng 21,09% về tấn hàng hóa vận chuyển, tăng 14,89% về tấn hàng hóa luân chuyển; doanh thu vận tải hàng hóa ước đạt 1.922 tỷ đồng, tăng 1,65% so với tháng trước và tăng 16,63% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung mười tháng năm 2026, vận tải hàng hóa ước đạt 67,8 triệu tấn vận chuyển và 18.190 triệu tấn luân chuyển, lần lượt tăng 14,84% về tấn hàng hóa vận chuyển và 13,25% về tấn hàng hóa luân chuyển so với cùng kỳ năm trước; doanh thu vận tải hàng hóa mười tháng ước đạt 18.218 tỷ đồng, tăng 18,73% so cùng kỳ năm trước.
Hoạt động dịch vụ hỗ trợ vận tải: doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải tháng Mười ước đạt 203 tỷ đồng, tăng 0,11% so với tháng trước và tăng 23,63% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu dịch vụ hỗ trợ vận tải ước đạt 1.981 tỷ đồng, tăng 10,79% so với cùng kỳ năm trước.
Doanh thu bưu chính, chuyển phát tháng Mười ước đạt 26 tỷ đồng, tăng 1,60% so với tháng trước và tăng 1,37% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung mười tháng năm 2026, doanh thu bưu chính, chuyển phát ước đạt 241 tỷ đồng, tăng 23,93% so với cùng kỳ năm trước.
7. Hoạt động tài chính, ngân hàng, bảo hiểm
a) Thu ngân sách nhà nước
Thu ngân sách nhà nước tháng Mười ước đạt 4.934 tỷ đồng, giảm 19,46% so với tháng cùng kỳ năm 2025. Trong đó: thu nội địa 4.384 tỷ đồng, giảm 20,75%; thuế xuất nhập khẩu 550 tỷ đồng, giảm 7,45%. Ước tính các khoản thu trong tháng so với cùng kỳ năm trước như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 105 tỷ đồng, tăng 3,89%; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 251 tỷ đồng, giảm 60,42%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 757 tỷ đồng, giảm 58,72%; thu thuế thu nhập cá nhân 264 tỷ đồng, giảm 42,67%; các khoản thu về đất 2.695 tỷ đồng, tăng 28,21%;...
Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
tháng Mười và mười tháng năm 2026
T10.2026
(Tỷ đồng)
10T.2026
(Tỷ đồng)
T10.2026
T10.2025
(%)
10T.2026
10T.2025
(%)
Tổng số
4.934
57.618
80,54
74,85
Thu nội địa
4.384
51.516
79,25
71,77
Tr. đó: Thu từ đất
2.695
21.543
103,89
99,42
Thu Hải quan
550
6.102
39,58
103,88
Tính chung mười tháng năm 2026, thu ngân sách nhà nước ước đạt 57.618 tỷ đồng, giảm 25,15% so với cùng kỳ năm trước và đạt 68,39% kế hoạch năm. Trong đó: thu nội địa 51.516 tỷ đồng, giảm 28,23%; thuế xuất nhập khẩu 6.102 tỷ đồng, tăng 17,56%. Một số khoản thu nội địa ước tính như sau: thu từ doanh nghiệp nhà nước 1.109 tỷ đồng, giảm 0,58%; thu từ khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 3.835 tỷ đồng, tăng 3,88%; thu từ khu vực ngoài quốc doanh 19.161 tỷ đồng, tăng 11,89%; thu lệ phí trước bạ 1.389 tỷ đồng, giảm 2,36%; thuế thu nhập cá nhân 2.770 tỷ đồng, giảm 17,45%; các khoản thu về đất 21.543 tỷ đồng, giảm 57,17%.
b) Chi ngân sách nhà nước địa phương
Chi ngân sách nhà nước địa phương tháng Mười ước đạt 4.286 tỷ đồng, giảm 16,24% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 1.322 tỷ đồng, giảm 44,77%; chi thường xuyên 2.964 tỷ đồng, tăng 8,86%.
Tính chung mười tháng năm 2026, chi ngân sách nhà nước địa phương ước đạt 64.327 tỷ đồng, tăng 21,84% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó: chi đầu tư phát triển 40.207 tỷ đồng, tăng 30,58%; chi thường xuyên 24.120 tỷ đồng, tăng 9,61%. Một số lĩnh vực chi thường xuyên như sau: chi giáo dục, đào tạo 9.285 tỷ đồng, tăng 16,97%; chi sự nghiệp y tế 2.350 tỷ đồng, tăng 28,35%; chi sự nghiệp văn hóa, thể dục thể thao 276 tỷ đồng, giảm 26,23%; chi đảm bảo xã hội 5.249 tỷ đồng, tăng 99,11%; chi quản lý hành chính 4.262 tỷ đồng, giảm 37,32%.
c) Hoạt động ngân hàng
Trong tháng 10/2026, hệ thống các tổ chức tín dụng trên địa bàn tích cực thực hiện các biện pháp huy động vốn, thực hiện đổi mới và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng; đẩy mạnh công tác thông tin truyền thông, khai thác tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư. Ước tính đến 31/10/2026, nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đạt 358.700 tỷ đồng, tăng 15,97% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: tiền gửi 354.200 tỷ đồng, tăng 15,29% và chiếm 98,75% tổng nguồn vốn; phát hành giấy tờ có giá 4.500 tỷ đồng, tăng 115,52% và chiếm 1,25%. Cũng trong tháng qua, các Chi nhánh TCTD trên địa bàn đã đẩy mạnh hoạt động cho vay, gia tăng thêm lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế. Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế ước tính đến thời điểm 31/10/2026 đạt 287.000 tỷ đồng, tăng 8,34% so với thời điểm 31/12/2025. Trong đó: Dư nợ cho vay ngắn hạn 200.100 tỷ đồng, tăng 4,36%; dư nợ cho vay trung và dài hạn 86.900 tỷ đồng, tăng 18,78%. Dư nợ cho vay bằng nội tệ 277.300 tỷ đồng, tăng 7,26%; dư nợ cho vay bằng ngoại tệ 9.700 tỷ đồng, tăng 52,16%. Dư nợ tín dụng trong các lĩnh vực được ưu tiên đạt 188.850 tỷ đồng, tăng 8,76% so với thời điểm 31/12/2025. Chia theo lĩnh vực như sau: nông nghiệp, nông thôn 121.000 tỷ đồng, tăng 5,83%; xuất khẩu 1.725 tỷ đồng, tăng 6,48%; doanh nghiệp nhỏ và vừa 60.700 tỷ đồng, tăng 15,96%; công nghiệp hỗ trợ 5.425 tỷ đồng, tăng 1,59%.
Về chất lượng tín dụng: Nợ xấu đến thời điểm 31/10/2026 ước tính là 1.810 tỷ đồng (chiếm 0,63% dư nợ tín dụng), giảm 3,88% so với với thời điểm 31/12/2025.
d) Bảo hiểm xã hội
Lũy kế số người tham gia BHXH đến hết tháng 9/2026 là 688.721 người, tăng 7.673 người, tương ứng tăng 1,1% so với cùng kỳ năm trước; tăng 80.513 người, tương ứng tăng 13,2% so với năm 2025, đạt 100,2% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 104,6% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026. Tỷ lệ bao phủ BHXH khoảng 52,35% so với lực lượng lao động trong độ tuổi. Trong đó: số người tham gia BHXH bắt buộc 598.659 người, tăng 7.308 người (tăng 1,2%) so với tháng trước; tăng 71.004 người (tăng 13,5%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 52.363 người (tăng 9,6%) so với năm 2025, đạt 106,5% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 106% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 7/2026; số người tham gia BHXH tự nguyện là 90.062 người, tăng 365 người (tăng 0,4%) so với tháng trước; tăng 9.509 người (tăng 11,8%) so với cùng kỳ năm trước, giảm 973 người (giảm 1,1%) so với năm 2025, đạt 96,9% kế hoạch BHXH Việt Nam giao năm 2026, đạt 94,2% kế hoạch BHXH Việt Nam giao tháng 9/2026.
Lũy kế số người tham gia bảo hiểm thất nghiệp đến 30/9/2026 là 575.968 người, tăng 65.393 người (tăng 12,8%) so với cùng kỳ năm trước; tăng 47.704 người (tăng 9,0%) so với năm 2025, đạt 104,3% kế hoạch năm. Số người tham gia BHYT là 2.968.460 người, tăng 6.999 người (tăng 0,2%) so với tháng trước, tăng 153.426 người (tăng 5,5%) với cùng kỳ năm trước, tăng 44.894 người (tăng 1,5%) so với năm 2025.
Tổng số thu BHXH, BHYT, BHTN lũy kế đến hết tháng 9/2026 là 13.252 tỷ đồng, tăng 1.680 tỷ đồng (tăng 14,5%) so với tháng trước, tăng 1.908 tỷ đồng (tăng 16,8%) so với cùng kỳ năm trước, đạt 74,9% kế hoạch năm BHXH Việt Nam giao, đạt 104,8% kế hoạch giao tháng 9/2026. Chi BHXH trong tháng 9/2026 đạt 1.111 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 9/2026, chi BHXH 9.554 tỷ đồng. Trong đó: chi từ nguồn ngân sách nhà nước 2.559 tỷ đồng; chi từ nguồn quỹ BHXH 6.751 tỷ đồng. Chi trợ cấp thất nghiệp trong tháng 9/2026 là 28 tỷ đồng; lũy kế từ đầu năm đã chi 243 tỷ đồng.
Tổng chi phí khám chữa bệnh BHYT trong tháng 9/2026 là 331 tỷ đồng. Lũy kế từ đầu năm đến hết tháng 9/2026, chi phí khám chữa bệnh BHYT là 2.892 tỷ đồng, tăng 9,33% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: chi KCB ngoại trú 1.135 tỷ đồng; chi KCB nội trú 1.757 tỷ đồng.
II. MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI
1. Lao động việc làm và an sinh xã hội
Lao động việc làm: Trong tháng Mười, toàn tỉnh giải quyết việc làm 5.300 người, trong đó xuất khẩu lao động là 650 người. Trung tâm Dịch vụ việc làm Hưng Yên đã tham mưu giải quyết trợ cấp thất nghiệp cho 1.085 người; tư vấn giới thiệu việc làm cho 4.528 người. Xác nhận việc gửi bản cam kết của người lao động sang Đài Loan làm việc của Công ty Cổ phần Nhân Đạt - Kesa Group đối với 106 lao động. Tính chung mười tháng năm 2026, tổng số lao động được giải quyết việc làm là 51.720 người (đạt 86,2% kế hoạch năm), trong đó xuất khẩu lao động là 5.960 người. Thực hiện chính sách trợ cấp thất nghiệp cho 9.721 người. Tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 33.600 người.
Tiếp nhận, thẩm định và hướng dẫn cho trên 7.000 lượt doanh nghiệp gửi 3 hồ sơ thực hiện thủ tục hành chính. Trong đó: Cấp giấy phép lao động, xác nhận không thuộc diện cấp giấy phép lao động cho 4.327 người lao động nước ngoài làm việc tại tỉnh. Hướng dẫn 1.508 lượt doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ đề nghị cấp giấy phép lao động. Tiếp nhận và hướng dẫn, thông báo đăng ký nội quy lao động, thỏa ước lao động cho 500 lượt doanh nghiệp. Tiếp nhận 721 lượt doanh nghiệp khai báo sử dụng 4811 máy, thiết bị có yêu cầu nghiêm ngặt về ATLĐ. Tiếp nhận hồ sơ đăng ký kiểm tra nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hóa nhập khẩu của 55 lượt doanh nghiệp với 14.477 thiết bị. Tiếp nhận, hướng dẫn 119 doanh nghiệp thông báo tổ chức làm thêm từ trên 200 giờ đến 300 giờ trong năm.
Công tác Người có công: Từ đầu năm đến nay, công tác đền ơn đáp nghĩa và thực hiện chính sách ưu đãi người có công với cách mạng được triển khai đồng bộ, kịp thời, thiết thực và hiệu quả. Nhân dịp Tết Nguyên đán Bính Ngọ 2026 và kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2026), Chủ tịch nước đã tặng quà người có công trên địa bàn tỉnh với tổng kinh phí trên 64,75 tỷ đồng; quà của Tỉnh ủy - HĐND - UBND - Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh trên 217,43 tỷ đồng. Tổ chức 03 Đoàn đại biểu lãnh đạo tỉnh đi dâng hương, viếng các Nghĩa trang liệt sĩ quốc gia và các công trình ghi công liệt sĩ từ ngày 10/7/2026 đến ngày 19/7/2026, gồm: Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ quốc gia Đường 9 (tỉnh Quảng Trị), Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên (tỉnh Tuyên Quang) và các Nghĩa trang liệt sĩ trên địa bàn tỉnh Điện Biên. Tỉnh tổ chức các hoạt động đền ơn đáp nghĩa; hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát cho đối tượng chính sách; đón nhận, an táng hài cốt liệt sĩ. Toàn tỉnh thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Tổng số nghĩa trang liệt sĩ phải lấy mẫu là 153 nghĩa trang, với tổng số mộ cần lấy mẫu là 4.356 mộ. Tính đến ngày 07/9/2026, hoàn thành xong lấy mẫu 153/153 nghĩa trang liệt sĩ, đã khai quật lấy mẫu 4.356/4.356 mộ, lấy 3.737 mẫu hài cốt liệt sĩ (đảm bảo điều kiện lấy mẫu); đã bàn giao 100% số mẫu hài cốt liệt sĩ về Viện Pháp y Quân đội.
2. Hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch
a) Hoạt động văn hoá
Tỉnh tổ chức lớp truyền dạy nghệ thuật hát Trống quân tại xã Triệu Việt Vương; 02 lớp truyền dạy nghệ thuật hát Chèo tại phường Trần Lãm và phường Trần Hưng Đạo. Tổ chức Lễ hội chùa Keo mùa Thu năm 2026, trưng bày chuyên đề “Truyền thống hiếu học tỉnh Hưng Yên”, xuất bản sách về di tích; sưu tầm 20 hiện vật. Đón khoảng 20.000 lượt khách tại các di tích và 643 lượt khách tại Bảo tàng tỉnh. Tổ chức lớp tập huấn đạo diễn chương trình văn nghệ quần chúng phục vụ nhiệm vụ chính trị; hướng dẫn, tổ chức tuyên truyền lưu động bằng xe ô tô, loa phát thanh và hình ảnh trực quan trên địa bản tỉnh; ban hành Kế hoạch tổ chức Hội nghị truyền thông về phòng, chống ma túy gắn với xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Thôn, tổ dân phố văn hóa” năm 2026; tổ chức hội nghị triển khai xây dựng Mô hình phòng, chống bạo lực gia đình năm 2026. Tổ chức tổng kết và trao giải Cuộc thi Đại sứ Văn hóa đọc tỉnh Hưng Yên năm 2026; trưng bày, giới thiệu sách, báo, tài liệu tại Lễ phát động Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời tại Trường THPT Quang Trung, phường Sơn Nam. Tổ chức Thư viện lưu động hưởng ứng Tuần lễ học tập suốt đời năm 2026 tại các trường: Tiểu học Minh Thọ, phân hiệu Quỳnh Minh; Tiểu học A Sào phân hiệu An Hiệp, xã A Sào; Tiểu học Đường Hào số 1, trường Tiểu học Tiên Hoa, phân hiệu Cương Chính.
Về nghệ thuật biểu diễn và văn học: Tỉnh tổ chức 17 buổi biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân trong và ngoài tỉnh.
Về điện ảnh: Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh tổ chức 80 buổi chiếu phim (20 buổi lưu động, 60 buổi tại Rạp) phục vụ nhiệm vụ chính trị và nhu cầu giải trí của Nhân dân.
Về mỹ thuật, nhiếp ảnh và triển lãm: Hoàn thiện nội dung, maket, danh mục tư liệu, hình ảnh, trang thiết bị, tài liệu, sản phẩm phục vụ Triển lãm “Lê Quý Đôn - Trí tuệ bách khoa từ mạch nguồn văn hiến Hưng Yên” tại Cộng hòa Pháp.
b) Hoạt động thể dục thể thao
Thể dục thể thao cho mọi người: Tỉnh tổ chức Lễ phát động “Mỗi người dân lựa chọn ít nhất một môn thể thao phù hợp để tập luyện thường xuyên” tỉnh Hưng Yên năm 2026. Tổ chức giải Lân Sư Rồng tỉnh Hưng Yên mở rộng năm 2026. Tham gia giải Bóng chuyền hơi, Cầu lông, Cờ tướng trung cao tuổi quần chúng toàn quốc năm 2026. Ban hành Điều lệ giải Shuffe Dan, giải Khiêu vũ thể thao.
Thể thao thành tích cao và thể thao chuyên nghiệp: Đoàn thể thao của tỉnh đã tham dự 02 giải thể thao quốc gia, 02 giải quốc tế, đạt 35 huy chương gồm 06 HCV, 09 HCB, 20 HCĐ. Giải Sambo quốc gia đạt 05 HCV, 08 HCB, 12 HCĐ; giải Kickboxing quốc gia đạt 01 HCB, 05 HCĐ. Tại ASIAD 20, vận động viên Hà Thị Vui và Phạm Thị Bích Ngọc giành 02 HCĐ môn Rowing. Tại giải Pencak Silat Đông Nam Á, Nguyễn Thị Thảo giành 01 HCV, Nguyễn Thị Mỹ Dung giành 01 HCĐ.
c) Hoạt động du lịch
Tháng Mười, tỉnh ước đón 305.000 lượt khách, trong đó khoảng 6.300 lượt khách quốc tế; doanh thu du lịch ước đạt trên 115 tỷ đồng. Cấp 02 thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế; kiểm tra cơ sở kinh doanh du lịch tại phường Trần Hưng Đạo và Thái Bình; công nhận cơ sở lưu trú Phương Anh đạt 3 sao. Tăng cường quảng bá sản phẩm OCOP trên Cổng thông tin Du lịch; phối hợp khảo sát, định hướng quản lý và phát triển sản phẩm du lịch tại khu vực “Biển Vô Cực”.
3. Giáo dục, đào tạo
Năm học 2026-2027, trên địa bàn tỉnh có 526 cơ sở giáo dục (454 điểm trường) với 7.401 lớp và 245.367 học sinh. Trong đó: giáo dục mầm non có 133 trường công lập (313 điểm trường), 56 trường tư thục, 7.000 nhóm/lớp, 138.725 trẻ; giáo dục phổ thông có 300 trường công lập (141 điểm trường), 27 trường tư thục, 15.649 lớp với 586.374 học sinh, (trong đó giáo dục tiểu học có 7.401 lớp, 245.367 học sinh, Giáo dục THCS có 5.624 lớp, 226.721 học sinh; Giáo dục THPT có 2.624 lớp, 114.286 học sinh); Giáo dục thường xuyên có 10 trung tâm, 421 lớp, 19.346 học viên...
Hiện tại, tổng số cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, giáo viên, nhân viên các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh (công lập và tư thục) có 45.093 người, gồm 2.219 cán bộ quản lý, 39.159 giáo viên và 3.715 nhân viên. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục: Mầm non đạt chuẩn trở lên đạt 99,6% (trên chuẩn 69,5%); Tiểu học đạt chuẩn trở lên đạt 91,8% (trên chuẩn 0,7%); Trung học cơ sở đạt chuẩn trở lên đạt 95,9% (trên chuẩn 2,7%); THPT đạt chuẩn trở lên đạt 100% (trên chuẩn 26%); GDTX đạt chuẩn 100% (trên chuẩn 10%).
Toàn tỉnh hiện có 16.482 phòng học (trong đó 15.945 phòng kiên cố, đạt tỷ lệ 96,7%; 1.648 phòng học tạm hoặc xuống cấp), 3.016 phòng học bộ môn và 822 thư viện. Các cơ sở giáo dục đã thực hiện tốt công tác thư viện trường học, bảo đảm đủ sách giáo khoa, sách nghiệp vụ và tài liệu tham khảo cho giáo viên và học sinh.
Toàn tỉnh triển khai hiệu quả Tuần lễ hưởng ứng học tập suốt đời năm 2026 (từ ngày 01-07/10/2026) với chủ đề “Thực học, thực hành, làm chủ công nghệ số và trí tuệ nhân tạo để xây dựng xã hội học tập, đẩy mạnh học tập suốt đời”.
4. Hoạt động y tế
Công tác phòng, chống dịch bệnh tiếp tục được duy trì và triển khai đồng bộ, trong đó chú trọng tăng cường các hoạt động truyền thông, giám sát và chủ động ứng phó dịch bệnh. Trên địa bàn tỉnh đã thực hiện hiệu quả công tác phòng, chống các bệnh truyền nhiễm trong mùa Thu; đồng thời triển khai đồng bộ các giải pháp phòng, chống bệnh truyền nhiễm khác theo đúng quy định chuyên môn.
Trong tháng, không ghi nhận bệnh dịch lớn, nguy hiểm xảy ra trên địa bàn. Không ghi nhận ca bệnh truyền nhiễm lạ. Các ổ dịch được giám sát và xử lý kịp thời, hạn chế tối đa ca mắc và tử vong tại cộng đồng. Trong tháng 10: Tay chân miệng 263 ca; SXH 111 ca; Sởi 03 ca; Covid 13 ca; Lao phổi 58 ca; VGB 34 ca; Bệnh do Adeno vi-rút 53 ca; Cúm 1.731 ca; Quai bị 06; Thủy đậu 10 ca; Tiêu chảy do Rota vi-rút 14 ca; VGC 05 ca. Trong tháng ghi nhận 175 ca mắc sốt xuất huyết, 96 ca nội sinh; lũy tích từ đầu năm là 462 ca, 262 ca nội sinh. Các chùm ca bệnh, ổ dịch được phát hiện và xử lý kịp thời theo quy định. Trong tháng không ghi nhận ca bệnh, ổ dịch sốt rét. Lũy tích từ đầu năm ghi nhận 02 ca. Không ghi nhận ổ dịch do ký sinh trùng, côn trùng. Duy trì truyền thông tại cộng đồng về vệ sinh môi trường, ăn chín uống sôi, phòng chống muỗi và côn trùng truyền bệnh.
Toàn tỉnh bảo đảm y tế cho các sự kiện lớn trên địa bàn: Vòng Khu vực miền Bắc Cuộc thi Sáng tạo Robotics toàn quốc lần thứ VI, Lễ hội chùa Keo mùa Thu năm 2026, Lễ công bố Quyết định và đón Bằng công nhận Trường Chính trị Nguyễn Văn Linh đạt chuẩn mức 1, Hội nghị công bố quy hoạch tỉnh Hưng Yên thời kỳ 2021-2030.
Tình hình dịch HIV/AIDS: Hệ thống giám sát, đánh giá chương trình HIV/AIDS được triển khai đồng bộ. Trong tháng, toàn tỉnh không phát hiện ca nhiễm HIV mới (số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 3.576 người thuộc 104/104 xã, phường), không có người nhiễm HIV tử vong được báo cáo; có 2.303 bệnh nhân hiện đang điều trị ARV tại 11 phòng OPC trên địa bàn tỉnh, 98% bệnh nhân nhiễm HIV điều trị có thẻ BHYT. Hoạt động điều trị nghiện chất: Tổng số bệnh nhân điều trị Methadone tính đến 15/10/2026 là 1.413 người. Trong đó, cơ sở điều trị và điểm cấp phát trên điạ bàn phía Nam của tỉnh là 985 người, phía Bắc của tỉnh là 428 người.
5. Công tác vi phạm môi trường; phòng chống cháy, nổ
Từ ngày 15/9/2026 đến ngày 14/10/2026, toàn tỉnh đã phát hiện 61 vụ vi phạm môi trường, đã xử lý 61 vụ với số tiền xử phạt 1.210 triệu đồng. So với tháng trước, số vụ vi phạm đã phát hiện tăng 30 vụ (tăng 96,77%); số vụ vi phạm đã xử lý tăng 30 vụ (tăng 96,77%); số tiền xử phạt tăng 1.014,90 triệu đồng (tăng 520,19%). So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm đã phát hiện tăng 44 vụ (tăng 258,82%); số vụ vi phạm đã xử lý tăng 50 vụ (tăng 454,55%); số tiền xử phạt tăng 176 triệu (tăng 17,02%). Lũy kế mười tháng (tính từ ngày 15/12/2025 đến 14/10/2026), toàn tỉnh đã phát hiện 176 vụ vi phạm, đã xử lý 188 vụ vi phạm môi trường với số tiền xử phạt là 6.095,62 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ vi phạm môi trường tăng 22 vụ, tăng 14,29%; số vụ xử lý tăng 86 vụ, tăng 84,31%; số tiền xử phạt giảm 305,8 triệu đồng, giảm 4,78%.
Theo số liệu của Công an tỉnh, từ ngày 15/9/2026 đến ngày 14/10/2026, trên địa bàn tỉnh Hưng Yên đã xảy ra 02 vụ cháy, không có vụ nổ (phường Phố Hiến 01 vụ, xã Ân Thi 01 vụ); không xảy ra thiệt hại về người; giá trị thiệt hại về tài sản 7,3 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, tổng số vụ cháy, nổ giảm 03 vụ, tương ứng giảm 60,0%. Tính chung mười tháng năm 2026 (tính từ ngày 15/12/2025 đến ngày 14/10/2026), toàn tỉnh xảy ra 35 vụ cháy, nổ; làm chết 02 người; làm bị thương 03 người; giá trị thiệt hại về tài sản 4.228,8 triệu đồng. So với cùng kỳ năm trước, số vụ cháy, nổ tăng 03 vụ, tăng 9,38%; số người chết giảm 05 người, giảm 71,43%; số người bị thương giảm 06 người, giảm 66,67%.
6. An toàn giao thông
Từ ngày 15/9/2026 đến 14/10/2026, toàn tỉnh xảy ra 39 vụ tai nạn giao thông (đường bộ), làm chết 26 người; làm bị thương 25 người. So với tháng trước, số vụ tai nạn tăng 09 vụ, tăng 30,0%; số người chết tăng 06 người, tăng 30,0%; số người bị thương tăng 10 người, tăng 66,67%. So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 18 vụ, giảm 31,58%; số người chết giảm 09 người, giảm 25,71%; số người bị thương giảm 14 người, giảm 35,90%. Lũy kế mười tháng năm 2026 (từ ngày 15/12/2025 đến 14/10/2026), toàn tỉnh xảy ra 380 vụ tai nạn giao thông (đường bộ 377 vụ, đường sắt 01 vụ, đường thủy 02 vụ), làm chết 256 người (đường bộ 255 người, đường sắt 01 người), làm bị thương 209 người (đường bộ). So với cùng kỳ năm 2025, số vụ tai nạn giảm 104 vụ, giảm 21,49%; số người chết giảm 29 người, giảm 10,18%; số người bị thương giảm 105 người, giảm 33,44%. Trên địa bàn tỉnh không xảy ra vụ tai nạn giao thông đặc biệt nghiêm trọng./.
Trên đây là báo cáo tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh Hưng Yên tháng Mười và mười tháng năm 2026, Thống kê tỉnh trân trọng báo cáo Cục Thống kê./.
Tin khác